Đánh giá khả năng sinh trưởng, thích ứng của tập đoàn cao lương ngọt trong thời vụ tháng 5 tại thái nguyên - Pdf 13

1
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Năng lượng không chỉ cần trong quá khứ mà nhu cầu về năng lượng tăng
liên tục do sự phát triển của công nghệ tiên tiến và gia tăng dân số. Trong cuộc
sống hiện nay con người đã và đang khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên
nhiên. Các nguồn năng lượng hóa thạch như dầu mỏ, than đá là những nguồn
năng lượng không tái tạo được, chúng đang dần cạn kiệt. Sự phát triển của các
quốc gia phụ thuộc rất lớn vào nguồn xăng hoặc diesel không chỉ làm tăng gánh
nặng tài chính mà còn tác động đến môi trường do việc thải ra các chất ô nhiễm
như chì, benzen, lưu huỳnh dioxit, oxit nitơ và carbon monoxide. Các chất khí
này chiếm đến 64% không khí ô nhiễm ở các thành phố lớn và các vùng ngoại ô
lân cận, do đó ảnh hưởng đến sức khỏe gây ra nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Việc
đảm bảo nguồn năng lượng dài hạn thay thế năng lượng hoá thạch ngày càng trở
nên cấp thiết, nhất là khi dầu mỏ đang cạn dần và trở nên đắt đỏ.
Trong bối cảnh đó, nhiên liệu sinh học đã được chọn mặt gửi vàng như là
một "ứng cử viên" đầy triển vọng nhằm thay thế một phần hoặc toàn bộ nguồn
nhiên liệu truyền thống nói trên.
Ðiều kiện ở Việt Nam rất phù hợp cho sản xuất nhiên liệu sinh học từ
nguồn năng lượng sinh khối. Nhiên liệu cồn sinh học có thể được sản xuất từ lúa,
ngô, sắn, khoai lang và mía đường, dầu sinh học được chế biến từ những loại cây
lấy dầu như lạc, đậu tương, vừng, cây hướng dương, dừa và bông. Ước tính Việt
Nam có thể sản xuất 5 triệu lít cồn sinh học mỗi năm nếu như có sự điều chỉnh
về sản lượng và diện tích cây trồng. Vào năm 2050, dự đoán khoảng 50% lượng
tiêu thụ dầu mỏ sẽ được thay thế bằng nguyên liệu sinh khối. Trong giai đoạn
hiện nay Việt Nam đang thực hiện nhiều chương trình nghiên cứu, dự án hợp tác
giữa các tổ chức, công ty trong và ngoài nước nhằm đưa ra cây trồng thích hợp
nhất cho việc sản xuất nguồn nguyên liệu tái sinh phục vụ sản xuất ethanol sinh
học. Ethanol nhiên liệu là một loại alcohol thường thấy trong đồ uống có cồn.
1

2
2
3
1.2. Mục đích nghiên cứu
So sánh khả năng sinh trưởng phát triển của các dòng, giống cao lương
ngọt nhằm xác định giống có năng suất sinh khối cao, chất lượng tốt trong điều
kiện vụ hè tại Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
- Giúp sinh viên tiếp cận và học tập phương pháp nghiên cứu khoa học đối
với cây trồng mới.
- Giúp sinh viên có điều kiện áp dụng các kiến thức đã học vào thực tế sản
xuất.
- Giúp cho sinh viên biết triển khai một đề tài khoa học và viết báo cáo.
* Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần bổ sung những giống cao lương mới có năng suất cao, phẩm
chất tốt vào sản xuất cao lương của tỉnh Thái Nguyên.
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để chọn được giống cao lương ngọt nhập nội
có triển vọng làm nguồn nguyên liệu mới phục vụ cho công tác chọn tạo giống
và cung cấp nguồn nhiên liệu mới thân thiện với môi trường.
3
3
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Giống mới có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và
sản lượng cây trồng. Mỗi một giống khác nhau thì có phản ứng với điều kiện sinh
thái ở mỗi vùng khác nhau. Vì vậy để phát huy hiệu quả của giống cần phải sử

tạo giống mới nhanh nhất và hiệu quả nhất. Để chọn được giống nhập nội tốt,
phù hợp với địa phương thì việc khảo nghiệm tìm hiểu khả năng sinh trưởng, khả
năng chống chịu và năng suất chất lượng của giống trong vùng sinh thái khác
nhau là rất quan trọng.
Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kỹ lưỡng và chưa được công
nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng
rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây
trồng. Như vậy khảo nghiệm là việc làm cần thiết quyết định sự thành công của
giống nhập nội.
Mặt khác Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Châu Á, thuộc khu
vực nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều nhưng lượng mưa lại không phân bố đều trong
năm nên có thể nói hạn là một trong những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sinh
trưởng phát triển và năng suất của hầu hết các loại cây trồng. Hàng năm diện tích
lúa nước bị hạn cục bộ khoảng 0,4 triệu ha. Cao lương là cây trồng có khả năng
chịu hạn cao thích nghi với điều kiện khí hậu Việt Nam.
Để mở rộng diện tích trồng cao lương trước tiên phải chọn được bộ giống
phù hợp với từng vùng miền của Việt Nam, thích nghi với điều kiện khí hậu, có
khả năng chống chịu bệnh đồng thời cho năng suất thân lá cao phục vụ sản xuất
ethanol là vấn đề trước mắt hiện nay.
2.2. Đặc điểm thực vật học
Cao lương ngọt một loại cây thuộc họ hòa thảo chiều cao từ 0,6 - 5m, đường
kính thân 5-30mm tùy thuộc vào giống, điều kiện canh tác và môi trường. Đặc điểm
thực vật học cũng như thời gian sinh trưởng của cây cao lương tương tự như cây
ngô và các cây ngũ cốc khác.
Rễ cây cao lương là rễ chùm với rất nhiều rễ bên có khả năng hút nước
hiệu quả, rễ đâm rộng nhờ đặc điểm này mà cao lương có thể sống ở những nơi
khô hạn hơn ngô (Wilson, 1955). Rễ chính đâm sâu với nhiều rễ phụ và rễ bên,
5
5
5

tananh làm cho hạt có vị đắng.
6
6
6
7
Cao lương là một loại cây trồng nhiệt đới, cao lương cùng họ với lúa.
Nhưng quang hợp theo chu trình C4 đây chính là một ưu điểm vượt trội của cao
lương. Nhờ quang hợp theo đường hướng này mà cao lương ngọt có thể tổng
hợp chất hữu cơ ở điều kiện nhiệt độ cao và không xảy hiện tượng quang hô hấp.
Ngược lại, lúa là đại diện của các loại cỏ ôn đới, sử dụng chu trình C3. Cao
lương ngọt là sự kết hợp tuyệt vời giữa lúa với cây trồng nhiệt đới với bộ gen lớn
hơn nhiều và sự bổ xung các gen có lợi khác từ mía, và là một trong những cây
trồng hiệu quả nhất trên thế giới trong việc sản xuất sinh khối cây trồng hiện nay.
Theo báo cáo từ các khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ thì cây
cao lương là cây trồng chống chịu được các loại đất từ chua đến kiềm, đất ngập
nước hay khô hạn, nồng độ muối cao, các loại nấm bệnh cũng như cỏ dại (Duke,
1983). Cây cao lương có đặc điểm hình thái và sinh lý cho phép nó có thể sinh
trưởng và tồn tại trong điều kiện hạn như bộ rễ ăn sâu và lan rộng, lớp phấn muội
dày và bao phủ toàn thân, bề mặt lá và khả năng tự dừng sinh trưởng trong điều
kiện hạn, phục hồi bình thường trở lại khi thuận lợi. Do vậy nó có thể phát triển
ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt đới với lượng mưa hành năm chỉ 400-600mm
quá khô không trồng được ngô, cây cao lương không chỉ có khả năng sinh
trưởng trong vùng hạn mà còn có khả năng phát triển được với cả vùng ngạp
nước, do đó cũng có thể trồng được ở những vùng có lượng mưa lớn. Cây cao
lương sinh trưởng được từ độ cao 0-2300mm so với mực nước biểm (ICRISAT,
1996). Khoảng pH đất mà cao lương có thể sinh trưởng được rất rộng từ 5,0-8,5
(ICRISAT, 1996). Khoảng nhiệt độ cao lương có thể thích ứng được là từ 2,0-
41
0
C, nhiệt độ hàng năm trung bình có thể từ 7,8-27,8

1954). Đa số các giống cao lương hiện nay không phản ứng với ánh sáng, tuy
nhiên cao lương là cây trồng ngày ngắn.
2.4. Thời gian sinh trưởng
Thời gian từ gieo đến thu hoạch hạt là một trong những yếu tố quan trọng
để phân loại các giống cao lương, bố trí mùa vụ. Thời gian sinh trưởng thường ít
thay đổi tuy nhiên nó cũng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, mùa vụ, cùng một
giống nếu trồng sớm thường có thời gian sinh trưởng dài hơn nếu trồng muộn.
Sau đây là bảng phân loại giống căn cứ theo thời gian từ gieo đến hạt chín sinh
lý.
8
8
8
9
Bảng 2.1. Phân loại giống căn cứ theo thời gian từ gieo đến khi hạt
chín sinh lý
Chín rất sớm

90 ngày
Chín sớm
91-100 ngày
Chín sớm trung bình
101-108 ngày
Chín trung bình
109-114 ngày
Chín muộn trung bình
115-120 ngày
Chín muộn
121-124 ngày
Chín rất muộn


duy trì ở mức 40-46 triệu ha. Tuy nhiên sản lượng cao lương vẫn tăng liên tục do
việc sử dụng những giống mới phù hợp với từng vùng sinh thái và mùa vụ. Tổng
sản lượng cao lương thế giới trong vòng 20 năm qua luôn duy trì trên mức 50
triệu tấn. Năng suất cao lương ổn định qua các năm dao động trong khoảng
10
10
10
1990 1995 2000 2005 2010
DT (triệu ha) 41,59 42,46 40,93 46,22 40,51
NS (tạ/ha) 13,66 12,85 13,61 12,88 13,74
SL (triệu tấn) 56,81 54,56 55,69 59,54 55,65
11
12,85 - 13,74 tạ/ha, nhưng không đều giữa các châu lục, năng suất cao lương đạt
cao nhất năm 2010 (13,74 tạ/ha).
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất cao lương của một số châu lục giai đoạn
1990- 2010
Năm
Châu lục
1990 1995 2000 2005 2010
Châu
Phi
DT (triệu ha) 16,46 21,62 21,26 28,73 24,76
NS (tạ/ha) 7,28 8,24 8,66 8,69 8,46
SL (triệu tấn) 11,98 17,81 18,41 24,95 20,95
Châu
Mỹ
DT (triệu
tấn)
7,28 6,26 7,08 5,95 5,94
NS (tạ/ha) 33,84 31,30 32,81 35,82 37,92

tích lớn nên Châu phi có sản lượng lớn thứ hai trên thế giới sau Châu Mỹ chiếm
38% sản lượng cao lương thế giới. Việc nâng cao năng suất cao lương được quan
tâm và chú trọng, rất nhiều chương trình, dự án cải tiến kỹ thuật canh tác, lai tạo
các giống cao lương mới đang được tiến hành.
Châu Mỹ là châu lục có năng suất cao lương cao nhất thế giới, sản lượng
cao lương giới tập trung chủ yếu ở Mỹ, Mexico, Braxin và Argentina. Châu Á
cũng là châu lục trồng nhiều cao lương nhưng trong số 10 nước có sản lượng cao
nhất thế giới chỉ có Trung Quốc là đại diện của Châu Á. Năm 2010 sản lượng
cao lương của Trung Quốc là 1,7 triệu tấn, năng suất 29,97 tạ/ha cao hơn so với
trung bình thế giới.
Mỹ là quốc gia sản xuất cao lương lớn thứ hai thế giới sau Nigeria năm
2010 Mỹ sản xuất trên 8,77 triệu tấn hạt trong đó chủ yếu chế biến thức ăn chăn
nuôi, 12% sản lượng cao lương phục vụ ngành công nghiệp chế biến ethanol.
Đồng thời Mỹ cũng là quốc gia xuất khẩu cao lương lớn nhất thế giới chiếm 80%
sản lượng cao lương xuất khẩu của thế giới. Sản lượng cao lương xuất khẩu của
Mỹ tăng liên tục trong vòng 35 năm năm qua. Năm 2010 lượng cao lương xuất
khẩu của Mỹ tăng 15% so với năm 2009.Trồng cao lương để sản xuất ethanol sẽ
là hướng đi mà quốc gia lựa chọn trong thời kỳ khủng hoảng năng lượng như
hiện nay. Ở Mỹ cao lương được trồng chủ yếu ở Kansas, Nebraska và Texas
(NASS, 2007)
2.5.1.2. Tình hình nghiên cứu cao lương trên thế giới
Nhận thức được vai trò quan trọng của cao lương cũng như nhu cầu tiêu
thụ cao lương của con người không ngừng tăng lên. Nhiều nước đã đầu tư cho
việc tăng năng suất và diện tích trồng cao lương. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải
tăng năng suất cao lương bằng cách sử dụng các giống có tiềm năng năng suất
cao và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
12
12
12
13

13
13
14
kháng bệnh thán thư nhưng lại dễ mắc bệnh lùn khảm ngô. Hàm lượng khử cao
hơn giống Dale, rỉ mật màu hổ phách chất lượng tốt.
Brandes được công nhận năm 1968 của SCFS, là giống chín muộn, bộ rễ
rất phát triển, cứng cây. Có khả năng kháng bệnh thán thư, chịu hán tốt. Chất
lượng đường tốt nhưng lượng đường giảm sau thu hoạch rất nhanh. Hạt nhỏ,
màu trắng, độ nảy mầm cao.
Giống Tracy được công nhận năm 1953, thân cao đến 3,5m, thân ngon
ngọt nhưng năng suất thấp. Trong điều kiện thuận lợi phát triển, giống này tạo ra
chất lượng rỉ mật rất tốt, nhưng dễ bị các bệnh như bệnh thán thư lá, đốm lá và
bệnh rỉ sắt.
Cao lương hay bất cứ một cây trồng nào, tính trạng năng suất được quy
định bởi rất nhiều gen khác nhau. Môi trường là nhân tố quy định giới hạn của
kiểu gen. Do dó các nhà khoa học phải tìm ra những gen và điều kiện môi trường
thích hợp nhất để cây trồng cho năng suất cao.
Tại Trung Quốc, Viện Đại học nông nghiệp Thẩm Dương đã nghiên cứu
58 dòng lúa miến ngọt và lọc ra một số giống tốt, thích hợp với vùng đông bắc
Trong năm 2004, 21 giống cao lương ngọt (A 63, 51 Volzhskoye,
Kamyshinskoye 7, Kinelskoye 3, và các giống khác) đã được công nhận trồng ở
các vùng khác nhau của Liên bang Nga.
Trong số 90 dòng thử nghiệm tại Israel đã tìm thấy 9 dòng phù hợp cho
quá trình tổng hợp đường. (Blum và cs,1975)
Theo Blum et al (1977). Sau khi khảo nghiệm một số giống cao lương
ngọt có nguồn gốc từ Mỹ đã phát hiện được 3 giống có hàm lượng đương trong
thân lá cao, 3.500-5.000 kg đường/ha trong cùng điều kiện canh tác như các
giống khác.
Ở Italia, năng suất mía cao nhất đạt 3,4 - 4,5 tấn/ha khi được trồng trên đất
tốt, đủ nước; cao lương cũng cho năng suất tương tự nhưng chỉ được trồng ở nơi

811) thấp là giống SSV 2525 (27,58 dm
2
/cây). (Choudhari, 1990).
* Một số kết quả nghiên cứu giống cao lương ngọt trong sản xuất ethanol
Cao lương đã được sử dụng là nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất siro ở
Mỹ cách đây rất lâu nhờ thân mọng nước với hàm lượng đường cao. Dùng thân
cây cao lương ngọt để chiết suất đường cho kết quả tốt như dùng quả cây thốt
nốt, hàm lượng đường cao hơn trong thân mía 9%. (Karve và cs, 1970)
Sau khi khảo nghiệm 87 dòng, giống cao lương ngọt ở Khairf năm 1985
đã tìm được 12 dòng, giống có triển vọng phục vụ sản xuất đường. Những giống
này có thời gian sinh trưởng 115-120 ngày, pH trong nước ép từ 4,5-5,3. Dòng
15
15
15
16
SSV-7073 có hàm lượng đường cao nhất 22,24%, tinh bột 15,9%. (Bapat và cs ,
1987)
Sau khi ép thân lấy nước để sản xuất ethanol, giống Rio cho sản lượng cao
nhất 3.418 l/ha, thấp nhất là giống NSA-440 74,7 l/ha (Mc Bee và cs, 1988).
Đồng thời Rio là giống có hàm lượng nước ép cao 45,5-50,4%, hàm lượng
đường (19,6-21,0%), hàm lượng tinh bột (14,28-26,2%), đường thô (1,75-3,37
tấn/ha).
Theo Ratnavati (2004), sau khi khảo nghiệm hàm lượng nước và chất
lượng đường 5 giống cao lương ngọt (Keller, SSV-84, BJ-248, Wrey và NSSH-
104) giống Keller được đánh giá là giống có hàm lượng đường cao nhất, rất thích
hợp phục vụ sản xuất ethanol. Nghiên cứu khả năng chịu hạn của cây cao lương.
2.5.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu cây cao lương ở Việt Nam
Ở nước ta, tùy theo vùng cây cao lương được gọi theo một số tên khác
như lúa miến, cù làng, mì Cao lương được trồng ở các khu vực núi cao như Hà
Giang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên hoặc khu vực Tây Nguyên. Cây cao lương

các giống khác nhưng năng suất thấp, chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
T.S Phạm Văn Cường, ĐHNN Hà Nội, đã thu thập và nhập nội một số
giống cao lương ngọt, đang tiến hành phối hợp với các nhà khoa học chăn nuôi
và các nhà khoa học chế biến trong và ngoài nước để sử dụng cây cao lương làm
thức ăn gia súc trong vụ đông và chế biến cồn. Cao lương ở thời điểm 120 ngày
sau trồng tại Hà Nội có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt 21g/m
2
/ngày sẽ cho
năng suất 25,2 tấn/ha thân tươi và 2-3 tấn hạt, như vậy có thể chế biến được
3000-3500 lít ethanol.
Từ những năm 1990 Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cũng đã tiến
hành những nghiên cứu về cây cao lương lấy hạt trên quy mô nhỏ, những giống
này được nhập từ ICRISAT. Tuy nhiên do chưa có quá trình nghiên cứu tổng thể
về điều kiện sinh thái trong quá trình chọn taọ giống, nên những giống nhập nội
này chưa thực sự phù hợp với điều kiện sinh thái vùng trung du miền núi phía
Bắc nên năng suất của những giống này rất thấp.
Hiện nay công ty Secoin đang thực hiện Dự án Sinh học thực vật ứng
dụng mới ở giai đoạn nghiên cứu định hướng được thực hiện trên 4 ha, gồm hai
phòng thí nghiệm và một số vườn ươm. Các kết quả thực nghiệm sẽ được áp
dụng trên 170 ha thực địa tại Quảng Ninh, Hà Tĩnh. Dự án đã nhận được sự ủng
hộ nhiệt tình của các địa phương, sự hợp tác hào hứng của các kỹ sư, nhà khoa
17
17
17
18
học ngoài công ty, đặc biệt là sự tham gia của công ty Hanhwa Resources (Hàn
Quốc) và tư vấn của các nhà khoa học Mỹ, Úc, Trung Quốc, Ấn Độ
Năm 2011, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã ký kết bản ghi nhớ
hợp tác nghiên cứu phát triển cây cao lương ngọt làm nhiên liệu sản xuất xăng
sinh học tại Việt Nam đã có buổi làm việc và thảo luận cơ hội hợp tác nghiên

19
19
19
20
Thí nghiệm được tiến hành trong từ tháng 5/2011-11/2011
+ Gieo ngày 21/05/2011
+ Ngày trồng ngoài đồng ruộng 08/06/2011
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu giai đoạn sinh trưởng chính của 8 giống cao lương ngọt
tham gia thí nghiệm
- Nghiên cưú một số đặc điểm hình thái của 8 giống cao lương ngọt
tham gia thí nghiệm
- Nghiên cứu khả năng chống chịu sâu bệnh hại của 8 giống cao lương
ngọt tham gia thí nghiệm
- Nghiên cứu khả năng cho năng suất thân, lá và hàm lượng đường của
8 giống cao lương ngọt tham gia thí nghiệm
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn
- Số ô thí nghiệm: 1 x 8 = 8 (ô).
- Diện tích 1 ô thí nghiệm: 4,55 m x 11 m = 50,05m
2
.
- Khoảng cách giữa hai ô thí nghiệm: 1 m
- Tổng diện tích thực tế đang sử dụng cho thí nghiệm (không kể rãnh, lối
đi và dải bảo vệ) : 50,05 m
2
/ô x 8 x 1 = 400,4 m
2
.

7cm. Bón phân kết hợp làm cỏ, bón 1/6 N +1/6 K
+ Bón thúc lần 3 (68 ngày sau trồng): vãi phân đều giữa các hàng cây
(cách cây 20cm), bón 1/6 N +1/6 K
+ Bón thúc lần 4 (108 ngày sau trồng): vãi phân đều giữa các hàng cây
(cách cây 20cm), bón 1/6 N +1/6 K
+ Bón thúc lần 5 (130 ngày sau trồng): vãi phân đều giữa các hàng cây
(cách cây 20cm), bón 1/6 N +1/6 K
- Phòng trừ sâu bệnh: Theo dõi sâu bệnh, tiến hành phòng trừ khi cần thiết.
21
21
21
22
3.3.3. Các chỉ tiêu theo dõi
3.3.3.1. Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển
* Thời gian sinh trưởng
- Ngày gieo: Ngày thực tế gieo hạt
- Ngày mọc: Được tính từ gieo đến khi có 50% số cây trong ô thí nghiệm
có 2 lá mầm mọc ra trên mặt đất.
- Tỷ lệ nảy mầm: Phần trăm hạt nảy mầm, được tính bằng: số hạt nảy
mầm/số hạt đem gieo x 100.
- Ngày trồng: Ngày trồng là ngày đem bầu ra trồng trên ruộng.
- Ngày trỗ bông: Được tính từ khi gieo đến khi có 50% số cây trong công
thức đó tung phấn.
- Ngày thu hoạch: Là ngày tiến hành thu hoạch thân lá khi hạt cao lương ở
giai đoạn chín sữa.
* Tốc độ tăng trưởng
Lấy ngẫu nhiên 30 cây/ô thí nghiệm ở hàng thứ hai, thứ tư và thứ sáu, mỗi
hàng lấy 10 cây liên tiếp đánh dấu, cứ 30 ngày đo một lần.
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến mút lá khi cây chưa
trỗ bông. Khi cây trỗ bông đo từ mặt đất lên mút bông.

- Hàm lượng đường: Sau khi loại bỏ lá, bông cờ ép thân lấy dịch ép sau đó
đo hàm lượng đường bằng máy Brix.rr
- Tỷ lệ thân/khối lượng tươi: Khối lượng thân/ khối lượng thân lá x100
3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu thu được của các cây/ô chia cho số cây theo dõi để lấy số liệu
trung bình của từng ô rồi tính trung bình của các lần đo.
- Các số liệu khi tính toán được xử lý trên EXCEL 2003.
23
23
23
24
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Một số giai đoạn sinh trưởng chính của các giống cao lương thí nghiệm
trong thời vụ tháng 5 tại Thái Nguyên
Sinh trưởng và phát triển là hai quá trình xen kẽ không thể tách rời, sinh
trưởng là cơ sở cho phát triển và phát triển tạo điều kiện cho sinh trưởng như
mọi cây trồng khác sinh trưởng và phát triển của cây cao lương là tổng thời gian
của các thời kỳ sinh trưởng phát triển. Trong đời sống của cây được chia làm hai
giai đoạn chính: giai đoạn sinh trưởng phát triển sinh dưỡng và giai đoạn phát
triển sinh thực.
Các giai đoạn này dài hay ngắn phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính di truyền
của giống, ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như nhiệt
độ, độ ẩm, đất đai và dinh dưỡng. Trong thí nghiệm chúng tôi theo dõi các giai
đoạn sau
4.1.1. Giai đoạn từ khi gieo đến khi nảy mầm
Nảy mầm là giai đoạn đầu tiên trong quá trình sinh trưởng của cây cao
lương, nảy mầm thực chất là quá trình chuyển hóa từ trạng thái ngủ nghỉ của hạt
sang trạng thái sinh trưởng của cây.

Đây là giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây cao lương, vì đây là thời điểm sinh trưởng mạnh nhất trong
chu kỳ sống, do vậy ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh khối và năng suất hạt
của cây.
25
25
25

Trích đoạn Đặc tính chống chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ của các giống cao lương tham gia thí nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status