i
Mục lục
Mục lục i
Lời giới thiệu iii
Cách đánh số các bảng, đồ thị và các đề mục iii
Các chữ viết tắt vi
Phần I - Các vấn đề chung 1
Bài 1 Mời năm phát triển miền núi Việt Nam: Các vấn đề kinh tế - xã hội, văn hoá và
môi trờng 2
Bài 2 Mời năm phát triển kinh tế và xã hội miền núi 27
Bài 3 Tổng quan môi trờng miền núi Việt Nam trong mời năm qua: Thực trạng và
những vấn đề đặt ra 85
Bài 4 Thực trạng và một số vấn đề phát triển đời sống văn hoá của các tộc ngời
thiểu số ở nớc ta hơn 10 năm qua 103
Phần II - Các báo cáo chuyên đề 124
Các báo cáo chuyên đề về Kinh tế - Xã hội 125
Bài 1 Một số vấn về dân số với phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam 126
Bài 2 Mời năm phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp miền núi và các vấn đề đặt ra 145
Bài 3 An toàn lơng thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dới tác động
của yếu tố xã hội và văn hoá 168
Bài 4 Xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp và đô thị hoá ở miền núi: 10
năm nhìn lại và những vấn đề đặt ra 188
Bài 5 Mời năm phát triển thơng mại và thị trờng miền núi Việt Nam 207
Bài 6 Tình hình hoạt động của các thành phần kinh tế trong nông nghiệp ở miền núi
thời kỳ 1991 - 2000 236
Bài 7 Vấn đề phát triển kinh tế hộ nông dân ở vùng đồi núi Hoà Bình theo hớng sản
xuất hàng hoá 260
Bài 8 Tác động chính sách Định canh định c và di dân, phát triển vùng kinh tế mới
iii
Lời giới thiệu
Miền núi Việt Nam chiếm 2/3 diện tích đất đai trong cả nớc, là nơi c trú của hơn 50 tộc
ngời, cũng là nơi tập trung nhiều tài nguyên sinh học, khoáng sản và năng lợng có giá trị. Miền
núi có vai trò quan trọng trong an ninh quốc phòng và chiếm một vị trí đặc biệt trong chiến lợc
phát triển của đất nớc.
Các nghiên cứu phát triển bền vững miền núi Việt Nam đã đợc Nhóm nghiên cứu miền
núi, tiền thân của Tổ công tác miền núi (UWG), Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trờng,
Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện từ những năm 1980, trong chơng trình cấp Nhà nớc "nghiên
cứu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trờng - 5202 (1981-1985) và 52D
(1986-1990)". Năm 1990, Tổ Công tác Miền núi (UWG) thực sự phát triển trong sự hợp tác với
Mạng lới nghiên cứu các Hệ sinh thái Nông nghiệp các trờng Đại học Đông Nam á - Southeast
Asian Universities Agroecosystem Network (SUAN), Trung tâm Đông-Tây (EWC), Đại học
Berkeley, Hoa kỳ, v.v. khi lý thuyết Sinh thái nhân văn (Human Ecology) đợc đa vào áp dụng
cho các nghiên cứu miền núi, bắt đầu bằng một Hội thảo tập huấn nhận thức về lý thuyết Sinh
thái nhân văn và nghiên cứu phối hợp giữa Trung tâm và các tổ chức nói trên tại huyện Thanh
Hoà, Đoan Hùng và Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phú cũ. Sản phẩm đầu tiên đó đã đợc xuất bản bằng
hai thứ tiếng "Agroecosystems of the Midlands of Northern Vietnam, A report on a Preliminary
Human Ecology Field Study of Three Districts in Vinh Phu Province - Hệ sinh thái nông nghiệp
Trung du Miền Bắc Việt Nam - Báo cáo bớc đầu về Nghiên cứu Sinh thái nhân văn ở ba huyện,
tỉnh Vĩnh Phú" (Lê Trọng Cúc, Kathleen Gillogly và A.T.Rambo,1990). Từ đó đến nay Tổ Công
tác Miền núi đã tiến hành nhiều nghiên cứu và hội thảo khoa học phát triển bền vững Miền núi
trên cơ sở lý thuyết Sinh thái nhân văn. Nhiều ấn phẩm đã đợc công bố: Đất chật ngời đông -
Sinh thái nhân văn vùng đồng bằng Sông Hồng (1992); Nghiên cứu Sinh thái nhân văn Hệ sinh
thái nơng rẫy tổng hợp bản Tát, Hoà Bình (1993); Những vấn đề Sinh thái Nhân văn ở Việt Nam
(1994); Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trờng Bình-Trị-Thiên (1996); Tiếp
cận Sinh thái nhân văn và phát triển bền vững miền núi Tây Nam Nghệ An (1997); Những xu
Báo cáo cung cấp sự đánh giá thực trạng phát triển Miền núi trong mời năm
qua, phân tích những gì đã làm đợc, những gì cha làm đợc, mức độ tơng xứng
giữa những gì đã bỏ ra và những gì đã thu lại. Tính phù hợp và khả thi của các chính
sách và việc thực hiện các chính sách, xác định các quá trình cơ bản của sự thay đổi
về môi trờng, kinh tế, xã hội và văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập khu
vực, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Chúng tôi hy vọng, thông qua báo cáo này, nhiều ngời sẽ đợc chia sẻ sự hiểu
biết về vùng núi Việt Nam một cách toàn diện hơn, hệ thống hơn, nó không những có
trong các vấn đề nghiên cứu trả lời, mà còn những vấn đề mới đợc phát hiện từ các
nghiên cứu này.
Lời cảm ơn: Để thực hiện đợc báo cáo này, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên
và Môi trờng, Đại học quốc gia Hà Nội đã nhận đợc sự giúp đỡ về tài chính từ phía
Quỹ Ford. Hơn 30 nhà khoa học đã đóng góp bài viết. Báo cáo này đợc thực hiện
nhờ sự làm việc hăng say, tâm huyết của PGS. Chu Hữu Quý trong việc biên tập,
hiệu chỉnh các bài viết. Chúng tôi ghi nhận công lao của các cán bộ Tổ công tác
miền núi, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trờng, đại học Quốc gia Hà Nội
đã nhiệt tình trong việc kết nối cuối cùng bản báo cáo này. GS. Lê Trọng Cúc v
Cách đánh số các bảng, đồ thị và các đề mục
I. Cách đánh số các bảng và đồ thị
Các bảng và đồ thị đợc đánh số dựa trên:
- Số thứ tự phần chính của báo cáo (gồm có 2 phần chính I và II)
- Số thứ tự của bài viết, và
- Số thứ tự của bảng/đồ thị
Ví dụ: Bảng II.3.5, có nghĩa là bảng thứ 5 của báo cáo số 3 trong phần II.
HĐBT Hội đồng Bộ trởng
HĐND Hội đồng Nhân dân
HTX Hợp tác xã
ILO Tổ chức lao động quốc tế
IMR Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh
IUD Đặt vòng tránh thai
KTM Kinh tế mới
KTCK Kinh tế cửa khẩu
KTXH Kinh tế xã hội
LBR Trọng lợng trẻ sơ sinh thấp
LĐTBXH Lao động-Thơng binh-Xã hội
MNPB Miền núi phía Bắc
NCPFP Uỷ ban Quốc gia về Dân số và
Kế hoạch hoá Gia đình
NGO Tổ chức phi chính phủ
Nxb Nhà xuất bản
ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
SIDA Cơ quan Hợp tác Phát triển
Quốc tế của Thụy Điển
TFR Tổng tỷ suất sinh
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
Tr. đ Triệu đồng
TTCX Trung tâm cụm xã
TW Trung ơng
U5MR Tỷ lệ chết trẻ em dới 5 tuổi
UBND Uỷ ban Nhân dân
UBDTMN Uỷ ban Dân tộc và Miền núi
UNICEF Quỹ Nhi đồng Quốc tế
USD Đô la Mỹ
VBP Ngân hàng phục vụ ngời
PhÇn 1 - C¸c vÊn ®Ò chung
2
Bµi 1
Mười năm phát triển miền núi Việt Nam
Các vấn đề kinh tế - xã hội, văn hoá và môi trường
PGS,TS. Lê Trọng Cúc
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường
Đại học Quốc gia Hà Nội
I. Đặt vấn đề
Theo phân loại của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi (UBDTMN), Việt Nam có 10 tỉnh vùng cao
(Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Bắc Cạn, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và Lâm
Đồng), 9 tỉnh miền núi (Lạng Sơn, Quảng Ninh, Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ,
Hoà Bình, Bắc Giang và Bình Phước), và 23 tỉnh có miền núi. Thực sự, đất đai miền núi có diện
tích khoảng 23 triệu ha, chiếm 3/4 diện tích đất đai trong cả nước.
Vùng núi có địa hình phức tạp, ở phía Bắc núi cao, suối sâu, độ dốc lớn, đất feralit đỏ
vàng, nghèo chất dinh dưỡng. ở Tây Nguyên địa hình bằng phẳng hơn. Lớp phủ ba zan đã bị
phong hoá thành đất ba zan màu mỡ, thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp, nông nghiệp
và cây ăn quả. Nằm trong điều kiện nhiệt đới gió mùa, lượng mưa lớn với 1.800 mm/năm trung
bình ở phía Bắc; 2500 đến 3000 mm ở Tây Nguyên; 3000 mm đến 3500 mm ở A Lưới Thừa
Thiên - Huế, Bảo Lộc, Lâm Đồng. Mưa tập trung trong một th
ời gian ngắn thường gây ra lũ lụt,
sụt lở và xói mòn đất, nhiều trận lũ quét tàn phá các công trình công cộng, thuỷ lợi, đường sá
gây tổn thất nặng nề người và của.
Vùng núi Việt Nam có số dân khoảng 25 triệu người, trong đó có hơn 10 triệu người dân
tộc thiểu số, còn lại là người Kinh chuyển từ vùng đồng bằng lên miền núi để tăng cường cán bộ
và phát triển các vùng kinh tế mới qua nhiều giai
đoạn và hình thức khác nhau. Trên các điều
kiện sinh thái và dân cư đa dạng đó có thể sản xuất ra các sản phẩm phong phú về chủng loại có
phủ, áp lực của dân số lên nguồn tài nguyên cạn kiệt và môi trường đang ngày càng suy thoái,
văn hoá truyền thống đang ngày càng bị xói mòn, các dịch vụ xã hội về cơ sở hạ tầng, giáo dục,
y tế, thông tin đ
ang ngày càng được cải thiện. Đây là những yếu tố tương tác với nhau và được
khuyếch đại trong hệ thống thông tin phản hồi, trong đó bất cứ một thay đổi tốt hay xấu nào của
yếu tố này cũng kéo theo những thay đổi tốt hay xấu của các yếu tố kia. Một hệ thống như vậy sẽ
vận hành theo đường phát triển xoắn ốc. Đường xoắn ốc có thể
thay đổi đi lên (tốt) hoặc đi
xuống (xấu), phụ thuộc vào sự cân bằng giữa mức độ tích cực và tiêu cực của bản thân các yếu
tố và tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau.
II. Những vấn đề về chính sách
Một trong những vấn đề quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cả nước nói
chung và miền núi nói riêng trước hết là hệ thống chính sách liên quan đến đất đai. Đảng và Nhà
nước chú ý đặc biệt đến vấn đề này. Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 quy định việc giao đất
nông nghiệp và nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 quy định việc giao đất lâm nghiệp. Nội dung
các văn bản mang tính pháp quy về chính sách đất đai khẳng
định: Đất đai thuộc quyền sở hữu
toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao đất, cho thuê đất để các tổ chức, các hộ
gia đình, các cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, có quyền thừa kế, trao đổi, chuyển nhượng, thế
chấp, và được đền bù khi Nhà nước thu hồi. Đối với miền núi mỗi nông hộ được giao từ 1 đến 2
ha đất canh tác, trong vòng 20 năm và 5 đến 10 ha rừng để quả
n lý với thời hạn 50 năm. Sau
thời hạn đó nếu có nhu cầu vẫn được tiếp tục sử dụng. Chính sách đất đai thực sự là sơ sở
pháp lý đảm bảo cho mọi người dân quyền làm chủ mảnh đất của mình, thúc đẩy sản xuất, nâng
cao năng suất trong sản xuất nông, lâm nghiệp, sử dụng và bảo vệ hợp lý tài nguyên thiên nhiên
và môi trường theo hướng một nền nông lâm nghiệp b
ền vững.
Phân tích số liệu ở một số điểm nghiên cứu của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Đại
học quốc gia Hà Nội về thực trạng sở hữu đất đai ở các hộ gia đình vùng sâu, vùng xa như ở
Khe Nóng (dân tộc Đan Lai), huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An cho thấy con số về ruộng đất chủ
phong tục tập quán mà thường các chính sách ít đề cập đến. Ví dụ, các cư dân canh tác nương
rẫy như người Đan Lai ở Khe Nóng, người Tày ở Bản Tát và một số dân tộc thiểu số khác có
truyền thống sở hữu ruộng đất cộng đồng, trong họ chưa hình thành sở hữu cá nhân. ở đây có lẽ
vấ
n đề sở hữu đất đai, luật pháp và chính sách cần phải chú ý hơn khía cạnh văn hoá, truyền
thống của từng nhóm dân tộc. Có những nhóm dân tộc từ trước đến nay chỉ có sở hữu cộng
đồng. Các thành viên trong buôn làng vừa có quyền khai thác, sử dụng với sự đồng ý của cộng
đồng thông qua già làng, trưởng bản, vừa có trách nhiệm bảo vệ, nhất là các khu vực rừng đầu
nguồn, rừng thiêng và nguồn n
ước. Cũng như ở Bản Tát, xã chỉ cho một mảnh rừng ót (rừng thứ
sinh) nào đó rồi bà con đưa nhau đến khai phá làm nương rẫy. Vì vậy, việc kết hợp được phong
tục, tập quán và luật pháp hiện hành là rất cần thiết và có như vậy thì việc giao đất, giao rừng,
quán lý đất đai, sở hữu đất đai ở các vùng dân tộc mới đi vào thực tế.
Một vấn đề khác là chính sách đất đai chỉ tập trung vào diện tích mà ít quan tâm đến chất
lượng đất sử dụng trong sản xuất. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều nước trên thế giới, thể
hiện qua các nghiên cứu về sở hữu đất đai thường đề cập đến sự công bằng trên cơ sở diện
tích. Ví dụ, chênh lệch diện tích sở hữu đất đai giữa người nhiều đấ
t nhất và ít đất nhất (không
tính người không có đất) ở Châu Mỹ La tinh như ở Brasil hệ số Gini là 0,85 và ở Pê Ru là 0,95. ở
các nước Nam á như ấn Độ, Pakistan khoảng 0,61 (Terry McKinley and Keith Griffin, 1993). ở
Việt Nam theo nghiên cứu trên 5 điểm ở vùng núi của chúng tôi, hệ số Gini diện tích trung bình
khẩu là: Khe Nóng - 0,38; Thài Phìn Tủng - 0,35; Tát - 0,49; Ngọc Tân - 0,34; Làng Thao - 0,45.
Như vậy mức độ chênh lệch về diện tích đất ở đây là không lớn. Tuy nhiên, chênh lệch về giá trị
sử dụng trong s
ản xuất có thể lớn do chất lượng đất khác nhau.
Chính sách đất đai còn liên quan đến tính công bằng xã hội. Hiện nay ở nhiều nơi, nhất là
vùng trung du, miền núi đang phát triển mạnh mẽ mô hình kinh tế trang trại, kinh tế đồi rừng. Luật
đất đai cho phép chuyển nhượng đất, nên một số gia đình có tiền, tích tụ ruộng đất để hình thành
mô hình trang trại và đang được Nhà nước khuyến khích. Nếu những nơi đất chưa sử dụng còn
nhiều thì việc tích tụ đất cho trang trại không thành vấn đề. Nhưng thực tế trên các điểm nghiên
Xinh Mun lên tới 5,0%, Pu Péo 6,1%, Kháng 9,6%. Chênh lệch về tỷ lệ sinh thô ở vùng đồng
bằng và miền núi đang là một khoảng cách lớn. So sánh các tỉnh mi
ền Bắc trung bình ở 3 tỉnh Hà
Nội, Hải Phòng và Thái Bình, tỷ lệ sinh thô ở năm 1999 là 15%o, trong lúc đó trung bình 3 tỉnh
miền núi: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu là 33,03%
o. Như vậy chênh lệch đến hơn 2,2 lần. So sánh
các tỉnh Vĩnh Long, Thành phố Hồ Chí Minh ở Đồng bằng sông Cửu Long với Gia Lai, Kon Tum,
Tây Nguyên thì con số chênh lệch này cũng tương tự.
Nhìn về tỷ suất sinh thô, so sánh giữa hai vùng đồng bằng và miền núi tính trên 1.000 dân
ở năm 1999 cho thấy các tỉnh vùng đồng bằng đều chỉ ở mức đơn vị là 4, còn ở các tỉnh miền núi
ở mức đơn vị là 8, thậm chí ở Hà Giang là 10, Kon Tum là 11. Tuy nhiên, tỷ lệ chết trẻ sơ sinh ở
các tỉnh đồng bằng và thành phố chỉ 10%
o đến 20%o. Trong lúc đó ở miền núi phần lớn là 60%o,
có tỉnh như Kon Tum lên đến 82,64%
o. Những con số trên đây cho thấy ở các tỉnh miền núi, hệ
thống y tế, chăm sóc sức khoẻ người dân nói chung, sức khoẻ sinh sản nói riêng đang gặp rất
nhiều khó khăn. Nếu như số phường, xã ở vùng đồng bằng số bác sĩ chiếm tỷ lệ khá cao từ 70
đến gần 100% thì các phường xã vùng miền núi chưa đến 2%, có nơi như Lai Châu, Sơn La là
0%. Số phường xã ở các tỉnh vùng đồ
ng bằng chưa có trạm y tế chỉ từ 1-2 đến 5-7 xã thì vùng
miền núi là 45-50 xã đến 90 xã, ở Lạng Sơn có đến 94 xã. (Khổng Diễn, 2001).
Nhìn về cấu trúc tuổi dân số cho thấy số dân dưới tuổi lao động (0-14 tuổi) trong cả nước
năm 1999 là 33,1%. Trong lúc đó ở miền núi có tới 18 dân tộc, con số đó là trên 45%, thậm chí
có dân tộc như H'Mông là 50,29%. Nếu cộng cả số người dưới tuổi lao động và số người già trên
tuổi lao động thì có khá nhiều dân tộc, một người lao động phải nuôi trên một người ăn theo. Với
tỷ lệ dân số trẻ ở miền núi như hiện nay và hiện tượng kết hôn sớm đang rất phổ biến, báo động
cho một xu hướng tăng dân số trong vài thập niên tới là không thể tránh khỏi.
Mặc dù chúng ta đã có một chương trình Dân số và Kế hoạch hoá gia đình, Đảng và Nhà
nước đã
đề ra cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch từ đầu những năm 60, đã có hàng trăm văn
nước tăng 17,67%, trong lúc
đó Tây Nguyên tăng 58,41%, Tây Bắc 21,35%. Tỷ lệ dân tộc Kinh ở
miền núi tăng 35-45% ở những năm cuối 80 đầu 90 và hiện nay là 45-75%. Mật độ trung bình
dân số miền núi đã tăng lên từ 70 đến 100 người/km
2
. Việc di dân tự do ồ ạt làm cho các chính
quyền địa phương nơi nhập cư đã không kiểm soát được. Cùng với sự gia tăng dân số, thêm
vào đó sự áp đặt kinh nghiệm canh tác từ vùng đồng bằng vào vùng đất dốc đã làm cho nhiều
vấn đề môi trường trở nên trầm trọng hơn. Việc di cư tự do đã tạo nên cạnh tranh về đất đai và
đẩy một bộ phận dân cư
lùi sâu vào rừng, do vậy rừng lại tiếp tục bị tàn phá.
IV. Định canh định cư
Vấn đề dân số và quyền sở hữu đất đai, sử dụng đất đai liên quan đến Chương trình định
canh định cư (ĐCĐC). Nghị quyết số 38-CP ngày 12/3/1968 nêu toàn diện công tác định canh
định cư, một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng của đất nước nhằm ổn định làm ăn
cho hơn 3 triệu người thuộc 52 dân tộc trong diện du canh du cư trên cả nước.
Năm 1992 công tác định canh định cư đưa vào chương trình 327. Nghị quyết 556 năm
1995 tách ĐCĐC ra khỏi 327. Hiện nay cả hai chương trình đều do bộ NN va PTNT thực hiện
nên công tác ĐCĐC vẫn thực hiện theo cơ chế của 327. Cho đến năm 1995 đối tượng vận động
định canh định cư là 503.444 hộ (3.063.912 nhân khẩu), trong đó diện du canh du cư có 191.881
hộ (1.240.225 nhân khẩu). Diện định cư du canh gồm 311.563 hộ (1.823.225 nhân khẩ
u). Sau
8
hơn 30 năm thực hiện công tác định canh định cư, đến nay đã có 167 ngàn hộ (trong số 503.444
hộ, 1995) đã hoàn thành và hoàn thành cơ bản ĐCĐC (Đỗ Văn Hoà, 2002).
Công tác định canh, định cư thực hiện mấy chục năm vừa qua đã có một số kết quả nhất
định, nhưng cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Chẳng hạn, trong định canh, định cư chỉ chú trọng
nhiều đến việc xây dựng cơ bản trước mắt, nhà cửa, đường sá mà ít chú ý đến điều kiện làm ăn,
sinh sống lâu dài. ít chú ý đến sự tham gia của nhân dân địa phương, là những chủ thể đáng ra
bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm, giảm nhẹ ô nhiễm môi trường và sức tàn phá c
ủa thiên
tai. Do điều kiện địa lý kéo dài trên nhiều vĩ tuyến và cao độ, từ vùng khí hậu nhiệt đới phía Nam
đến vùng khí hậu ôn hoà ở các vùng núi phía Bắc đã tạo nên sự đa dạng về các hệ sinh thái
rừng, với nguồn tài nguyên rừng phong phú và đa dạng. Năm 1943 nước ta có khoảng
14.325.000 ha rừng, chiếm 43,70% diện tích rừng che phủ trong cả nước. Đến năm 1990 chỉ còn
lại khoảng 9.175.600 ha chiếm 28%.
Bảng I.1.1. Sự thay
đổi độ che phủ rừng giữa 1943 và năm 2000
Năm Diện tích (ha) Độ che phủ(%)
9
Rừng tự nhiên Rừng trồng Tổng số
1943 14.325.000 000 14.325.000 43,70
1975 (6) 11.076.700 92.600 11.169.000 34,00
1980 10.186.000 422.300 10.608.000 32,40
1985 9.308.300 583.600 9.891.900 30,10
1990 8.430.700 744.900 9.175.600 28,00
1995 8.252.500 1.049.700 9.302.200 28,50
2000 9,444,198 1,471,394 10.915.592 33,20
Nguồn: FIPI 1995, Ban chỉ đạo kiểm kê rừng Trung ương, 2001.
Đến nay, nhờ những nỗ lực to lớn trong công tác phục hồi rừng và trồng rừng, độ che phủ
rừng đã lên tới 33,20% với tổng diện tích 10.915.592 ha trong đó diện tích rừng tự nhiên là
9.444.198 ha, bao gồm rừng gỗ 7.779.647 ha, rừng tre nứa 789.221 ha, rừng hỗn giao giữa rừng
lá rộng và tre nứa, rừng lá rộng và lá kim 702.871 ha, rừng ngập mặn 71.020 ha và rừng trồng là
1.471.394 ha (Bảng I.1.1).
trung vào khai thác g
ỗ và các sản phẩm phi gỗ để bán và mở mang diện tích đất nông nghiệp
theo kế hoạch mà không dựa vào khả năng của rừng. ở Tây Nguyên Nhà nước lấy đất cho các
lâm trường tính ra cũng đến 90%. Đắk Lắk chỉ tiêu khai thác có năm lên đến 500.000m
3
và trong
vòng 10 năm đã tàn phá 32.000 ha mà chỉ trồng mới được có 9.000 ha. Mặt khác, du canh vẫn
tồn tại ở một số nhóm dân tộc cho đến tận ngày nay. Theo Đỗ Đình Sâm (1994) thì có khoảng 24
triệu người sống trong rừng và xung quanh các vùng rừng. Trong đó có khoảng 9 triệu người dân
tộc thiểu số thì có 2.879.685 người thuộc 482.512 hộ sống bằng nghề nương rẫy. Vì vậy, rừng bị
khai thác quá mức, suy thoái trầm trọng. Đến năm 1968 chính phủ
mới đề ra chương trình định
canh định cư, nhưng thực hiện không mấy thành công.
VI. Canh tác nương rẫy
Từ xưa, nương rẫy vẫn là nguồn sống quan trọng của các dân tộc vùng núi. Một trong
những tác động mạnh mẽ nhất giữa con người và sinh quyển trong nông nghiệp là canh tác
nương rẫy. Canh tác nương rẫy là một hình thái nông nghiệp cổ sơ nhất, tàn phá tài nguyên
rừng mạnh mẽ nhất. Đó là phương thức phát và đốt, khởi đầu của nền trồng trọt. Nông nghiệp
phát đốt đã được áp dụng t
ừ kỷ nguyên Neolithic, không những ở các vùng nhiệt đới châu Phi,
châu Mỹ, châu á - Thái Bình Dương mà cả châu Âu, bao gồm nhiều dân tộc có nguồn gốc khác
nhau (Spenser, 1966). Người nguyên thuỷ, khởi đầu dựa vào các đám cháy rừng tự nhiên rồi về
sau mới biết phát đốt để gieo trồng. ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, nền nông nghiệp cổ sơ ấy tồn
tại dai dẳng cho đến ngày nay với nhiều tên gọi khác nhau: La đ
ang, Hu ma (Indonesia), Jhum
(án Độ), chena (Sri Lanca), kai gan (Philippin), ray (Thái Lan, Đông Dương). Trong tiếng Anh
cũng dùng nhiều tên gọi khác nhau: slash and burn, shifting cultivation, swidden agriculture.
Trong tiếng Việt chúng tôi gọi là "canh tác nương rẫy".
Có thể định nghĩa Canh tác nương rẫy là một hệ thống nông nghiệp phát đốt mà thời kỳ
gieo trồng thường ngắn hơn thời kỳ bỏ hoá. Đặc điểm chung của loại hình trồng trọt này là phát
Ngoài việc khai hoang mở mang đất nông nghiệp còn các công trình đường điện, thuỷ
điện, làm đường, cháy rừng, chiến tranh chất độc hoá học đã làm cho rừng ngày càng suy thoái
trầm trọng. Vì vậy, trong thời kỳ trước năm 1990 rừng liên tục bị tàn phá, hàng năm trung bình
mất đi từ 200 đến 300 nghìn ha. Trong 10 năm trở lại đây, thực hiện chủ trương chuyển đổi từ
nền lâm nghiệp Nhà nước tập trung sang nền lâm nghiệp xã hội. Chính phủ đã giao quyền sử
dụng đất lâm nghiệp chưa có rừng một cách ổn định lâu dài trên 2 triệu ha cho các tổ chức và hộ
nông dân, trong đó có 1,4 triệu ha đã giao cho hộ gia đình để trồng rừng, trồng cây
ăn quả lâu
năm, cây công nghiệp sở hữu tư nhân, hình thành các loại chủ rừng thuộc nhiều thành phần kinh
tế khác nhau (Nguyễn Ngọc Lung, 2002). Vì vậy, rừng được bảo vệ, mức độ suy thoái ngày càng
giảm đi rõ rệt.
Mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng và đã đạt được những kết quả nhất định trong
việc phục hồi và phát triển vốn rừng. Tuy nhiên, chính sách giao rừng và cơ chế thực hiện chưa
đủ để đảm bảo cuộc sống cho người dân, chưa khuyến khích nông dân các dân tộc trồng rừng,
đầu tư để kinh doanh rừng. Rừng chưa phải là nguồn sống chính của người làm rừng. Mức
khoán 50.000 đồng trên 1 ha nhưng thực tế người dân chỉ nhận được 30.000 - 40.000đ là mức
quá thấp, không tương xứng với công sức bỏ ra để bảo vệ rừng. Và bả
o vệ như vậy rồi họ được
hưởng lợi nhuận gì cũng chưa rõ. Có nơi khi nhận rừng để bảo vệ lại còn phải trả tiền. Một hộ
nông dân nhận 10 ha rừng để bảo vệ phải nộp 500.000đ để làm giấy tờ, thủ tục. Mặt khác, chưa
có chính sách phát triển nguồn nhân lực thực sự ở người dân để đưa họ trở
thành người làm
nghề rừng thực thụ. Vì vậy, phải có chính sách dạy nghề, tạo ra nguồn nhân lực, phổ cập, bồi
dưỡng kiến thức thực tiễn về nghề rừng cho quảng đại nhân dân làm lâm nghiệp.
VII. Rừng trồng và chương trình 5 triệu ha rừng
Về rừng trồng, năm 1975 pháp lệnh bảo vệ rừng đã được ban hành. Pháp lệnh này bao
gồm các quy định về quản lý rừng, trồng rừng, chống sâu bệnh và cháy rừng. Thực chất thì từ
năm 1965 Nhà nước đã chú ý đến công tác trồng rừng. Và năm 1975 chúng ta đã có một diện
tích rừng trồng là 92.600 ha. Con số này đến nay (1999), sau gần 30 năm đã lên đến 1.471.394
ha. Để có được diện tích rừng trồng như v
ặt rừng tự nhiên
đang phục hồi để trồng lại rừng cây vườn ươm.
VIII. Đa dạng sinh học
Về hiện trạng đa dạng sinh học, chúng tôi chỉ đề cập đến hai mức độ: Đa dạng loài và đa
dạng hệ sinh thái. Đa dạng hệ sinh thái được tập trung vào các khu rừng đặc dụng (theo ngôn
ngữ của bộ Lâm nghiệp) hay nói đúng hơn là hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên. Hiện nay,
chúng ta đã có trên 100 khu rừng đặc dụng với diện tích trên 2 triệu ha. ở vùng núi có khoảng 80
khu rừng đặc dụng v
ới diện tích gần 2 triệu hecta đã được thành lập. Mục đích xây dựng các hệ
sinh thái rừng đặc dụng là để bảo tồn các sinh cảnh rừng khác nhau, bảo tồn nguồn gen động
vật và thực vật rừng, bảo tồn các khu rừng có giá trị về cảnh quan, văn hoá, lịch sử và bảo vệ
sức khoẻ con người, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo. Trong các
vă
n bản trước năm 2001 rừng đặc dụng được chia làm 3 hạng: Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên
nhiên và rừng văn hoá, lịch sử và môi trường. Gần đây trong Quy chế quản lý rừng đặc dụng
mới ban hành theo Quyết định số 08-2001/QĐ-TTg ngày 11/1/2001 của Thủ tướng chính phủ,
rừng đặc dụng được chia thành 3 hạng như cũ, riêng Khu bảo tồn thiên nhiên được chia thành 2
phân hạng: Khu dự trữ thiên nhiên và Khu bảo tồn loài/ sinh c
ảnh. Hiện nay nhiều khu bảo tồn
mới đã được hình thành, hầu hết các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên đã được phê
duyệt "Luận chúng kinh tế kỹ thuật" hay "Dự án đầu tư" và hình thành ban quản lý. Cũng trong
giai đoạn này sự hỗ trợ quốc tế cho công tác bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam đang được đẩy
mạnh, Nhiều dự án đầu tư lớn đang được thự
c thi ở nhiều khu bảo tồn có tính đa dạng sinh học
cao trong cả nước.
Ngoài các khu bảo tồn thiên nhiên, Việt Nam cũng đã tham gia vào hệ thống các khu Dự
Trữ Sinh quyển (Biosphere Reserve). Hiện nay, UNESCO quốc tế đã công nhận 2 khu dự trữ
Sinh quyển Việt Nam: Khu Dự trữ Sinh quyển Cần Giờ và khu Dự trữ Sinh quyển Cát Tiên. Mạng
lưới quốc tế các khu Dự trữ Sinh Quyển đại diện cho các hệ sinh thái toàn cầu đ
ã được Đại Hội
- Megamuntiacus vuquangensis (1994), Bò sừng xoắ
n - Pseudonovibos spiralis (1994), Mang
Trường Sơn - Canimuntiacus truongsonensis (1997). Và gần đây ba loài chim mới được phát
hiện ở Tây Nguyên: loài khướu Ngọc Linh (Garrulax ngoclinhensis), Khướu vằn mào đen
(Actinodura sodangorum) và loài khướu Kong Ka Kinh (Garrulax konkakingensis) (Võ Quý,
2002). Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú này đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của đất nước.
Cũng cần phải thấy rằng mặc dù số lượng các loài động vật, thực vật Việt Nam rất phong
phú và đa dạng, nhưng số
lượng cá thể của mỗi loài không nhiều nên khi khai thác không hợp lý
rất dễ bị nguy cơ tuyệt chủng. Trong sách đỏ Việt Nam (1996) phần thực vật đã thống kê được
356 loài đang có nguy cơ bị tuyệt diệt. Nhiều loài cây gỗ, cây thuốc quý đang trở nên rất hiếm
như: cẩm lai, mun, trầm hương, lát hoa, sâm Ngọc Linh, vàng đắng, ba kích, v.v. Phần động vật
(1992) cũng đã thống kê được 366 loài đang có nguy cơ bị tuy
ệt diệt.
Những nguyên nhân làm suy giảm đa dạng sinh học là do sức ép của gia tăng dân số.
Những người dân sống trong rừng và xung quanh các vùng rừng vẫn phải dựa vào việc thu hái
lâm sản hoặc săn bắt động vật hoang dã để sống, đưa đến việc khai thác quá mức. Trình độ dân
trí của người dân địa phương còn thấp, chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo
vệ thiên nhiên đối v
ới tương lai của con người. Chưa thực sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển,
không những trong hoạt động của nhân dân mà cả trong các văn bản pháp luật của Nhà nước.
14
Các cộng đồng địa phương còn ít được tham gia công tác quản lý bảo tồn thiên nhiên. Mặt khác,
do nhu cầu gỗ quý và các loài động vật hoang dã, các sản phẩm phi gỗ ở thị trường trong và
ngoài nước ngày càng tăng, nạn buôn bán gỗ và động vật hoang dã trái phép vẫn còn phổ biến
là nguyên nhân chính của sự mất mát tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học. Chính phủ đã
ra hàng loạt các văn bản pháp luật và chính sách liên quan đến công tác bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và đa dạng sinh học, nhưng vẫ
ổi kịp tốc độ tăng dân số. Rừng bị tàn phá nặng nề, đất đai suy
thoái mạnh do xói mòn, thực tế là thiếu tài nguyên đất để sản xuất nông nghiệp, năng suất lúa
nương chỉ đạt được 500 đến 600 kg/ha. Ngoài ra, cơ cấu sản xuất, thị trường tiêu thụ đang còn
nhiều bất cập. Vấn đề thể chế ở miền núi còn nhiều tồn tại, chưa thích h
ợp với các vùng, các đặc
điểm truyền thống và dân tộc khác nhau. Các thể chế và hành động tập thể hiện nay còn chưa
được xác định cho thích hợp với điều kiện tổ chức xã hội của vùng. Mặc dù trong thời gian qua
công tác khuyến nông đã có nhiều cố gắng. Tuy nhiên, qua các điểm điều tra cho thấy nhiều nơi
khuyến nông chưa đến được với dân, hoặc đến cũng chỉ phổ
biến những kỹ thuật tiên tiến,
chung chung chưa có những kỹ thuật thích hợp với điều kiện từng vùng, chưa kết hợp được kỹ
thuật tiên tiến với truyền thống, chưa coi trọng tri thức địa phương. Có nơi gọi là làm khuyến
15
nông nhưng thực chất chỉ làm công tác dịch vụ đơn thuần, chạy theo cơ chế kinh tế thị trường
vận hành theo cơ chế lợi nhuận.
Trong nông nghiệp hiện nay ở miền núi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đang được đặc biệt
quan tâm. Trong 10 năm qua những vùng trồng vải thiều như Lục Ngạn, cam quýt Tuyên Quang,
Hà Giang, Na Đồng Hỷ nằm trên các trục đường giao thông thuận tiện đã thu được lợi nhuận
không nhỏ. Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng là một vấn đề đòi hỏi nghiên cứu thận
trọng và nghiêm túc về các khía cạnh sinh học, sinh thái, đất đai, khí hậu, thị trường, văn hoá
truyền thống, mới có thể đưa đến những kết quả chắc chắn và phát triển một cách bền vững.
Trong đợt nghiên cứu ở Ngọc Tân, huyện Đoan Hùng, tỉ
nh Phú Thọ nhân dân cho biết, chương
trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam - Thụy Điển đã hỗ trợ kỹ thuật và cây giống cho bà
con thay đổi cơ cấu cây trồng trong vườn nhà. Bà con đã rất nhiệt tình hưởng ứng và loại bỏ tất
cả các cây ăn quả cũ, cho là không năng suất và ít có giá trị, thay vào đó là các giống cam, mơ
mới, năng suất cao, chất lượng tốt. Sau 4-5 năm khi cam, mơ đã ra hoa kết trái, n
ăng suất rất
cao, hình thức rất đẹp. Nhưng cam thì chua "tàn bạo" như lời bà con nói, mơ thì mơ lai không
hộ điều tra chỉ có 1 hộ là đảm bảo được 10 tháng, một hộ được 8 tháng, 4 hộ được 6 tháng còn
nữa chỉ đảm bảo được 3, 4, 5 tháng. ở Thài Phìn Tủng ă
n ngô thay gạo cũng chỉ có 13 hộ trong
16
số 40 hộ (33%) có đủ ngô ăn trong 12 tháng, còn phần lớn các hộ khác cũng chỉ đủ ăn trong 8
đến 11 tháng.
Khi điều tra ở thôn Yang Roong, Kon Tum thì tất cả các hộ đều có nhu cầu phát triển lúa
nước. Người dân đã tận dụng phần đất thấp ở ven suối Đắk Cấm và các hố bom ở vùng đất cao
hơn để trồng lúa nước, nhằm đảm bảo nhu cầu về gạo, giảm sự lễ thuộc vào việc làm sắn, mía
và lấy tiền cho thuê đất, bán đất và làm thuê để mua gạo. Họ đang tìm mọi cách để mở thêm đất
trồng lúa. ở thôn Klau Klảh, Kon Tum cũng thế, đất lúa nước đang đóng vai trò rất quan trọng.
Ngoài diện tích đất đã được sở hữu trong số đỏ, nhiều hộ còn khai hoang thêm, và đất trồng lúa
nước đã trở thành đất hàng hoá, mua bán, trao đổi cho thuê cũng tương tự như đất cà phê v
ậy.
Mặc dù chúng ta vẫn nói chúng ta đã giải quyết xong cơ bản về vấn đề lương thực, nhưng thực
chất vẫn là đại thể, còn các vùng sâu, vùng xa vấn đề lương thục vẫn đang rất khó khăn. Việc
tìm kiếm, khai khẩn đất có khả năng trồng lúa nước vẫn được ưu tiên hàng đầu.
Nói như vậy không có nghĩa là không nên thay đổi cơ cấu cây trồng. Tuy nhiên, thay đổi cơ
c
ấu cây trồng là một vấn đề khoa học kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn, hiện đại và
truyền thống. Mặt khác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng liên quan tới nhiều điều kiện như cơ sở hạ
tầng, đường, điện, kỹ thuật, vốn, thị trường, v.v. Những điều kiện đó ở miền núi đ
ang rất yếu
kém, thiếu thốn, còn nhiều khó khăn và rất khác nhau, có nơi thay đổi thì tốt, có nơi thì chưa thể
thay đổi ngay được. Nhà nước cần có những đầu tư thích đáng cả về nghiên cứu khoa học và áp
dụng thực tiễn mới giải quyết được vấn đề này.
XI. Phát triển kinh tế hàng hoá
Định hướng phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước đã được thực hiện từ năm 1986 và trong chính sách đã có nhiều
Nhìn chung, các ngành nghề ở đây gọi là nghề nhưng vẫn chưa thực sự có hàng hoá, chỉ
mới bắt đầu vào nghề nhằm khai thác có hiệu quả các lợi thế về tự nhiên, phát huy tiềm năng
con người sẵn có, tận dụng thời gian nông nhàn, dần dần đi vào kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị
trường. Qua các điểm nghiên cứu cho thấy hiện nay miền núi và các dân tộc thiểu số đang biểu
lộ rõ nét về nguồn lao động chất lượng thấp. Các nghề truyền thống chưa phát triển, chưa tiếp
thu được khoa học kỹ thuật tiên tiến, để dần dần đổi mới, nâng cao chất lượng lao động trong
nghề. Các ngành nghề phi nông nghiệp đang phát triển một cách khó khăn, mà không có hoạt
động này thì không thể tạo công ăn việc làm cho người lao động, không thể rút lao động ra khỏi
nông nghiệp, giảm b
ớt áp lực dân số trong các hệ nông nghiệp. Vì vậy, sự phát triển bền vững
đòi hỏi phải vừa sản xuất lương thực, vừa sản xuất nông sản hàng hoá cho thị trường, vừa phát
triển ngành nghề phi nông nghiệp để tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho các nông hộ, vừa
bảo vệ môi trường. Muốn giải quyết vấn đề này cần phải có chương trình phát triển nông thôn
tổng h
ợp, trong đó các thành phần kỹ thuật, các ngành nghề khác nhau và thể chế như tín dụng,
khuyến nông, thị trường, tổ chức nông dân, v.v, cần có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực mới để
phát triển các ngành nghề mới cho phù hợp với yêu cầu thay đổi hiện tại.
XII. Xoá đói giảm nghèo
Chương trình xoá đói giảm nghèo thực sự trở thành chương trình quốc gia từ năm 1998,
theo quyết định của Thủ tướng chính phủ (Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg). ở miền núi vấn đề
này được đề cập khá đầy đủ trong Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ,
"Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa
hay gọi là chương trình 135". Mụ
c tiêu tổng quát của chương trình 135 là: Nâng cao nhanh đời
sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng
sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc
hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước góp phần bảo đảm trật tự
an toàn xã hội, an ninh quốc phòng. Xoá đói giảm nghèo là một chương trình lớn đang được
quan tâm mọ
i lúc, mọi nơi, là một chương trình liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm:
Tuy nhiên, nguyên nhân của sự nghèo đói có khi không chỉ không có vốn mà còn nhiều
nguyên nhân khác nhau bao gồm sự biệt lập về mặt địa lý, ngôn ngữ, không có lợ
i thế tiếp nhận
thông tin, khoa học kỹ thuật, thiếu vốn, bệnh tật bẩm sinh, có quá nhiều con cái, không có lao
động, thiếu sự tham gia năng động, không có khả năng quy hoạch phát triển, sử dụng không hợp
lý tài nguyên thiên nhiên. Đối với một số hộ nghèo như vậy được vay tín dụng không phải là cơ
may, vì họ chẳng biết làm gì với số tiền vay được. Khi đánh giá nghèo người ta thường nghĩ đến
mức thu nh
ập. Nhưng thực tế nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn là sự
thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ như giáo dục, thuốc men. Không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu
những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống, mà còn trong tình trạng đe doạ bị mất những phẩm chất
quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng.
Để thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo cần kết hợp với các chương trình quốc
gia khác như chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi, chương trình tạo việc làm, chương
trình y tế, giáo dục, nước sạch, phát triển nông thôn, v.v., vì các chương trình này cũng đều có
cùng một mục đích cuối cùng là xoá đói giảm nghèo. Giải quyết được vấn đề này thì sẽ khắc
phục được đầu tư dàn trải và chồng chéo. Mặt khác, để thự
c hiện tốt chương trình xoá đói giảm
nghèo cũng như các dự án khác ở nông thôn miền núi, cần có cơ chế, chính sách hợp lý trong
việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đồng thời cần có chính sách thu hút lực lượng lao động
có chất lượng cao, tham gia các dự án và chương trình phát triển. Sự tham gia có tính quyết định
trong việc xây dựng, thiết kế các dự án này không thể thiếu sự đóng góp của người dân địa
phương. Nếu được xây dựng, thiết kế có sự đóng góp của người dân địa phương sẽ làm cho
các biện pháp can thiệp phù hợp hơn với hoàn cảnh, đến những yếu tố kinh tế - văn hoá - xã hội
truyền thống cũng như các nhu cầu, lợi ích thực tế của địa phương và các nhóm dân cư. Những
vấn đề này chưa thấy được thể hiện ở nhiều đ
iểm nghiên cứu.
XIII. Y tế, sức khoẻ cộng đồng
Xem xét tình hình chăm sóc sức khoẻ và chữa trị thì hầu hết các xã đều có trạm xá, và có
cán bộ y tế. Mạng lưới y tế cơ sở (xã, thôn bản) đã được hình thành. Vấn đề khó khăn nhất là