MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
3
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước nhiệt đới, rừng và đất rừng chiếm 2/3 diện tích
đất đai cả nước. Rừng là môi trường sống và là nơi hoạt động chủ yếu của
hơn 24 triệu đồng bào thuộc 54 dân tộc anh em khác nhau, đồng thời rừng
cũng là nhân tố quan trọng và quyết định hàng đầu góp phần bảo vệ môi
trường sinh thái. Tuy nhiên cho đến nay diện tích rừng nước ta đã và đang bị
suy giảm nhanh chóng.
Theo “Chiến lược phát triển lâm nghiệp 2006 - 2020” của Bộ NN &
PTNT, 2007 ở Việt Nam hiện nay đã vượt qua được thời kỳ suy thoái diện
tích rừng. Diện tích rừng tăng từ 9,3 triệu ha năm 1995 lên 11,31triệu ha năm
2000 và 12,61 triệu ha năm 2005 (bình quân tăng khoảng 0,3 triệu ha/năm).
Diện tích trồng mới tăng từ 5.000 ha/năm lên 20.000ha/năm, diện tích rừng tự
nhiên cũng được khoanh nuôi bảo vệ phục hồi nhanh, đã làm tăng đáng kể
năng lực phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học của rừng.
Hiện nay, ở Việt Nam tệ nạn chặt phá rừng bừa bãi vẫn liên tục diễn ra,
nhất là những nơi còn rừng tự nhiên, trữ lượng rừng còn tốt, có nhiều cây gỗ
to và quý, như: Huyện Võ Nhai (Thái Nguyên), huyện Na Rì (Bắc Kạn),
huyện Hương Khê (Hà Tĩnh), Tuyên Hóa (Quảng Bình), Ngoài ra nạn cháy
rừng vẫn xảy thường xuyên hành năm, gây thiệt hại rất lớn, nhiều cánh rừng
trở nên hoang tàn, nhiều loài động vật mất nơi cư trú.
Cháy rừng là một thảm họa thường xuyên xảy ra ở nhiều nước trên thế
giới trong đó có Việt nam gây nên những tổn thất to lớn về tài nguyên, của
cải, môi trường và cả tính mạng con người. Vì vậy phòng cháy chữa cháy
rừng là một nội dung quan trọng của công tác quản lý bảo vệ rừng và môi
trường. Tính riêng ở Việt Nam theo con số đã thống kê cháy rừng đã thiêu
vệ rừng tại địa phương, phát triển bền vững tài nguyên rừng, góp phần vào
công cuộc phát triển đất nước và sự nghiệp lâm nghiệp quốc gia, tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm TP. Lạng Sơn -
Tỉnh Lạng Sơn”.
1.2. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ
1.2.1. Điều kiện của bản thân
4
5
Là một cán bộ kiểm lâm đang công tác tại Hạt kiểm lâm TP. Lạng Sơn
thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lạng Sơn, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao, tuy nhiên còn rất nhiều khó khăn,
tồn tại mà bản thân chưa thể giải quyết được, nhất là trong giai đoạn hiện nay
ở TP. Lạng Sơn hiện tượng cháy rừng vẫn thường xuyên xảy ra.
Được lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lạng Sơn, trực tiếp là lãnh đạo
Hạt kiểm lâm TP. Lạng Sơn đã tạo điều kiện cho tôi đi học nâng cao trình độ,
nay đã đến thời gian làm chuyên đề tốt nghiệp tôi mong muốn qua nghiên cứu
chuyên đề này một phần giúp tôi và đồng đội của mình trong lực lượng Kiểm
lâm TP. Lạng Sơn có thêm được thực trạng khách quan về tình hình quản lý
bảo vệ rừng ở TP. Lạng Sơn nói riêng và tỉnh Lạng Sơn nói chung đề xuất và
thực thi các giải pháp nhằm hoàn thành tốt được nhiệm vụ của mình trong
công tác quản lý bảo vệ rừng.
1.2.2. Điều kiện của cơ sở, địa phương nơi triển khai thực hiện chuyên đề
1.2.2.1. Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Thành phố Lạng Sơn nằm giữa một lòng chảo lớn, có dòng sông Kỳ
Cùng chảy qua trung tâm Thành phố đây là dòng sông chảy ngược. Nó bắt
nguồn từ huyện Đình Lập của Lạng Sơn và chảy theo hướng Nam - Bắc về
huyện Quảng Tây - Trung Quốc. Thành phố cách thủ đô Hà Nội 154 km, cách
biên giới Việt Trung 18 km. Nằm trên trục đường quốc lộ 1A, đường sắt liên
b) Địa hình
Thành phố nằm trên nền đá cổ, gồm các kiểu địa hình: xâm thực bóc
mòn, cacxtơ và đá vôi, tích tụ. Thành phố Lạng Sơn có độ cao trung bình từ
200 - 300 m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 20 - 25
0
. Địa hình bị
chia cắt bởi nhiều khe suối nhỏ, có nhiều lòng máng trũng thấp dần về phía
Nam.
c) Đất đai
Thành phố có 5 phường trung tâm, và 3 xã ngoại thành, trong đó có
01 phương và 03 xã là có diện tích đất lâm nghiệp tập trung với diện tích là
TP Lạng Sơn
Địa bàn
6
7
4.910,75 ha. Còn các phường nội thành thì diện tích rừng nhỏ lẻ, chỉ có
19,5 ha).
Cụ thể về diện tích đất đai của thành phố Lạng Sơn được tổng hợp vào
bảng sau:
Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất ở TP. Lạng Sơn (năm 2011)
Loại đất Diện tích ( ha ) Tỷ lệ ( % )
Tổng diện tích đất tự nhiên 7.811,14 100
1. Diện tích đất SX lâm nghiệp 4.930,12 63,34
1.1. Rừng tự nhiên
1.2. Rừng trồng
1.3. Đất chưa có rừng
471,65
3578,06
880,54
2. Diện tích đất SX nông nghiệp 1.240,56 15,66
C, có hiện
tượng tuyết rơi trên đỉnh nùi Mẫu Sơn. Trong mùa khô có nhiều đợt gió mùa
Đông Bắc kèm theo mưa phùn. Tuy nhiên về mùa này cơ bản về thời tiết khô
ráo phù hợp với công tác nghiên cứu khảo sát địa chất.
Hướng gió: Từ tháng 4 - 10 hàng năm có hướng gió Nam - Đông -
Nam, từ tháng 11 - 3 năm sau hướng gió Bắc - Đông - Bắc đặc điểm hanh
khô, độ ẩm không khí thấp. thời điểm này thường xảy ra cháy rừng.
e) Thủy văn - Sông ngòi
Các sông suối phân bố ở phần phía Nam thành phố Lạng Sơn và một số
nơi khác trong vùng. Sông Kỳ Cùng chảy qua thành phố theo hướng từ Đông
sang Tây.
Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ dãy núi Mẫu Sơn ở phía Đông, chảy theo
hướng Đông Nam - Tây Bắc đến vùng nghiên cứu sông uốn lượn rồi chảy
theo các phương khác nhau đến Thất Khê, sông chảy vào sông Bằng Giang
(Trung Quốc).
Sông Kỳ Cùng có chiều dài khoảng 15 km, chảy qua các đất đá và các
địa tầng khác nhau, chịu ảnh hưởng của các cấu trúc khe nứt, đứt gãy, nên
hướng dòng chảy thay đổi, chiều rộng và chiều sâu lòng sông khác nhau.
Đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn với địa hình tương đối bằng phẳng, phân
bố đá hoà tan nên dòng được mở rộng khoảng 60-80m, có nơi đến gần 100m.
Dòng sông uốn khúc, nước chảy chậm, bờ sông là nơi tích tụ phù sa của sông
Kỳ Cùng, có nơi là đá vôi hoặc đá trầm tích lục nguyên. Lưu lượng của sông
thay đổi từ 4,48m3/s về mùa khô, đến 7396m3/s về mùa mưa.
Trong vùng nghiên cứu có ba con suối là các suối Na Sa, suối Lau Li và
suối Ki Ket. Các suối có chiều rộng từ 1m đến 20m. Suối có nhiều nước vào
mùa mưa và ít nước và mùa khô.
8
9
Giao thông: Hệ thống giao thông trên địa bàn Thành phố khá hoàn
chỉnh, có đường quốc lộ 1A, 4A, 4B, đường sắt liên vận quốc tế chạy qua.
10
ngoại thành. Thành phố Lạng Sơn là tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn, có diện tích là
7811,14 ha. Toàn thành phố có 24.709 hộ, dân số 89.329 người gồm các dân
tốc anh em: Kinh, Tày, Nùng và các dân tốc khác cùng sinh sống.
Thành phố có diện tích rừng phân bố trong 03 xã (Hoàng Đồng, Mai
Pha và Quảng Lạc), 01 phường là Chi Lăng. Các xã phường trên có tổng số
hộ là 9.194 hộ với 34.759 nhân khẩu sống tại 57 thôn, khối; trong đó: 41 thôn,
khối có rừng. Tại các thôn, khối phố năm 2020 đã thành lập tổ bảo vệ rừng
và PCCCR, hàng năm các tổ, đội đều được kiện toàn lại ngày càng vững
mạnh và hoàn thiện.
+ Đặc điểm dân sinh - kinh tế: 80% hộ gia đình tại các xã phường có
rừng đều sản xuất nông lâm nghiệp, 20% còn lại là kinh doanh, tiểu thủ công
nghiệp và công chức Nhà nước.
Sản xuất nông lâm nghiệp: Nông nghiệp của vùng phát triển chưa cao,
một phần do điều kiện địa hình khí hậu không thuận lợi cho khai trồn các loại
cây công nghiệp và phần cơ bản khác là phương thức canh tác còn lạc hậu.
Tuy nhiên, địa hình khí hậu thuận lợi cho việc trồng cây hoa màu và rau có
chất lượng cao. Sản phẩm rau quả ở đây được ưa chuộng tại địa phương và
các vùng xung quanh. Trong những năm gần đây nông nghiệp và lâm nghiệp
đã được chú ý hơn nên diện tích đồi núi trọc đã giảm đáng kể đồng thời nạn
phá rừng đã cơ bản được hạn chế.
Thương nghiệp: Trong những năm gần đây chính sách mở cửa Nhà
nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thương nghiệp.
Giao lưu hàng hóa giữa Lạng Sơn với Trung Quốc lưu thông hàng hóa tập
trung tại các khu vực Kỳ Lừa, Đông Kinh, Tân Thanh, Đồng Đăng. Hàng năm
lưu lượng hàng hóa qua biên giới là rất lớn. Tuy nhiên, ở khu vực này buôn
lậu hàng hóa qua biên giới rất khó khăn được giải quyết gây không ít khó
khăn cho đời sống, kinh tế ở nơi này.
+ Cơ sở hạ tầng.
- Hệ thống giao thông: Hệ thống giao thông đa dạng và tương đối thuận
1.500 W. Công viên trung tâm thị trấn, hồ đập Hồ Bình Sơn là nơi vui chơi,
giải trí cho nhân dân.
+ Tài nguyên khoáng sản.
Có tiềm năng về khai thác đá, sỏi, cát, sản xuất các loại vật liệu như
gạch, ngói phục vụ xây dựng, ngoài ra trên địa bàn còn có mõ than Đồng Đỏ.
Đặc biệt còn có nhiều lâm đặc sản và gỗ quý.
1.3. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC KHI KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ
11
12
Chuyên đề nhằm các mục tiêu sau:
- Đánh giá được thực trạng công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại Hạt
kiểm lâm TP. Lạng Sơn - Lạng Sơn.
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của
công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong những năm tiếp theo.
1.4. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.4.1. Cơ sở khoa học
1.4.1.1.Cơ sở lý luận
Để nghiên cứu sâu về công tác phòng cháy chữa cháy rừng cần nắm rõ
được nội dung bảo vệ rừng. Công tác cháy chữa cháy rừng được trình bày rõ
trong điều 42 Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004.
Điều 42. Phòng cháy, chữa cháy rừng
1. Ở những khu rừng tập trung, rừng dễ cháy, chủ rừng phải có phương
án phòng cháy, chữa cháy rừng; khi trồng rừng mới tập trung phải thiết kế và
xây dựng đường ranh, kênh, mương ngăn lửa, chòi canh lửa, biển báo, hệ
thống thông tin theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; chấp
hành sự hướng dẫn, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Trường hợp được đốt lửa trong rừng, gần rừng để dọn nương rẫy, dọn
đồng ruộng, chuẩn bị đất trồng rừng, đốt trước mùa khô hanh hoặc dùng lửa
trong sinh hoạt thì người đốt lửa phải thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa
cháy rừng.
ngành phòng cháy, chữa cháy rừng.
6. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ rừng khi rừng bị người
khác xâm hại.
7. Tổ chức việc bảo vệ các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trọng điểm.
8. Thực hiện việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng và kiểm
soát kinh doanh, buôn bán thực vật rừng, động vật rừng.
Ngoài ra còn rất nhiều những văn bản dưới luật có liên quan đến công
tác phòng cháy chữa cháy rừng, như:
+ Nghị định 22/CP ngày 9 tháng 3 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ
ban hành văn bản quy định về phòng cháy chữa cháy rừng.
+ Nghị định 77 ngày 29 tháng 11 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ
về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm
sản và phòng cháy chữa cháy rừng.
+ Nghị định 17/HĐBT ngày 11 tháng 1 năm 1992 của Hội đồng bộ
trưởng về thi hành pháp luật bảo vệ và phát triển rừng.
13
14
+ Chỉ thị 332/CT ngày 2 tháng 12 năm 1993 của Chủ tịch Hội đồng
bộ trưởng về việc chủ động phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô
hanh hàng năm.
+ Thông tư liên bộ số 06 - TT/LBB ngày 22 tháng 1 năm 1996 của Bộ
nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn lập kế hoạch cấp phát và quản
lý, quyết toán kinh phí cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
+ Chỉ thị 117/TTg ngày 20 tháng 3 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ
về những biện pháp cấp bách với công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
+ Thông tư số 12/1998/TT-BLĐ-TBXH ngày 16 tháng 10 năm 1998
của Bộ lao động thương binh và xã hội về việc hướng dẫn hợp đồng làm công
tác quản lý bảo vệ rừng trong mùa khô hanh.
+ Chỉ thị số 19/1998/CT-TTg ngày 17 tháng 4 năm 1998 của Thủ tướng
Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng cháy chữa cháy rừng.
cao, nhất là diện tích rừng thông, keo, bạch đàn, rừng phục hồi, rừng giang
nứa có lượng thực bì dày, những khu rừng đông đặc không có đường tuần tra,
chữa cháy, những diện tích rừng trồng xa địa bàn dân cư sinh sống. Bài học
lớn nhất là vụ cháy rừng ở Bắc Sơn (Thạch Hà) xẩy ra vào thời điểm năm
2003 đã cảnh báo cho chúng ta rằng mặc dù đã phát hiện và huy động lực
lượng kịp thời, đông trên 2000 người nhưng địa bàn phức tạp, vụ cháy xẩy ra
ban đêm nên đám cháy đã kéo dài đến 15 giờ đồng hồ mới dập tắt. Muốn bảo
vệ tốt diện tích rừng hiện có, phát huy có hiệu quả tiềm năng và lợi thế trong
phát triển rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững thì một trong những
công tác cấp bách được đặt lên hàng đầu trong mùa nắng nóng là công tác
phòng cháy, chữa cháy rừng.
1.4.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.4.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trước cách mạng công nghiệp rừng, rừng trên thế giới chiếm khoảng
50% diện tích lục địa. Đến năm 1955 diện tích này bị giảm đi một nửa, tới
năm 1980 diện tích của thế giới chỉ còn khoảng 2,5 tỷ ha bằng 1/5 diện tích
bề mặt của trái đất và ước tính những năm sau chỉ còn khoảng 2 tỷ ha.
Một trong những nguyên nhân cơ bản của sự mất rừng chính là do cháy
rừng gây ra. Theo số liệu thống kê cho thấy mỗi năm trên thế giới có khoảng
10 đến 15 triệu ha rừng bị cháy, có những năm con số này còn tăng gấp đôi.
Những đám cháy rừng điển hình xảy ra ở số nước như Mỹ năm 2000 cháy 2,8
triệu ha và phải chi tới 15 triệu USD/ ngày trong vòng hơn 2 tháng.
Ở Pháp năm 1949 có 350 vụ cháy rừng với tổng số 155.000 ha
Ở Hy Lạp năm 1998 có 9000 vụ cháy rừng lớn nhỏ thiêu hủy 150.000 ha
và hàng trăm ngôi nhà bao quanh gồm cả bệnh viện, nhà ăn và trường học.
15
16
Ở Australia năm 1976 cháy rừng đã thiêu hủy 1,7 triệu ha rừng, năm
1983 thiêu hủy 335.000 ha rừng và đồng cỏ ở bang Victoria làm chết 73
người hơn 1000 người bị thương và gây thiệt hại khoảng 450 triệu USD.
16
17
Ở Inđonêsia đã và đang nghiên cứu phương pháp tụ mây để chữa cháy
rừng. Làm tụ mây để tạo mưa và hỗ trợ cho việc chữa cháy nhiều lần được đề
xuất, trong những năm 1997 - 1998 khi xảy ra những trận cháy rừng khủng
khiếp cả về quy mô và sức tàn phá ở nước này.
Thời gian gần đây nhiều cơ quan chính phủ cũng như các tổ chức cá
nhân khác đã thể hiện sự quan tâm này, các thông tin thu được đã cho ta thấy
một điều việc tụ mây để làm mưa vẫn chưa chắc chắn về mặt khoa học cũng
như chưa được coi là công cụ chữa cháy. Bên cạnh đó chi phí cho chúng cũng
khá lớn chỉ áp dụng cjho những nơi có nguy cơ cháy rừng cao. Người ta ước
tính nếu sử dụng phương pháp ngưng tụ mây để chữa cháy rừng một ngày
chúng ta phải mất là 4000 USD, do đó phương pháp này bị ngừng lại ở
Inđonêsia.
Phương pháp này được tiến hành như sau:
Dùng chất I ốt bạc hay CO
2
lỏng “ đá khô” dùng máy bay rải xuống hoặc
bắn vào các đám mây, các giọt nước sẽ đóng băng xung quanh những phần tử
này cho đến khi chúng đủ nặng và rơi xuống.
Hiện nay vẫn còn một số ý kiến khác nhau về việc ngưng tụ mây chữa
cháy rừng vẫn còn là một vấn đề phải tranh luận và đang được tiếp diễn.
Theo số liệu thống kê của FAO, từ năm 1982 đến đầu năm 1998 có trên
15 triệu ha rừng và đất rừng trong khu vực Đông Nam Á bị cháy. Trong đó
Inđonêsia là nước thường xẩy ra cháy rừng với thiệt hại lớn nhất.
Chỉ riêng ở đảo Kalimantan trong năm 1983 có khoảng 3 triệu ha rừng
tại vùng Bukit Soeharta bị cháy. Theo báo cáo của trưởng phòng môi trường
UNDP tại Hà Nội thì chỉ trong vòng 8 tháng từ 9/1997 đến 5/1998 tại
Inđonêsia đã cháy khoảng gần 1 triệu ha rừng có giá trị lớn. Có thể nói đây là
một đại hỏa hoạn lớn của thế giới, hàng triệu tấn sinh khối bao gồm gỗ, củi và
chữa cháy đã lên đến 7 - 8 tỷ đồng.
Ở Việt Nam công tác dự tính dự báo cháy rừng tuy đã được thực hiện từ
năm 1981 trở lại đây nhưng vẫn còn mới mẻ và chưa đồng bộ.
Năm 1998 Phạm Ngọc Hưng đã biên soạn và áp dụng phương pháp dự báo
cháy rừng của Nestonov để dự báo cháy rừng ở Quảng Ninh theo các chỉ tiêu:
Nhiệt độ, độ chênh lệch lúc 13 giờ trưa và lượng mưa ngày của tỉnh Quảng
Ninh. Sau đó tác giả dựa vào một số vụ cháy rừng thống kê cùng năm nêu trên
18
19
để chỉnh lại số liệu của cấp cháy rừng và đưa ra kết quả dự báo cháy rừng cho
tỉnh Quảng Ninh gồm 5 cấp với chỉ số P cấp I < 100 và P cấp V > 1000.
Hiện nay, nạn cháy rừng đang trở thanh vấn đề nghiêm trọng đối với mọi
quốc gia trên thế giới, đặc biệt những nước có diện tích rừng lớn. Vì vậy hạn
chế nạn cháy rừng và bảo vệ môi trường sống của nhân loại là nhiệm vụ cấp
bách không phải chỉ riêng của một quốc gia nào mà trên toàn thế giới.
19
20
Phần 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề xác định đối tượng nghiên cứu:
- Cán bộ Kiểm lâm thuộc Hạt kiểm lâm TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và
người dân tham gia công tác phòng cháy chữa cháy rừng
- Toàn bộ diện tích rừng Hạt kiểm lâm TP. Lạng Sơn quản lý có nguy cơ
cháy cao.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề nghiên cứu trong phạm vi địa bàn TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng
Sơn với việc phòng cháy chữa cháy rừng, ngăn chặn mọi hành vi vi phạm đến
* Xây dựng bản câu hỏi phù hợp với trình độ người dân và lượng thông
tin về công tác phòng cháy chữa cháy rừng, chủ yếu là người dân sống gần rừng.
* Chọn mẫu điều tra phỏng vấn: Cán bộ tham gia quản lý địa bàn, chọn
những địa bàn (xã) có diện tích rừng bị cháy trong những năm gần đây.
* Tiến hành phỏng vấn cán bộ và người dân lấy thông tin về công tác
phòng cháy chữa cháy rừng.
2.4.2. Nội nghiệp
Căn cứ số liệu đã thu thập chúng tôi tiến hành xử lý số liệu.
- Lập bảng biểu.
- Phân tích, so sánh và đánh giá công tác phòng cháy chữa cháy rừng
qua các năm.
- Tổng hợp số liệu, viết chuyên đề.
21
22
Phần 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. TỔ CHỨC CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG
3.1.1 Tổ chức công tác PCCCR từ Trung ương đến địa phương
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng là công tác xã hội phức tạp đòi hỏi
phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành. Đặc biệt muốn làm tốt công tác
này phải làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí và
nhận thức của người dân. Nhà nước cần ưu tiên đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ mới đến vùng sâu, vùng xa, đầu tư phát triển sản xuất và các
yêu cầu khác của người dân về văn hóa, xã hội.
Cần sớm xây dựng hoàn thiện hệ thống mạng lưới dự báo cung cấp đảm
bảo thông tin thông suốt trong mùa cháy rừng, phục vụ công tác phòng cháy
chữa cháy rừng từ trung ương đến địa phương và các đơn vị bảo vệ rừng các
đội phụ trách phòng cháy chữa cháy rừng.
Các địa phương, đơn vị khẩn trương xây dựng kế hoạch và tổ chức thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Đặc biệt là việc
UBND Thành phố
Ban chỉ huy PCCCR
(Hạt Kiểm lâm)
UBND các xã, phường
Ban chỉ huy PCCCR
(Ban lâm nghiệp xã)
23
24
Hình 3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức công tác phòng cháy chữa cháy rừng
từ Trung ương đến các địa phương
Tăng cường tập huấn, huấn luyện kỹ năng, nghiệp vụ nhằm nâng cao
năng lực cho tất cả các lực lượng tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng.
Chuẩn bị dụng cụ, phương tiện, hậu cần thiết yếu để đảm bảo thực hiện tốt
phương châm 4 tại chỗ ngay tại cơ sở, sẵn sàng ứng phó khi có cháy rừng xảy
ra. Các chủ rừng, chủ hộ phải tự trang bị các dụng cụ thủ công cần thiết để sử
dụng khi có cháy rừng xảy ra.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật bằng nhiều hình
thức trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao ý thức, trách
nhiệm bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng cho cán bộ, nhân dân và
các chủ rừng.
Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, Báo chí, Đài truyền thanh truyền hình
tỉnh, các huyện, thành, thị tăng cường thời lượng tuyên truyền, đưa tin hoạt
động bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng của các cấp; biểu dương các
điển hình tiên tiến; phổ biến, quán triệt kịp thời các văn bản chỉ đạo của Trung
ương và của tỉnh. Đồng thời phối hợp với cơ quan chuyên môn để dự báo,
cảnh báo nguy cơ xảy ra cháy rừng trên địa bàn trong thời kỳ có nguy cơ xảy
ra cháy rừng từ cấp III trở lên, giúp chính quyền các cấp, các ngành, các chủ
rừng và nhân dân chủ động thực hiện có hiệu quả.
Các Công ty Lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng,
UBND các xã có rừng thông hoàn chỉnh hệ thống đường băng cản lửa, chòi
Khi xảy ra cháy rừng thì Chủ tịch UBND, Trưởng Ban chỉ huy về các
vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp và
chủ rừng phải trực tiếp huy động lực lượng, phương tiện, chỉ huy mọi lực
lượng tại hiện trường để nhanh chóng dập tắt đám cháy. Lực lượng Công an
chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương, ban ngành và đơn vị liên quan
khẩn trương điều tra làm rõ nguyên nhân, thủ phạm gây ra cháy rừng, nhất là
25