1
học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
báo cáo tổng quan
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2008 chính sách thơng mại và công nghiệp
nhằm phát triển bền vững công nghiệp
việt nam
Cơ quan chủ trì :
Viện kinh tế
Chủ nhiệm đề tài : TS. Nguyễn Thị Hờng
Th ký đề tài : ThS. Nguyễn Thị Miền
7241
26/3/2009
Hà Nội - 2008
2
phần mở đầu
Để thực hiện định hớng chiến lợc PTBV Việt Nam, các ngành và các
lĩnh vực phải xây dựng và thực hiện các chơng trình hành động cụ thể. Công
nghiệp là lĩnh vực có tác động mạnh mẽ nhất đến PTBV của đất nớc trên cả 3
mặt: kinh tế, xã hội và môi trờng.
Trớc hết, công nghiệp là lĩnh vực có vai trò quan trọng nhất đối với
PTBV kinh tế ở Việt Nam: Tốc độ tăng trởng công nghiệp, trong 20 năm
đổi mới cao gấp 1,5 tốc độ tăng trởng kinh tế. Từ năm 2005 đến nay công
nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng trên 41% GDP; công nghiệp tác động
mạnh mẽ thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn theo hớng CNH, HĐH và sự
phát triển của công nghiệp đã làm xuất hiện nhiều ngành dịch vụ, đặc biệt
là các dịch vụ hiện đại; đóng góp của công nghiệp vào kim ngạch xuất khẩu
ngày càng tăng và hiện nay đã chiếm gần 80% tổng giá trị xuất khẩu của
nớc ta. Tuy vậy, sự phát triển của công nghiệp Việt Nam hiện đang chứa
đựng những nguy cơ đe dọa sự PTBV về kinh tế. Nớc ta đang đứng trớc
tình trạng cạn kiệt các tài nguyên thiên nhiên, nhất là các đầu vào quan
trọng của sản xuất nh than đá, dầu khí, đất đai. Trong điều kiện hội nhập
ngày càng mạnh mẽ nh hiện nay, những hạn chế trong sản xuất công
nghiệp trên đây thực sự đang đe doạ PTBV kinh tế Việt Nam.
Thứ hai, mặt khác, công nghiệp là lĩnh vực tạo ra nhiều công ăn việc
làm và thu nhập cho ngời lao động ở nớc ta trong những năm qua: Tỷ trọng
lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng đã tăng từ 13.1% năm 2000 lên
xấp xỉ 20% năm 2007 trong tổng lao động xã hội.
Năng suất lao động công nghiệp không ngừng tăng lên đã nâng cao thu
nhập của ngời lao động, góp phần quan trọng cải thiện đời sống vật chất của
nhân dân giảm tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam.
Tuy vậy, sự phát triển công nghiệp ở nớc ta trong những năm qua cũng
làm nảy sinh những vấn đề xã hội bức xúc. Đó là, tình trạng thu hẹp đất đai
nông nghiệp do phát triển các khu công nghiệp, các khu chế xuất trong khi lao
động nông nghiệp cha đợc thu hút đáng kể vào sản xuất công nghiệp, nên
ngoài nớc liên quan đến PTBV công nghiệp và chính sách phát triển để thực
5
hiện PTBV công nghiệp. Nhng cha có công trình nào đợc công bố nghiên
cứu chính sách thơng mại và công nghiệp nhằm thực hiện PTBV công nghiệp.
Có thể tìm thấy một số nội dung có liên quan với chủ đề trên ở trong
những công trình thuộc 2 nhóm sau đây:
a) Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về phát triển
bền vững công nghiệp.
Các công trình thuộc nhóm này đều tập trung vào những nội dung sau
đây:
- Quá trình nhận thức về PTBV; xây dựng Chơng trình nghị sự 21 trên
thế giới và ở Việt Nam, trong đó, có chơng trình PTBV công nghiệp.
- Khai thác tài nguyên và phát triển các lĩnh vực, các ngành gắn với PTBV.
- Các tiêu chí phát triển bền vững công nghiệp ở Việt Nam.
Tiêu biểu cho nhóm này bao gồm những công trình sau đây:
1. Trong khuôn khổ của dự án VIE/021/01 đã có 6 Tập bài giảng phát triển
bền vững của các cơ sở đào tạo sau đây đã đợc viết và in thành sách (2006):
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Kinh tế và Phát triển
- Đại học Kinh tế quốc dân - Khoa Kinh tế - Quản lý tài nguyên môi
trờng và đô thị.
- Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Học viện Hành chính quốc gia.
- Trờng Đại học S phạm Hà Nội - Viện Nghiên cứu s phạm.
- Trờng Cao đẳng Kế hoạch Đà Nẵng.
2. United Conference on Environment and Development (1992),
Chơng trình nghị sự 21 (tiếng Anh).
3. Vandineam, A (2001), phát triển bền vững: Lý thuyết và quá trình
thực hiện chuyển đổi hệ thống kinh tế xã hội theo hớng bền vững, UNESCO.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu t (2006), Bộ chỉ tiêu và cơ sở dữ liệu giám sát
vững ở Việt Nam, H.
5. Ngân hàng thế giới (1995), Việt Nam - Báo cáo kinh tế về công
nghiệp hóa và chính sách công nghiệp, Vụ Khu vực 1, Khu vực Đông á và
Thái Bình Dơng, NXB Thế giới, H.
7
6. Trần Văn Thọ (1997), Công nghiệp Việt Nam trong thời đại Châu
á - Thái Bình Dơng, NXB thành phố Hồ Chí Minh - Thời báo Kinh tế Sài
Gòn VAPEC.
7. Kenichi Ohno và Nguyễn Văn Thờng (2005), Hoàn thiện chiến lợc
phát triển công nghiệp Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, H.
8. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (Jica) - Đại học Kinh tế quốc dân
(2004), Chính sách công nghiệp và chính sách thơng mại của Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập, NXB Thanh Hóa.
9. Bộ Kế hoạch và Đầu t (2004), Phát triển bền vững, Kỷ yếu Hội nghị
phát triển bền vững toàn quốc lần thứ nhất - Dự án VIE/01/021, H.
10. Bộ Kế hoạch và Đầu t (2006), 15 năm xây dựng và phát triển khu
công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam (1991 - 2006), kỷ yếu Hội thảo quốc
gia tại Long An.
11. Bộ Kế hoạch và Đầu t (2006), Kỷ yếu Hội nghị phát triển bền vững
toàn quốc lần thứ hai, H.
12. Nguyễn Thế Chinh (1999), áp dụng các công cụ kinh tế để nâng
cao năng lực quản lý môi trờng ở Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, H.
13. Bộ T pháp (2005), Đánh giá thực trạng áp dụng các công cụ kinh
tế trong quản lý môi trờng ở Việt Nam hiện nay - Giải pháp hoàn thiện, Kỷ
yếu hội thảo khoa học, H.
14. Nguyễn Thị Hờng (2005), "Kết hợp đồng bộ các giải pháp để tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trờng trong chiến lợc phát triển
bền vững ở Việt Nam", Tạp chí Ngân hàng, số 6/2005.
15. Nguyễn Bá Ân (2004), Phân cấp quản lý và việc lồng ghép phát
Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế
về chính sách thơng mại và công nghiệp
nhằm phát triển bền vững công nghiệp
1.1. Nhận thức cơ bản về phát triển bền vững công nghiệp
1.1.1. Nhn thc chung v phỏt trin bn vng Vit nam v v trớ
ca PTBV cụng nghip trong s phỏt trin ú
1.1.1.1. Nhn thc chung v PTBV Vit Nam
Trong quỏ trỡnh nhn thc v xut cỏc chớnh sỏch phỏt trin trc
õy ch mi cp ch yu n cỏc li ớch ca cỏc th h hin ti ch cha
quan tõm n phỳc li ca cỏc th h tng lai. Tuy nhiờn, trong khi hng t
i
cuc sng tt p hn thỡ con ngi li luụn gõy ra nhng thit hi bi cỏc hot
ng kinh t v phỏt trin i vi ti nguyờn thiờn nhiờn v h sinh thỏi ton
cu. Nhng vn ú e da n s n nh ca quỏ trỡnh phỏt trin v buc
con ngi phi thng nht hnh ng i n s phỏt trin bn vng hn.
Nm 1980, Hip h
i quc t v bo v thiờn nhiờn v ti nguyờn thiờn
nhiờn (IUCN) ó a ra Chin lc bo ton th gii vi mc tiờu tng th
l t c s phỏt trin bn vng bng cỏch bo v cỏc ti nguyờn sng.
Trong chin lc ny, ln u tiờn cp ti PTBV nhng mi ch hiu
PTBV vi mt ni dung hn hp l phỏt trin bn vng v mt sinh thỏi.
n nm 1987, Hi ng Th gii v Mụi trng v Phỏt trin
(WCED) ca Liờn hp quc trong Bỏo cỏo Tng lai chung ca chỳng ta
do b Gro Harlem Brundtland lm Ch tch ó a ra khỏi nim Phỏt trin
bn vng l s phỏt trin ỏp ng c nhng nhu cu ca hin ti, nhng
khụng lm tn hi n kh nng ỏp ng nhu cu ca cỏc th h tng lai
.
Thỏng 6/1992, Hi ngh Thng nh Trỏi t v Mụi trng v Phỏt
Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển
bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam)
1
. Có thể nêu
tóm tắt mục tiêu, những nguyên tắc chính và những lĩnh vực hoạt động cần ưu
tiên thể hiện trong Định hướng chiến lược PTBVở Việt Nam như sau: 1
Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17 tháng 8 năm 2004 Về việc ban hành
Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt nam
11
- Về mục tiêu:
“Mục tiêu tổng quát của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự
giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng
thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết
hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã
hội và bảo vệ môi trường”.
“Mục tiêu PTBV v
ề kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ
cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống nhân dân, tránh
được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần
lớn cho các thế hệ mai sau”.
“Mục tiêu của PTBV về xã hội là đạt được kết quả cao trong thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, bả
o đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm
sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người có cơ hội được
học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách
giàu nghèo giữa các tầng lớp và các nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội,
vớ
i nông nghiệp.
Điều này bắt nguồn từ đặc điểm của sản xuất công nghiệp có đầu vào
phong phú, đa dạng không bị ràng buộc chặt vào chỉ một số nguồn lực tự
nhiên không thể thay thế được như đối với sản xuất nông nghiệp. Nhờ vậy,
qui mô sản xuất công nghiệp có điều kiện tăng nhanh hơn gập bội so với nông
nghiệp. M
ặt khác, các ngành công nghiệp cũng thường có năng suất lao động
cao hơn do quy trình sản xuất công nghiệp có thể phân chia thành các công
đoạn khác nhau để thực hiện, chuyên môn hoá sâu (sản xuất công nghiệp
không thể thực hiện được do gắn liền với chu kỳ sống của cây con). Nhờ đó,
tổng cung trong công nghiệp có điều kiện tăng nhanh.
Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghiệp thu hút một lực lượng lao
động lớ
n có năng suất lao động ngày càng cao, tiền lương và thu nhập từ công
nghiệp tăng nhanh tạo điều kiện tăng chi tiêu của các hộ gia đình. Hơn nữa,
khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên, thì tỷ trọng chi tiêu dành cho các
sản phẩm công nghiệp tăng nhanh. Vì thế, tổng cầu các sản phẩm công nghiệp
tăng nhanh.
13
Thứ hai, công nghiệp có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của đất nước theo hướng CNH, HĐH.
Sự tăng trưởng vượt trội của công nghiệp làm cho tỷ trọng của công
nghiệp trong nền kinh tế ngày càng gia tăng, trình độ phân công lao động xã
hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng trở nên sâu sắc, nhiều ngành nghề
mới xuất hiện và tăng trưởng nhanh, sự thay đổi về công ngh
ệ cũng diễn ra
thường xuyên hơn. Những thay đổi đó làm cho CNH, HĐH đất nước ngày
càng đạt trình độ cao hơn.
Thứ ba, sự phân bố công nghiệp trên không gian lãnh thổ một cách hợp
lý tạo điều kiện khai thác được tiềm năng, thế mạ
nh của từng vùng vào phát
triển công nghiệp và tạo điều kiện phát triển kinh tế vùng. Nhờ đó, việc huy
động các nguồn lực tại chỗ, đặc biệt là lực lượng lao động của vùng tham gia
vào hoạt động kinh tế, tạo việc làm tăng thu nhập, nhờ đó giảm bớt chênh lệch
về kinh tế - xã hội giữa các vùng và thực hiện xóa đói giảm nghèo.
- Tác động của công nghiệp
đối với phát triển bền vững về tài
nguyên và môi trường
Dưới sự phát triển của khoa học công nghệ công nghiệp ngày càng sản
xuất ra những thiết bị, sản phẩm, công nghệ tiết kiệm tài nguyên, thân thiện
hơn với môi trường và góp phần xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường. Tuy
nhiên, công nghiệp cũng là ngành gây ra phát thải nhiều nhất: phát thải từ một
bộ phận của tài nguyên thiên nhiên không được sử dụng trong quá trình khai
thác và ch
ế biến các sản phẩm công nghiệp; phát thải từ các sản phẩm công
nghiệp được sử dụng trong các ngành nông nghiệp và dịch vụ; phát thải do
con người tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp. Mặt khác, do công nghiệp là
ngành sản xuất có quy mô tiêu thụ nguồn lực đầu vào rất lớn, do đó mức độ
phát thải hết sức lớn và trong đó chứa đựng nhiều chất độc hại. Như vậy, có
thể nói công nghi
ệp là ngành có tác động tiêu cực lớn nhất đến tình trạng cạn
kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường.
Tóm lại, công nghiệp có tác động to lớn đến PTBV của quốc gia trên
tất cả các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Những tác động đó có thể là
những tác động tích cực hoặc tiêu cực. Để phát huy tác động tích cực đến
PTBV của nền kinh tế bản thân công nghiệp phải được PTBV và tạo điều kiệ
n
để các ngành kinh tế quốc dân khác PTBV. Công nghiệp ngày càng có vai trò
khoa học công nghệ.
Sản phẩm công nghiệp do con người sáng tạo ra có khả năng đáp ứng
nhiều loại nhu cầu của sản xuất và đời sống. Gắn với sự phát triển của lực
lượng sản xuất, đặc biệt là sự phát triển của quá trình chuyên môn hóa sản
xuất và sự phát triển của khoa học công nghệ, các sản ph
ẩm công nghiệp ngày
càng trở nên phong phú cả trong việc thỏa mãn nhu cầu muôn màu muôn vẻ
16
của sản xuất và đời sống, cũng như trong nguyên liệu sử dụng, trong cấu trúc
của sản phẩm và phương pháp cụ thể để sản xuất chúng.
Những đặc trưng trên đã đem đến cho quá trình sản xuất và tiêu dùng
các sản phẩm công nghiệp những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, công nghiệp có trình độ tập trung hóa, chuyên môn hóa và
hợp tác hóa trong sản xuất công nghiệ
p rất cao.
Tập trung hóa sản xuất giúp cho công nghiệp có điều kiện phát huy
hiệu quả kinh tế theo qui mô nhờ giảm chi phí cố định trên một đơn vị sản
phẩm sản xuất và tiêu thụ. Chuyên môn hóa và việc mở rộng quan hệ hợp tác
sản xuất nhằm phát huy mạnh mẽ hơn hiệu quả của quá trình chuyên môn hóa
sản xuất nhờ tăng năng suất lao động. Chuyên môn hóa và hợp tác hóa mang
tính toàn cầu hiệ
n nay khiến cho mỗi quốc gia có thể lựa chọn một số loại sản
phẩm hay một số khâu nhất định trong sản xuất sản phẩm (trong chuỗi chế
biến từ nguyên liệu ban đầu đến sản phẩm cuối cùng) hoặc một số chi tiết, bộ
phận nhất định của sản phẩm… để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong
việc sản xuất một lo
ại sản phẩm nhất định. Vấn đề đặt ra là việc tổ chức sản
xuất công nghiệp trong nước và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu như thế
nào để không chỉ phát huy tiềm năng, lợi thế hiện có của đất nước mà còn
dụng các loại vật liệu và năng lượng mới thay thế các nguồn lực khan hiếm,
sản xuất ra những sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống,
t
ạo ra những vật liệu mới và phương pháp sản xuất mới, các sản phẩm mới
ngày càng “thân thiện” hơn với môi trường hoặc giúp con người giải quyết
vấn đề ô nhiễm môi trường. Mặt khác, những công nghệ mới cũng luôn tiềm
ẩn những nguy cơ mới gắn với bản thân những công nghệ, công cụ, vật liệu
và năng lượng mới mà con người sử dụng, trong nhiều tr
ường hợp là không
lường trước được
1
.
Thứ tư, công nghiệp có khả năng phân bố trên mọi vùng lãnh thổ.
Các ngành công nghiệp do điều kiện sản xuất ít phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên, nên có thể phân bố trên mọi vùng không gian lãnh thổ (ngoại
trừ các ngành công nghiệp khai khoáng đòi hỏi cần phải gắn liền với các mỏ
khoáng sản được phân bố theo tự nhiên). Đây là điều kiện thuận lợi để trong 1
Chẳng hạn, để khắc phục tình trạng khan hiếm của dầu mỏ con người có thể sử dụng nhiên liệu sinh học
hoặc thay thế một cách phổ biến bằng cách sử dụng năng lượng nguyên tử. Sử dụng nguyên liệu sinh học tạo
ra nguy cơ mới về an toàn lương thực. Sử dụng rộng rãi năng lượng nguyên tử sẽ đối mặt với ô nhiễm và
không an toàn củ
a loại năng lượng này….
18
qui hoạch phát triển công nghiệp có thể giải bài toán phát triển công nghiệp
gắn với yêu cầu về hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường. Xuất phát từ yêu
cầu hiệu quả kinh tế trong sản xuất công nghiệp (một số ngành công nghiệp
19
thải lớn hơn các ngành công nghiệp có độ chế biến sâu hơn. Tính chất gây hại
cho môi trường cũng rất khác nhau tùy thuộc vào các loại tài nguyên thiên
nhiên mà ngành công nghiệp đó sử dụng.
- Trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp có ảnh hưởng rất lớn
đến việc tiêu thụ nguyên nhiên vật liệu năng lượng cũng như khả năng phát thải
của sản xuất công nghiệp. Nếu khai thác và sử dụng kh
ối lượng tài nguyên
thiên nhiên lớn trong khi công nghệ khai thác và chế biến lạc hậu sẽ dẫn đến
hậu quả kép: tiêu hao tài nguyên thiên nhiên trong một đơn vị sản phẩm lớn
làm tăng chi phí sản xuất, gây lãng phí tài nguyên thiên nhiên và phát thải lớn.
- Tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp cũng tạo ra lượng chất thải lớn
về bao bì (nhất là các loại bao nilông phải có thời gian hàng trăm năm mới
phân hủy được), về hóa chất (nhất là sơn và các ch
ất tẩy rửa), nhiên liệu (nhất
là xăng dầu sử dụng trong giao thông vận tải) và các loại phế liệu khi các sản
phẩm công nghiệp (máy móc, thiết bị và các tiện nghi, đồ dùng gia đình…) bị
loại bỏ khi đã hết thời hạn sử dụng.
- Năng lực xử lý các chất thải và kiểm soát môi trường của các cơ sở
sản xuất công nghiệp. Nếu các cơ sở sản xu
ất công nghiệp không quan tâm
đến xử lý các chất thải công nghiệp do chính mình là tác nhân gây ra sẽ làm
cho qui mô và tính nguy hại của rác thải ngày càng lớn đối với môi trường,
nhất là khi nó đã vượt quá giới hạn cho phép.
Đặc điểm của tiêu hao nguyên liệu, năng lượng và phát thải trong công
nghiệp là vấn đề có ảnh hưởng ngoại ứng tiêu cực điển hình theo kiểu “kẻ ăn
ốc, người đổ vỏ” “quýt làm cam chịu” mang tính liên ngành, liên vùng và
đụng chạm
đến lợi ích của nhiều bên. Phát triển công nghiệp chế biến gỗ có
niệm PTBV nói chung đã được quốc tế thừa nhận:“Phát triển bền vững là quá
trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự
phát triển, đó là: phát triển kinh tế, phát tri
ển xã hội và bảo vệ môi trường”.
Tuy nhiên, nhận thức như vậy còn quá xa để đưa ra một mô hình phát triển
công nghiệp hướng tới bền vững. Trong công nghiệp thể hiện rất điển hình bất
kỳ một hoạt động nào cũng tác động đến cả ba mặt kinh tế-xã hội-môi trường.
Để giải quyết một vấn đề nào của kinh tế, xã hội, môi trường cũng cần ph
ải
tính đến tất cả các yếu tố kinh tế - xã hội - môi trường.
Hơn nữa, do qui mô,
phạm vi, tính chất, phương thức và kết quả của các tác động của công nghiệp
đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và môi trường là rất khác so với các
21
lĩnh vực khác, cho nên cần phải có cách hiểu cụ thể hơn đối với “phát triển
bền vững trong công nghiệp. Khái niệm phát triển bền vững công nghiệp do
Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO) tại Hội nghị
Copenhagen, tháng 10/1991đã đưa ra như là: “những mô hình (pattern) công
nghiệp hóa hướng vào các lợi ích về kinh tế và xã hội của thế hệ hiện tại và các
thế hệ sau mà không làm tổn hạ
i tới quá trình sinh thái nền”. Khái niệm này đã
chứa đựng những nội dung cụ thể hơn. Đồng thời, tại hội nghị này những tiêu
chí cụ thể hơn cũng đề cập đến, trong đó có 3 tiêu chí quan trọng là:
- Bảo vệ năng lực sinh thái.
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực con người, nguyên vật liệu và
năng lượng.
- Công bằng trong chia sẻ gánh nặng về môi trường, xã hội và các
thành quả công nghiệp hóa.
PGS, TS Phan Đăng Tuất và tác giả Lê minh Đức trong “Chính sách
đồng thời dựa trên những đặc điểm của sản xuất công nghiệp đặt trong mối
liên hệ
đến PTBV công nghiệp, theo chúng tôi, nội dung của PTBV công
nghiệp có thể được hiểu như sau:
* Nội dung và các chỉ tiêu PTBV công nghiệp về kinh tế
- Trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước công nghiệp ngày càng chiếm
tỷ trọng cao trong cơ cấu của nền kinh tế. Do đó, công nghiệp phải tăng
trưởng cao, liên tục và dài hạn để đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng tương
đối cao, liên tục và dài hạn. Đương nhiên, sự
tăng trưởng cao như vậy phải là
tăng trưởng của giá trị gia tăng (VA) chứ không phải là tăng trưởng nhanh giá
trị sản xuất công nghiệp (GO) bằng cách tăng nhanh các chi phí trung gian,
như kiểu các ngành chế biến sản phẩm thô hoặc gia công xuất khẩu.
- Tăng trưởng cao, liên tục và dài hạn của công nghiệp chỉ có thể thực
hiện được khi công nghiệp có năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế
cao.
Hiệu quả sản xuất công nghiệp thể hiện ở phương thức tăng trưởng phải chủ
yếu dựa vào hiệu quả sử dụng các yếu tố nguồn lực và được thể hiện qua
năng suất tổng hợp các nhân tố TFP (total Factor Produtivity). Trong điều
kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng đầy đủ,
toàn diệ
n và sâu sắc, thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh
tế cao là phương thức cơ bản để công nghiệp có thể duy trì sự tăng trưởng
cao, liên tục, lâu dài và đóng góp ngày càng cao vào sự tăng trưởng của nền
kinh tế đất nước.
- Cơ cấu công nghiệp tạo sự phát triển bền vững của công nghiệp và
thúc đẩy cơ cấu của nền kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, H
ĐH.
23
hướng đến các “phân đoạn quốc tế” ngày càng có lợi cho phát triển trong một
số lĩnh vực công nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo các xu hướng nói trên phải tạo
điều kiện thúc đẩy chuyển cơ cấu nông nghiệp và dịch theo hướng CNH-HĐH.
24
Từ những nội dung đã phân tích ở trên có thể đưa ra một số chỉ tiêu của
PTBV công nghiệp về kinh tế như sau:
- Tốc độ gia tăng của công nghiệp và đóng của nó vào tốc độ tăng của
nền kinh tế.
- Hiệu quả sản xuất thể hiện ở chỉ số VA (giá gia tăng) / GO (giá trị sản
xuất công nghiệp) và chỉ số ICOR của công nghiệp.
- Năng suất tổng hợp các nhân tố (TFP).
- Năng lực cạnh tranh của công nghiệp thể hiện ở năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp, sản phẩm công nghiệp và tác động của công nghiệp đối với
năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ.
- Tỷ trọng đóng góp của công nghiệp vào GDP tỷ trọng xuất khẩu công
nghiệp / Tổng kim ngạch xuấ
t khẩu, tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu có hàm
lượng khoa học và công nghệ / tổng giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp.
- Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu và xu hướng thay đổi của cơ cấu nội bộ
ngành công nghiệp xét theo trình độ công nghệ, theo cấu trúc của các sản
phẩm công nghiệp, theo cơ cấu giữa các ngành thượng nguồn, trung nguồn và
hạ nguồn; cơ cấu phân bố theo vùng lãnh thổ.
- Tác động thúc đẩy c
ủa công nghiệp đối với chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp và dịch vụ thể hiện qua thay đổi tỷ trọng của các lĩnh vực này/GDP.
* Nội dung và các chỉ tiêu PTBV công nghiệp về xã hội
- Công nghiệp tạo ra công ăn việc làm ngày càng nhiều và thu nhập
ngày càng tăng.
hiệu quả sử dụng nguồn lực lao động cho tăng trưởng, vừa góp phần giải
quyết vấn đề xã hội cấp bách là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động và tích cực tham gia vào xóa đói giảm nghèo.
- Công nghiệp góp phần giảm bớt khoảng thu nhập giữa thành thị và
nông thôn và giữa các vùng miền. Công nghiệp thường phát triển trên những
địa bàn có vị trí đị
a lý, khả năng cung ứng các nguồn lực và hệ thống kết cấu
hạ tầng thuận lợi. Những địa bàn như vậy thường là các khu công nghiệp, đô
thị. Hệ quả tất yếu là tạo ra sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các
vùng kinh tế. Chênh lệch thu nhập giữa các vùng chủ yếu là chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn ngày càng doãng ra theo hướng bất lợi cho khu vực
nông nghiệp nông thôn. Phát triển công nghi
ệp như vậy xét về lâu dài là vừa
không bền vững về kinh tế, vừa không bền vững về xã hội, bởi lẽ những khu
công nghiệp - đô thị tập trung vừa đắt đỏ, tốn kém, vừa quá tải trong các hoạt