tiểu luận hoạt động ngân hàng trong môi trường cạnh tranh tại ngân hàng thương mại cổ phần tiên phong - Pdf 13

Trang 1
/
28 Tiểu luận
Hoạt động ngân hàng trong môi trường cạnh tranh
tại ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong

Trang 2
/
28
MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU 4
Phần I GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG T HƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG 5
1. Giới thiệu chung 5
2. Sản phẩm dịch vụ chính của TienPhongBank 6
a. Khách hàng cá nhân 6
b. Khách hàng doanh nghiệp 6
c. Thị trường vốn 6
Phần II CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG 7
1. Các loại thị trường 7
a. Cạnh tranh hoàn hảo 7

PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 4
/
28

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập như hiện nay, sự cạnh tranh của một số ngành
đang trở nên rất gay gắt, một trong các ngành ấy là ngân hàng. Thời gian gần đây, không ít ý
kiến cho rằng số lượng ngân hàng tại Việt Nam là quá nhiều, “ra đến ngõ là gặp ngân hàng”.
Điều đó càng khẳng định tính gay gắt trong cạnh tranh giữa các ngân hàng. Do đó có ý kiến cho
rằng các ngân hàng muốn thành công hơn trong việc đạt được và cải thiện các mục tiêu kinh tế
của mình thì cần biết rõ thị trường hoặc cấu trúc ngành và các lực đẩy cạnh tranh, cũng như ứng
dụng các chiến lược cạnh tranh phù hợp vào hoạt động của mình.
Để nghiên cứu kỹ hơn về hoạt động của một ngân hàng trong môi trường cạnh tranh cao
và đang là vấn đề thời sự hiện nay thì nhóm 4 (nhóm 8G) chọn ngân hàng thương mại cổ phần
Tiên Phong để làm rõ vấn đề.
Với đề tài này, nhóm 4 cũng kỳ vọng nhấn mạnh hơn hiệu quả của Kinh tế Quản lý là cơ
bản và cần thiết cho các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp sản xuất hay các doanh nghiệp
cung ứng dịch vụ.
Trong quá trình phân tích sẽ không tránh khỏi các thiếu sót, nên nhóm 4 rất mong nhận
được đóng góp của các thành viên lớp học và đặc biệt là ý kiến chuyên môn của Giảng viên,
Tiến Sĩ Đào Thị Bích Thủy để để tài được hoàn thiện hơn.

Trang 5
/
28

 Tầm nhìn
TienPhongBank mong muốn trở thành ngân hàng thơng mại hàng đầu Việt Nam, có nền
tảng hoạt động bền vững, luôn tạo ra cơ hội và điều kiện tốt nhất để khách hàng, cổ đông, và cán
bộ nhân viên đạt đợc ớc mơ về một cuộc sống tài chính hiệu quả và giản đơn.
Trang 6
/
28

2. Sản phẩm dịch vụ chính của TienPhongBank
a. Khách hàng cá nhân
TienPhongBank cung cấp các dịch vụ cho khách hàng cá nhân một cách toàn diện, bao gồm
dịch vụ tài khoản, tiết kiệm, cho vay, kiều hối,… với khả năng sử dụng linh hoạt, thích hợp với
các nhu cầu và điều kiện khác nhau của từng khách hàng.
b. Khách hàng doanh nghiệp
Các khách hàng doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, và kinh doanh cá thể được cung cấp những
dịch vụ dành riêng cho nhu cầu đặc thù của từng loại hình, với những gói dịch vụ nâng cao hiệu
quả kinh doanh cho doanh nghiệp như thu/chi tiền hộ, thực hiện giao dịch tại văn phòng khách
hàng, giao dịch qua internet với bất kỳ thời gian nào.
c. Thị trường vốn
Nhắm tới sự phát triển vững chắc cho ngân hàng thông qua việc đầu tư vào giao dịch ngoại
hối, tiền tệ, chứng khoán và các sản phẩm phái sinh.

Trang 7
/
28

Phần II
CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG

1. Các loại thị trường

d. Độc quyền nhóm

Mô hình đường cầu gấp khúc
– Trong độc quyền nhóm, có một số ít các hãng lớn trong ngành. Tuy nhiên, sản phẩm hoặc
có sự đồng nhất hoặc có sự khác biệt hóa.
Trang 9
/
28

– Có sự phụ thuộc lẫn nhau cao: Quyết định của một hãng có ảnh hưởng tới quyết định của
các hãng khác và ngược lại.
– Mỗi hãng nắm một số quyền lực thị trường.
– Có rào cản đáng kể cho việc gia nhập ngành.

2. Cấu trúc thị trường
a. Đặc điểm về thị trường
 Quy mô và năng lực tài chính
Thị trường ngân hàng có sự phân hóa rõ nét giữa các khối ngân hàng: Hiện có khoảng 80
ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam bao gồm 5 ngân hàng thương mại quốc doanh, 39 ngân
hàng thương mại cổ phần, 33 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 5 ngân hàng liên doanh. Giữa
các nhóm ngân hàng này có sự phân hóa rõ nét về quy mô, thị phần, đối tượng khách hàng cũng
như chiến lược phát triển.
Quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Việt Nam trong những năm qua đã có
sự tăng trưởng mạnh tuy nhiên còn thấp hơn nhiều so với mức trung bình trong khu vực. Khối
ngân hàng Thương mại Quốc doanh có quy mô vượt trội, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng chậm hơn
so với khối ngân hàng Thương mại Cổ phần.

Biểu đồ tăng trưởng tổng tài sản năm 2007 (ĐVT: 1000 tỷ VND)

Biểu đồ tăng trưởng vốn điều lệ năm 2007 (ĐVT: 1000 tỷ VND)

/
28

phải chịu quy định hạn chế đối với việc huy động vốn bằng đồng VND từ khách hàng cá nhân,
khả năng mở rộng thị phần bị hạn chế.
 Mạng lưới hoạt động
Hệ thống mạng lưới của các ngân hàng Thương mại Quốc doanh đã được phát triển từ lâu và
bao phủ khắp trên cả nước. Đặc biệt là hệ thống chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn có mặt đến từng xã trên các địa bàn. Cùng với thương hiệu lớn, hệ thống mạng
lưới của các ngân hàng Thương mại Quốc doanh đã giúp các ngân hàng này duy trì thị phần chi
phối trên các mảng hoạt động chính như huy động vốn và tín dụng trong thời gian qua. Bảng so sánh số lượng chi nhánh của một số ngân hàng năm 2007
Các ngân hàng Thương mại Cổ phần đang nỗ lực trong việc mở rộng mạng lưới, đặc biệt là
các ngân hàng đứng đầu như ACB, STB, TCB,… Tốc độ phát triển mạng lưới của các ngân
hàng này rất nhanh và có trọng điểm. Mạng lưới của các ngân hàng Thương mại Cổ phần tập
trung chủ yếu tại các thành phố lớn, các khu đô thị có mức sống cao do đó các chi nhánh này
thường có hiệu quả tốt ngay từ khi đi vào hoạt động.
 Có sự phụ thuộc lẫn nhau cao
Ngân hàng được xem là lĩnh vực kinh doanh mang lại lợi nhuận cao, nhưng cũng hết sức
nhạy cảm. Sự sụp đổ của một ngân hàng thương mại có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền kéo
theo sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng và tác động mạnh đến sự ổn định của nền kinh tế.
Đặc điểm dễ nhận thấy rằng nguồn vốn hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại
Việt Nam là nặng về huy động vốn từ trong dân cư. Nếu để phá sản một ngân hàng, người dân
gửi tiền vào ngân hàng đó sẽ phải gánh chịu hậu quả, kèm theo nhiều vấn đề xã hội phức tạp.
Ngoài ra, nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng với các hệ quả dây chuyền, thậm chí “sinh
mệnh” các ngân hàng khác cũng có nguy cơ bị đe dọa nếu dân chúng mất lòng tin, đồng loạt đi
rút tiền. Do đó, Ngân hàng Nhà nước phải gánh trọng trách là “người cho vay cuối cùng” nhằm
mục đích quản lý, duy trì sự bình ổn của hệ thống ngân hàng và sự bình ổn của cả nền kinh tế.

và khách hàng, nhưng dưới sự hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ. Việc định giá
cho sản phẩm của ngân hàng tùy thuộc vào khả năng nắm bắt quy luật biến động giá cả của tiền
tệ. Tuy vậy, trong lĩnh vực ngân hàng, thời gian để thực hiện chu trình sản phẩm của ngân hàng
thường không ngắn. Do đó, rủi ro sẽ rất cao (tỷ lệ thuận với thời gian thực hiện nghiệp vụ) khi
giá cả biến động đột ngột, ngân hàng không thể kịp thời điều chỉnh, nhất là đối với các nghiệp
vụ kinh doanh tiền tệ hay cho vay với giá cả hoặc lãi suất ấn định ngay từ thời điểm thực hiện
nghiệp vụ.
Trang 13
/
28

Hầu hết các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng đều có tính năng tương tự như nhau.
Trong thời gian tới, khi cạnh tranh ngày càng tăng và điều kiện sản phẩm mang tính tương đồng
và dễ bắt chước, do vậy các ngân hàng cung cấp dịch vụ cần phải có được sự tinh tế trong nhận
biết nhu cầu để mang lại tiện ích dù nhỏ nhưng rất thiết thực, ví dụ như phát huy lợi thế của thẻ
liên kết để phát hiện nhu cầu mới về dịch vụ thẻ cũng như các dịch vụ liên quan khác để tạo
điều kiện khác biệt hóa sản phẩm.
Hiện nay, sản phẩm dịch vụ tài chính của các ngân hàng trong nước còn mang tính truyền
thống, nghèo nàn về chủng loại, chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa định
hướng theo nhu cầu khách hàng; Các ngân hàng cần phải có sự phát triển đồng bộ từ sản phẩm
tiện ích và qua đó đưa ra mức phí hợp lý, tránh để tình trạng khách hàng coi thường dịch vụ
cung cấp.
 Sự thuận tiện về địa điểm, điều kiện giao dịch, tính năng tiện ích của sản phẩm
Tiện ích của sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung ứng cho khách hàng cao, thì giá trị sản phẩm
dịch vụ của ngân hàng lớn, thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng. Tuy nhiên, mỗi khách hàng
xem xét đánh giá giá trị sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng rất khác nhau, tùy thuộc mức độ
thỏa mãn nhu cầu theo đặc điểm riêng của khách hàng, mức độ nhanh chóng, chính xác, dễ dàng
khi giao dịch; mức phí nghiệp vụ tùy theo sự chấp nhận của mỗi khách hàng, v.v…
Do cải cách căn bản các kênh phân phối theo chiều sâu bên cạnh việc vẫn tiếp tục mở rộng
“vùng phủ sóng” các chi nhánh của các ngân hàng Thương mại đã tạo được sự thuận tiện cho

là những tiêu chí hoạt động mà các tổ chức tín dụng nước ngoài quan tâm. Đây cũng là một
trong những thách thức đối với NHTM trong nước.
Khách hàng rất quan tâm đến giá trị và tính hấp dẫn của quà tặng khi gửi tiền tiết kiệm. Bên
cạnh đó, lãi suất (hay còn gọi là giá) của sản phẩm hợp lý cũng là một yếu tố khiến khách hàng
quan tâm.
Do sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng quá tương đồng nên có sự cạnh tranh về giá gay
gắt, trong đó hầu hết các ngân hàng đều miễn giảm phí phí dịch vụ và tạo thêm nhiều tiện ích
cho khách hàng. Ngoài ra, phong cách phục vụ tận tình, thân thiện và mang tính chuyên nghiệp
của nhân viên ngân hàng sẽ góp phần tăng trưởng số lượng khách hàng và doanh số sản phẩm
dịch vụ ngày một nhiều hơn.
c. Đặc tính cạnh tranh của ngành ngân hàng
 Tiền gửi khách hàng thiếu ổn định và thường trong ngắn hạn
Gần 80% nguồn huy động của ngân hàng là từ tiền gửi khách hàng bao gồm khách hàng cá
nhân và khách hàng doanh nghiệp. Chiếm 20% trong tiền gửi khách hàng là nhóm tiền huy động
từ dân, nhóm này không có tính ổn định cao do độ co giãn về cầu gửi tiền của họ rất lớn. Một
người gửi tiền hưởng lãi hoàn toàn có thể rút tiền từ ngân hàng này và gửi vào một ngân hàng
khác khi có chênh lệch lãi suất tiền gửi thậm chí là rất thấp.
Khối doanh nghiệp (80% huy động khách hàng) có tính ổn định hơn song tiền huy động từ
doanh nghiệp thường là tiền mặt dư thừa trong ngắn hạn. Điều này gây khó khăn không ít trong
việc dự báo và cân bằng thanh khoản của các ngân hàng thương mại.
Trang 15
/
28

Ngoài ra, luồng tiền còn có thể phân tán vào các mảng đầu tư khác như thị trường chứng
khoán, bất động sản, bảo hiểm hay các quỹ đầu tư. Do vậy, tuy cá nhân gửi tiền không có khả
năng đàm phán lãi suất tiền gửi với ngân hàng song ngân hàng vẫn phải đưa ra biểu lãi suất cạnh
tranh để thu hút tiền gửi.
 Áp lực từ khách hàng khá lớn
Mảng tín dụng khách hàng cá nhân phát triển chưa mạnh, khoảng 90% tín dụng là từ các


Phần III
PHÂN TÍCH CUNG – CẦU DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

1. Nhu cầu về dịch vụ ngân hàng
Cầu dịch vụ ngân hàng thông thường chịu ảnh hưởng lớn của tăng trưởng kinh tế hiện tại và
triển vọng trong thời gian tới. Do đó, cầu dịch vụ ngân hàng sẽ được đánh giá thông qua các
phân tích về tăng trưởng kinh tế hiện tại và triển vọng tăng trưởng tương lai với các nhân tố dẫn
truyền tác động bao gồm lượng vốn đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh, tình hình xuất nhập
khẩu, thu nhập bình quân đầu người. Các phân tích dưới đây sẽ được nhìn từ góc độ khả năng
tăng trưởng nội tại của Việt Nam và tác động từ chuyển động của nền kinh tế toàn cầu.
a. Tổng quan chung về tăng trưởng kinh tế
Bước ra khỏi cơn lốc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng như nhiều nền kinh tế
mới nổi khác, đã có những phục hồi đáng kể, chung bước với đà phục hồi của nền kinh tế toàn
cầu. Số liệu thống kê sơ bộ về tình hình kinh tế năm 2010 cho thấy, đúng như dự kiến, năm 2010
Việt Nam đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng khá nhanh.
GDP cả nước năm 2010 đạt 6,78%, cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đặt ra (6,5%). Chính phủ đặt mục
tiêu tăng trưởng giai đoạn 2011 - 2015 là 7- 8%/năm, phù hợp với nhận định chung của các
nguồn dự báo về khả năng tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn 5 năm tới. Tỷ lệ hộ nghèo
theo chuẩn mực mới bình quân giảm 2 -3%/năm.
Tuy nhiên, cũng giống như nhiều nước khác sau khi triển khai các gói hỗ trợ kinh tế và kích
cầu, Việt Nam đang phải đối mặt với lạm phát gia tăng ở mức cao. Theo công bố của Tổng cục
Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 so với tháng 12/2009 tăng 11,75%. Chỉ số giá tiêu
dùng bình quân năm 2010 tăng 9,19% so với bình quân năm 2009. Đây là một trong những chỉ
số lạm phát cao nhất trong vùng Đông Á - Thái Bình Dương. Năm 2010 cũng là năm kinh tế Việt
Nam phải đối mặt với các rủi ro kinh tế vĩ mô và rủi ro chính sách trong và ngoài nước. Giá vàng
biến động mạnh, tỷ giá liên tục chịu sức ép, căng thẳng cung cầu ngoại tệ và những thay đổi
chính sách đột ngột hoặc trái chiều đã làm nhiều nhà phân tích lo ngại. Năm 2010 cũng là năm
Việt Nam bị đánh tụt hạng tín nhiệm quốc gia, các ngân hàng Việt Nam có xếp hạng quốc tế
cũng không tránh khỏi ảnh hưởng tương tự. Hỗ trợ chính phủ tăng, thâm hụt ngân sách tuy có

Mặc dù đã thoát khỏi nhóm các nước nghèo, thu nhập bình quân theo đầu người của Việt
Nam vẫn nằm ở mức thấp nếu so với các nước láng giềng như Philippines, Indonesia, Trung
Quốc, Thái Lan, Malaysia. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đạt ngưỡng thoát
nghèo và vẫn còn hơn 10% các hộ gia đình (khoảng 1/3 dân số) Việt Nam hiện đang sống dưới
ngưỡng nghèo.
Khi mức thu nhập bình quân tăng, số người thu nhập trung bình và thu nhập cao gia tăng, cầu
dịch vụ ngân hàng tất yếu sẽ tăng nhưng điều đó không có nghĩa là những người nghèo và thu
nhập thấp không có cầu về dịch vụ ngân hàng. Vấn đề nằm ở chỗ là những nhu cầu đó có được
đáp ứng hay không và đáp ứng như thế nào.
e. Cầu dịch vụ ngân hàng và khoảng cách dịch vụ hiện nay
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng cầu dịch vụ ngân hàng năm 2011 chắc chắn
sẽ tăng nhưng mức tăng có thể không mạnh nếu tình hình kinh tế vĩ mô vẫn tiếp tục như năm
Trang 18
/
28

2010 (lãi suất tăng cao, bất ổn chính sách, thị trường chứng khoán trầm lắng, và thị trường bất
động sản đang ở mức giá rất cao).
Cầu đối với các dịch vụ ngân hàng phức hợp và hiện đại sẽ gia tăng, đòi hỏi hệ thống các tổ
chức tín dụng không chỉ phát triển về số lượng mà cần phải phát triển về chiều sâu để có thể
cung ứng ra thị trường những sản phẩm phù hợp hơn. Với những biến động của kinh tế toàn cầu
và các rủi ro vĩ mô cũng như bất ổn về tỷ giá, khách hàng sẽ quan tâm nhiều hơn đến các sản
phẩm phái sinh mang tính phòng ngừa và chia sẻ rủi ro. Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục tăng
trưởng tốt sẽ đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải cân nhắc đến việc mở rộng hoạt động ra ngoài
lãnh thổ Việt Nam và thiết kế được những sản phẩm thích ứng với từng loại hàng hoá/dịch vụ và
thị trường xuất nhập khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, Trung Quốc, ASEAN, Nhật Bản cũng
như các thị trường mà Việt Nam đang bước đầu tiếp cận và khai thác (châu Phi).
Hệ thống các tổ chức tín dụng không những cần phát triển để đáp ứng cầu dịch vụ ngân hàng
gia tăng mà còn để đáp ứng cả những khoảng trống đang được bỏ lại trên thị trường hiện nay.
Đầu tiên, khoảng trống dịch vụ ngân hàng cá nhân. Hiện tại, hoạt động tín dụng đối với

tiên phong trong việc phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại nhưng do mới
được cấp phép thành lập và đi vào hoạt động (năm 2008, 2009) nên hiện tại các ngân hàng này
chưa có lợi thế so với các ngân hàng thương mại trong nước (vấn đề hiểu biết thị trường và mạng
lưới hoạt động), do đó, trong ngắn hạn, tỷ trọng thu lớn nhất của khối này vẫn là từ hoạt động tín
dụng và kinh doanh ngoại hối.
Khả năng cung ứng dịch vụ ngân hàng hiện đại và dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng công
ty đa quốc gia còn hạn chế. Do hạn chế về năng lực tài chính và khả năng công nghệ, việc phát
triển loại hình dịch vụ này của các tổ chức tín dụng trong nước vẫn còn hạn chế. Tuy đã có sự cải
thiện đáng kể, song các dịch vụ ngân hàng hiện chưa đồng bộ, vẫn đơn điệu, nghèo nàn, chất
lượng thấp, không vận hành theo định hướng nhu cầu của khách hàng, nhiều dịch vụ quan trọng
chưa được triển khai hoặc đã được triển khai nhưng chưa xứng với tiềm năng, đặc biệt là các
dịch vụ bán lẻ như tài khoản, séc, thẻ, thanh toán cá nhân, quản lý tài sản, tín dụng tiêu dùng
Các ngân hàng thương mại trong nước dù đã có nhiều thay đổi về quản trị, điều hành nhưng đến
nay vẫn chưa có bước đột phá lớn về sản phẩm, dịch vụ cũng như hình thức cung ứng sản phẩm,
dịch vụ. Trong tương lai ngắn, cho dù có chuyển biến về khách hàng mục tiêu và chiến lược hoạt
động, các ngân hàng này cũng chưa thể chuyển mình để đáp ứng ngay những khoảng trống nêu
trên.
Trong khi đó, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài vẫn tiếp tục là lực lượng chủ yếu trong
việc cung ứng các sản phẩm mới, dịch vụ ngân hàng phục vụ nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam. Khối các ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài - khối ngân
hàng hiện đang từng bước khẳng định vị trí trên thị trường Việt Nam, từng bước thu hút, chiếm
lĩnh thị phần đối với đối tượng khách hàng cá nhân thu nhập cao - đang thể hiện tiềm năng lớn
trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại so với các loại hình ngân hàng khác. Tỷ trọng
doanh thu từ dịch vụ khách hàng cá nhân thu nhập cao của khối này trong năm 2010 chiếm trên
50% tổng doanh thu của khối. Trong tương lai, về dài hạn, với bề dày kinh nghiệm hoạt động
ngân hàng, tiềm lực về tài chính, năng lực quản trị, điều hành, quản lý rủi ro và công nghệ hiện
đại, khả năng cung ứng dịch vụ và mở rộng thị phần của khối ngân hàng 100% vốn nước ngoài là
rất lớn. Do đó, trong ngắn hạn, khoảng cầu về các sản phẩm hiện đại, dịch vụ ngân hàng phục vụ
đối tượng các công ty đa quốc gia sẽ phải do khối tổ chức tín dụng nước ngoài đáp ứng là chủ
yếu.

28

Phần IV
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CỦA TIENPHONGBANK

1. Kết quả hoạt động của TienPhongBank
Vì TienPhongBank mới đi vào hoạt động từ tháng 05/2008 nên chúng tôi thống kê kết quả
hoạt động của TienPhongBank với chu kỳ là 06 tháng, trong đó H1 là 06 tháng đầu năm và H2 là
06 tháng cuối năm. Kết quả như bảng sau:
Chỉ tiêu
H2
2008
H1
2009
H2
2009
H1
2010
H2
2010
H1
2011
T
ổng doanh thu

120,
538123,

108,
145

158,
625

T
ổng lợi nhuận tr
ư
ớc thuế

67,
376

65,
885

98,
828

118
,
080144
,
319
48% và Tổng lợi nhuận sau thuế năm 2010 tăng so với năm 2009 là 33,653 tỷ đồng, tương ứng
với 26%. Điều này chứng tỏ TienPhongBank đã có những nỗ lực đáng kể trong các hoạt động
kinh doanh của mình.
2. Dự báo doanh thu 06 tháng cuối năm 2011
Do đặc thù của ngành ngân hàng là cung cấp các dịch vụ tài chính và thời gian có hạn, nên
chúng tôi chưa thực hiện được các ước lượng về cầu và ước lượng hàm chi phí cũng như ước
lượng hàm sản xuất, mà chúng tôi thực hiện dự báo sự phát triển về doanh thu để có thể xác định
các chiến lược phù hợp.
Sử dụng dữ liệu từ bảng kết quả hoạt động ở trên, chúng tôi có được biểu đồ tăng trưởng về
doanh thu của TienPhongBank như sau:
Trang 22
/
28 Biểu đồ tăng trưởng doanh thu của TienPhongBank từ 2008 – 2011 (ĐVT: tỷ đồng)
Áp dụng kỹ thuật dự phóng với tốc độ tăng trưởng kép cố định:
 = ( 

)
 ⁄
− 1
Trong đó:
B: Doanh thu 06 tháng đầu năm 2011
E: Doanh thu 06 tháng đầu năm 2009 (Từ điểm này trên biểu đồ thì đường doanh thu ít
biến động).
n: Số chu kỳ được tính bằng 06 tháng
i: Tốc độ tăng trưởng kép cố định của TienPhongBank.
Từ bảng kết quả hoạt động, ta thấy: B = 313,344 (tỷ đồng); E = 123,701 (tỷ đồng); n = 5
Vậy tốc độ tăng trưởng kép cố định của TienPhongBank là:

nợ xấu toàn ngân hàng là 957 triệu, chiếm tỷ lệ 0.02% tổng dư nợ cho vay. TienPhongBank luôn
duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cao, đạt 18%.
 Tiếp tục khẳng định vị trí Ngân hàng công nghệ hàng đầu trên thị trường.
Sự tín nhiệm của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng điện tử đã được thể hiện qua việc
TienPhongBank triển khai thành công dịch vụ Mobile Banking và tiếp tục bổ sung các tiện ích
trên Internet Banking. Tiêu biểu là dịch vụ Tiết kiệm điện tử - eSavings, đây là một bước đột phá
về công nghệ nhằm đem lại các giá trị ngày càng tốt hơn cho khách hàng. Với những kỳ hạn gửi
tiết kiệm linh hoạt, phong phú, tất toán bất cứ lúc nào, dịch vụ đặt vé máy bay trên internet
banking, TienPhongBank ngày càng chứng tỏ sự đi đầu trong việc áp dụng công nghệ để cuộc
sống tài chính của khách hàng đơn giản và hiệu quả hơn.
Với Mobile Banking, TienPhongBank là ngân hàng đầu tiên ứng dụng thành công giải pháp
ưu việt giúp khách hàng giao tiếp đơn giản qua hệ thống menu dễ sử dụng mà không cần phải
nhớ cú pháp. Mobile Banking của TienPhongBank có thể giúp nạp tiền 5 mạng di động như
Vinaphone, MobiFone, Viettel, S-Fone và EVN Telecom, đồng thời giúp thanh toán cước phí
ADSL của FPT bên cạnh các dịch vụ truyền thống khác như quản lý giao dịch, tra cứu số dư,
lịch sử giao dịch, mạng lưới, tỷ giá và chuyển khoản nội bộ.
 TiênPhongBank mở rộng mạng lưới hoạt động trên toàn quốc
Năm 2010, TienPhongBank tiếp tục đẩy mạnh việc mở rộng mạng lưới trên toàn quốc với
việc xuất hiện tại các thành phố lớn nhất cả nước. Liên tiếp các chi nhánh Thăng Long, Đồng
Nai, An Giang ra đời, cùng với việc mở mới thêm các phòng giao dịch tại địa bàn Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh đã nâng tổng số các điểm giao dịch của TiênPhongBank trên toàn quốc là 30 điểm. Trang 24
/
28

 Tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ VNĐ theo đúng lộ trình ban đầu của ngân hàng nhà
nước
Đến 31/12/2010, TienPhongBank đã hoàn thành lộ trình tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ theo

/
28

sinh…của TienPhongBank những năm trước có hiệu quả sinh lời chưa cao, có thể ảnh hưởng đến
lợi nhuận của năm 2011.
4. Mục tiêu và chiến lược thực hiện của TienPhongBank
Trong gần 3 năm qua, TienPhongBank đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc xây
dựng một ngân hàng hiện đại trong những giai đoạn đầu, từ hệ thống công nghệ thông tin, quản
trị, nhân sự, sản phẩm đến thiết lập mạng lưới hoạt động khắp cả nước. Tuy nhiên, trước những
thách thức mới của thị trường ngân hàng và nền kinh tế, TienPhongBank cần có một sự thay đổi
phù hợp để đáp ứng nhu cầu của thị trường, đảm bảo sự phát triển mạnh mẽ và bền vứng trong
những năm tiếp theo.
Trước những tác động to lớn và ảnh hưởng của nền kinh tế vĩ mô và những biến động của thị
trường tài chính – ngân hàng trong và ngoài nước, đồng thời đánh giá kỹ lưỡng những điểm
mạnh, điểm hạn chế, những cơ hội và thách thức, Ban Điều hành đã đặt quyết tâm để đạt được
các mục tiêu trong hoạt động và kinh doanh, cụ thể như sau:
a. Mục tiêu trong hoạt động
– Xác định năm 2011 là năm cải tổ, tái cơ cấu hệ thống quản trị, cơ cấu tài sản nhằm tăng
năng lực quản trị và điều hành, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh, đưa ngân hàng lên
một tầm cao mới.
– Tăng cường năng lực kinh doanh để thực hiện mục tiêu tạo giá trị cao nhất cho cổ đông
và khách hàng.
– Tăng cường hiệu quả cộng sinh (synergy) với cổ đông và khách hàng trung thành.
– Tập trung phát triển sản phẩm, đầu tư, cải tiến công nghệ và chất lượng dịch vụ tốt nhất
nhằm tạo ra sự cạnh tranh khác biệt với các ngân hàng đối thủ.

b. Mục tiêu trong kinh doanh
– Lấy huy động làm trọng tâm, toàn hàng tập trung vào huy động thị trường 1 để đạt được
chỉ tiêu 18.000 tỷ huy động thị trường 1 trong năm 2011.
– Tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, có kiểm soát. Đảm bảo tốc độ tăng truởng tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status