1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây ngành nông nghiệp nước ta có những bước tiến
vượt bậc, lượng sản phẩm sản xuất ra ngoài việc cung cấp nguồn lương thực
trong nước mà còn để xuất khẩu ra thị trường thế giới. Bảo quản nông sản sau
thu hoạch là một khâu quan trọng trong quy trình sản xuất nhằm nâng cao chất
lượng và giá trị sản phẩm. Tuy nhiên hiện nay đa số nông dân và các cơ sở sản
xuất kinh doanh đều thu hoạch và chế biến theo phương pháp thủ công, máy móc
cũ kỹ, điều này làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm. Theo tài liệu của
FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc), mỗi năm trung bình
thiệt hại của thế giới về lương thực chiếm từ 16- 20%, tính ra tới 130 tỷ đô la, đủ
nuôi được 200 triệu người trong 1 năm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc tổn
thất sau thu hoạch như: sản xuất manh mún, nhỏ lẻ nên không thu gom được số
lượng lớn, chất lượng sản phẩm nông sản đồng đều. Bên cạnh đó thì kho tàng
bảo quản cũng như yếu tố sâu bệnh hại nông sản trong quá trình bảo quản cũng
dẫn tới những thiệt hại nhất định trong công tác bảo quản nông sản ở Việt Nam
cũng như trên Thế giới. Theo tài liệu của FAO (1999), hàng năm trên thế giới
mức tổn thất về lương thực trong bảo quản trung bình từ 6- 10%. Ở Việt Nam
mức tổn thất này từ 8- 15%, riêng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long khoảng 18%
(Bộ môn nghiên cứu côn trùng, tổng Cục Lương Thực Việt Nam), trong đó thì
nguyên nhân do kho tàng bảo quản và côn trùng gây hại cũng là rất quan trọng.
Đặc biệt là khâu thu hái bảo quản nông sản sau thu hoạch còn yếu do đó khắc
phục tình trạng trên chúng ta cần phải quan tâm hơn đến công tác bảo quản nông
sản. Do nông sản của chúng ta thu hoạch quanh năm thời gian dự trữ lâu dài nên
vấn đề đặt ra là bảo quản làm sao để nông sản ít bị tổn thất nhất. Khí hậu Việt
Nam có nhiều thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, song cũng tạo điều
kiện tốt để sâu hại phát sinh, phát triển và phá hại nghiêm trọng. Hàng năm
1
2
quản nông sản của nông hộ tại xã Gia Xuyên.
- Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả và phát triển công tác bảo
quản của nông hộ tại xã Gia Xuyên.
1.4. Ý nghĩa đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
+ Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế địa phương biết áp dụng lý
thuyết vào thực tế, tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân để áp dụng vào nghiên cứu
phát triển cộng đồng.
+ Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về
những vấn đề liên quan đến bảo quản nông sản và những vấn đề về phát triển
kinh tế của các địa phương trong cả nước.
+ Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất để cải thiện tình trạng công tác
bảo quản nông sản sau thu hoạch để giúp cho sản phẩm nông sản sau thu hoạch
đạt được hiệu quả kinh tế lớn nhất đối với địa phương nghiên cứu.
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các địa phương trong cả nước cũng như
người nông dân lựa chọn được các giải pháp phát triển công tác bảo quản nông
sản phù hợp.
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN
2.1. Tầm quan trọng của công tác bảo quản
2.1.1. Những thiệt hại trong quá trình bảo quản
Trong quá trình bảo quản, sự hao hụt của nông sản được biểu hiện ở hai
dạng hao hụt về trọng lượng và chất lượng.
- Hao hụt về trọng lượng
Sự giảm trọng lượng của nông sản có thể xảy ra do hậu quả của các hiện
tượng vật lí và sinh học.
Vai trò của công tác bảo quản có thể được thể hiện ở hai góc độ:
- Dưới góc độ sản xuất giống
Sau quá trình sản xuất, lượng hạt giống được giữ lại làm giống trở lại vị trí
ban đầu, tính từ lúc thu hoạch, nhập kho, bảo quản và xuất kho chiếm khoảng
thời gian trong năm, từ đó đặt ra vấn đề cần giải quyết đó là:
Thực hiện quá trình bảo quản ngoài đồng ruộng (gieo trồng trở lại sau khi
thu hoạch) đối với nông sản khó bảo quản để rút ngắn thời gian bảo quản, tăng
chất lượng sản phẩm.
Trong quá trình bảo quản trong kho phải xác định các thông số kỹ thuật hợp
lí để tối ưu hoá quá trình bảo quản, thời gian bảo quản càng lâu càng tốt.
- Dưới góc độ tiêu dùng xã hội
Để đảm bảo cung cấp các sản phẩm cho nhân dân và cho công nghiệp chế
biến cần phải có nguyên liệu dự trữ. Nông sản của chúng ta chỉ được tiêu thụ
ngay một phần còn phần lớn các nông sản trước khi đem đi tiêu thụ phải
được bảo quản, chế biến. Việc bảo quản nông sản trước khi tiêu thụ là một
trong những việc làm quan trọng để tăng năng suất và hiệu quả trong sản
xuất. Nếu công tác bảo quản không được thực hiện đúng thì tổn thất của quá
trình này sẽ rất lớn ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và hiệu quả của quá
trình sản xuất. [8]
5
6
2.2. Các phương pháp bảo quản
Để bảo quản nông sản sau thu hoạch trên Thế Giới cũng như Việt Nam có
rất nhiều phương pháp khác nhau nhưng tựu chung lại thì bảo quản nông sản
hiện nay có 6 phương pháp hiện đang được sử dụng phổ biến trong công tác bảo
quản nông sản.
2.2.1. Phương pháp bảo quản kín
Bảo quản kín là đình chỉ sự trao đổi không khí giữa nông sản với môi
trường bên ngoài, nghĩa là bảo quản trong điều kiện thiếu oxy nhằm hạn chế quá
trình hô hấp của hạt, đồng thời khống chế bớt sự phát sinh, phát triển phá hoại
Để cho nông sản tự do trao đổi với môi trường ngoài, tự nó điều chỉnh nhiệt
độ, ẩm độ nhưng phải nghiên cứu khí hậu của môi trường.
Ví dụ: Trời không có mưa, gió thổi nhẹ…
+ Xét thời tiết: không có mưa, không có gió ( từ cấp 4 tương đương
28km/h) không có sương mù.
+ Nhiệt độ môi trường: không trên 32
0
C và không dưới 10
0
C.
+ Ẩm độ tuyệt đối: Ẩm độ tuyệt đối của nông sản lớn hơn của môi trường.
+ Điểm sương: Nhiệt độ điểm sương trong kho nhỏ hơn nhiệt độ điểm
sương ngoài kho.
b. Làm thoáng tích cực
Là cách xử lý lô hạt bằng lượng không khí cho đi qua theo độ dày của nó.
Nhờ thông gió tích cực mà ta có thể sấy hoặc làm lạnh lô hạt để bảo quản một
cách tốt nhất.
* Ưu điểm
Trong lô hạt luôn có sự trao đổi không khí và độ ẩm giữa hạt với môi
trường xung quanh hạt.
* Yêu cầu
+ Không khí phải được quạt đều trong toàn khối hạt.
+ Đảm bảo đủ lượng không khí để đáp ứng mục đích giảm nhiệt độ và ẩm
độ khối hạt.
+ Nhiệt độ không khí thấp hơn nhiệt độ khối hạt. [6]
2.2.3. Phương pháp bảo quản lạnh
Nguyên tắc của phương pháp này là dùng nhiệt độ thấp để ức chế và triệt
tiêu sự hoạt động của vi sinh vật phá hoại.
- Làm lạnh tự nhiên: lợi dụng nhiệt độ thấp của môi trường bảo quản.
- Làm lạnh nhân tạo bằng kho lạnh, phòng lạnh,…
- Dùng các thuốc trừ nấm TMTD, các loại thuốc chống vi khuẩn gây thối
trong quá trình bảo quản rau quả tươi.
- Hóa chất kìm hãm sự tạo thành mầm không có tác dụng diệt mầm, chỉ có
tác dụng kìm hãm sự nảy mầm, nếu gặp điều kiện thuận lợi thì mầm vẫn phát
triển bình thường. Các chất ức chế nảy mầm được sử dụng là MH (maleic
hyđrazit).
- Bảo quản hành, tỏi, người ta sử dụng MH ở nồng độ 150 ppm. [7]
2.2.5. Bảo quản trong khí quyển điều chỉnh
Thực chất là khống chế tỷ lệ CO
2
, O
2
thích hợp cho bảo quản. theo nhiều
kết quả cho thấy giới hạn thay đổi thành phần không khí của khí quyển thích hợp
như sau: O
2
(2-5%), CO
2
(3-5). [10]
8
9
2.2.6. Bảo quản bằng phương pháp sunfit hóa
Kỹ thuật sunfit hoá để bảo quản sản phẩm sơ chế rau quả.
- Đặc điểm kỹ thuật sunfit hoá:
Sunfit hoá là phương pháp bảo quản rau, quả bằng SO
2
hoặc H
2
SO
3
2
SO
3
phụ thuộc vào nồng độ của chúng cao hay thấp
và phụ thuộc vào nhiệt độ khi xử lý. Ví dụ đối với tương quả.
Ở t
o
= 75
o
C thì nồng độ SO
2
là 0,05%.
Ở t
o
= 30- 40
o
C thì nồng độ SO
2
là 0,1 - 0,15%.
Ngoài ra hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào pH của môi trường tức là phụ
thuộc vào nồng độ ion H
+
. Nếu môi trường là pH kiềm hoặc trung tính thì SO
2
không có tác dụng, mà ngược lại nó chỉ có tác dụng bảo quản những loại rau quả
chứa nhiều axit hữu cơ. Nếu độ axit của rau quả càng cao thì nồng độ SO
2
sử
dụng càng thấp.
Ở môi trường pH = 7 thì nồng độ SO
2
SO
3
.
H
2
SO
3
là chất khử mạnh nên dễ làm thay đổi màu sắc của rau quả. Đặc biệt
là màu đỏ, xanh, rồi đến màu vàng và màu lục thì hầu như không bị biến đổi.
Những phản ứng mất màu hay là thuận nghịch, do đó khi bảo quản bằng SO
2
phải có quá trình khử sunfua (Desunfit). H
2
SO
3
có khả năng ăn mòn kim loại
(như sắt, thép) do đó cần chú ý các dụng cụ và thiết bị xử lý SO
2
và H
2
SO
3
.
- Kỹ thuật sunfit hoá: Có hai phương pháp sunfit hoá: khô và ướt
- Kỹ thuật sunfit hoá ướt: Người ta dùng dung dịch SO
2
đã được chuẩn bị
sẵn trong nước lạnh với nồng độ 4,5 - 5,5% để hoà dần vào sản phẩm bảo quản.
Số lượng tuỳ thuộc vào qui trình công nghệ với điều kiện sao cho đảm bảo nồng
11
Nước quả để uống 100 SO
2
và H
2
SO
3
được sử dụng dưới dạng muối của nó.
Để cần 1 g SO
2
sunfit hoá ta cần như sau:
NaHSO
3
:1,6g
KHNO
3
: 1,8 g
Ca(HSO
3
) : 3,1 g
Na
2
SO
3
: 2 g
K
2
SO
3
: 2,5 g
tiếp vào quả nên làm cho hàm lượng nước trong quả tăng lên và khi cô đặc thì
tốn thời gian và có khi làm cho phẩm chất thành phẩm bị giảm. Người ta có thể
dùng phương pháp đun cách thuỷ trong nồi hấp cũng có tác dụng tốt để khử
sunfua. [7]
11
12
2.3. Tình hình bảo quản và nghiên cứu
2.3.1. Tình hình bảo quản và nghiên cứu trên thế giới
Nhờ công nghệ và các phương tiện kĩ thuật, con người có thể hạn chế các
yếu tố dẫn đến tổn thất nông sản trong quá trình bảo quản chúng. Vì vậy, việc sử
dụng hóa chất diệt mầm, chất điều hòa sinh trưởng (để kìm hãm sự phát triển của
rau, quả) ở giai đoạn sau thu hoạch là cần thiết. Hóa chất kìm hãm sự tạo thành
mầm không có tác dụng diệt mầm, chỉ có tác dụng kìm hãm sự nảy mầm, nếu
gặp điều kiện thuận lợi thì mầm vẫn phát triển bình thường. Các chất ức chế nảy
mầm được sử dụng là MH (maleic hyđrazit). Nhiều loại quả (chuối, cà chua,
lê ) phải thu hoạch lúc còn xanh để giữ được lâu và dễ vận chuyển vì vậy điều
khiển quả chín đồng loạt, hình thức đẹp là điều rất cần thiết; etylen là chất được
sử dụng phổ biển hiện nay trên thế giới để điều chỉnh sự chín của quả.
Để bảo quản hành, tỏi, người ta sử dụng MH ở nồng độ 150 ppm. Trong
bảo quản quả vải việc sử dụng kết hợp chất chống thối CBZ (1,0 g/l), chất hấp
thụ etylen (1,5 g/kg quả) và xông lưu huỳnh 2 g/m
3
cho kết quả tốt; theo kết quả
nghiên cứu khoa học của Viện Công nghệ sau thu hoạch (1998 - 2000) thì vải
được bảo quản tốt trong 30 ngày theo phương pháp trên. Để bảo quản mận,
người ta sử dụng chất diệt nấm Benomyl (2/1000); CBZ(1/1000), chất hấp phụ
etylen, kết hợp xử lý nhiệt; nhờ đó có thể giữ cho mận tươi được trong 45 ngày ở
nhiệt độ 5
o
C; tổn thất dưới mức 10%.
tên thương phẩm, không có tên hóa học, liều lượng sử dụng không được quy
định rõ ràng, có độc tính cao, giá thành rẻ, hiệu quả cao nhưng lại không đảm
bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng xấu đến môi trường. Qua kết quả
xét nghiệm năm 2001 cho thấy tỷ lệ thực phẩm rau, quả nhiễm hóa chất BVTV
trong rau muống và đậu đũa ở Bắc Ninh tương ứng là 80% và 100%, nho tươi tại
Hà Nội, Hà Nam, Thái Nguyên, Ninh Thuận là 100%, rau muống, rau cải tại Hà
Nội tương ứng là 87% và 91% (Theo thời báo kinh tế Việt Nam số 27 ngày
19/4/2002). Trong chế biến lương thực thực phẩm (LTTP), chi phí sức lao động
13
14
cho khâu làm sạch nguyên liệu rất lớn. Quá trình này, ngoài việc tổn nhiều sức
lao động, còn tạo ra một lượng lớn phế liệu. Các nhà chuyên môn trong công
nghiệp thực phẩm đã đề ra phương pháp làm sạch bằng kiềm để phá hủy
propectin. Hóa chất sử dụng chủ yếu là NaOH, natri hexanmetaphotphat,
Ca(OH)
2
, KOH
Ngoài ra, các biện pháp hóa học còn được ứng dụng rộng rãi trong quá trình
sơ chế bảo quản (quá trình sunfit hóa để khử màu, ức chế vi sinh vật phát triển
được sử dụng trong chế biến tinh bột, các sản phẩm tinh bột, sơ chế quản rau
quả, sản xuất nước quả ).
Nhiều loại hóa chất bảo quản được sử dụng trong chế biến thực phẩm như:
axit benzoic, muối benzoat, ka li propionat, axit salixilic, axit foocmic, axit
flohyđric, khí sunfuarơ, axit sorbic và các sorbat Các chất phụ gia thực phẩm
đóng vai trò rất quan trọng trong việc chế biến LTTP làm các chất điều vị, tạo
màu, ổn định cấu trúc, tạo bọt, nhũ hóa, làm rắn chắc đã tạo cho thực phẩm chế
biến có chất lượng cao hơn hẳn. Đến nay Bộ Y tế Việt Nam đã cho phép sử
dụng 18 chất bảo quản và 126 chất phụ gia thực phẩm khác. [11]
Hầu hết các chất hóa học được sử dụng đều là những chất độc đối với các
vi sinh vật, sinh vật hại nhưng cũng độc với người theo những mức độ khác
Từ kết qủa nghiên cứu sự phát triển hình thái và đặc điểm sinh lý, mật độ
phá hại của 3 loại mọt ngô, mọt cà phê và mọt bột đỏ trên 5 giống sắn khác nhau
đưa ra quá trình bảo quản sắn khô cho hiệu quả, giảm tổn thất 5- 7% sau 6 tháng
bảo quản.
Đề xuất quy trình công nghệ bảo quản sắn tươi ở điều kiện thường: Xử lý
dung dịch Ca(OH)
2
0,5% và vùi vào trong mùn cưa ẩm (W = 50%), có tỷ lệ chảy
nhựa thấp 10% và tỷ lệ thối hỏng là 5,25% sau 30 ngày bảo quản, đảm bảo chất
lượng dinh dưỡng.
Triển khai thực nghiệm bảo quản sắn tươi tại Thạch Hoà- Thạch Thất- Hà Tây
(Quy mô 600kg), sau 30 ngày bảo quản chất lượng sắn vẫn tốt, đạt yêu cầu. [5]
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1. Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1. Vị trí địa lí
Xã Gia Xuyên- Huyện Gia Lộc- Tỉnh Hải Dương là một xã thuần nông có
vị trí địa lí như sau:
- Phía Đông giáp với xã Tân Tiến- huyện Gia Lộc
- Phía Tây giáp với xã Liên Hồng và xã Gia Tân - huyện Gia Lộc
15
16
- Phía Nam giáp với xã Gia Khánh- huyện Gia Lộc
- Phía Bắc giáp với xã Thạch Khôi và xã Tân Hưng- huyện Gia Lộc
2.4.1.2. Địa hình
Xã Gia Xuyên- Huyện Gia Lộc- Tỉnh Hải Dương là một xã thuần nông có
tổng diện tích tự nhiên 512,08 ha chủ yếu là đất bằng phẳng phục vụ cho canh
tác và sản xuất nông nghiệp.
2.4.1.3. Khí hậu, thuỷ văn
Xã Gia Xuyên- huyện Gia Lộc của tỉnh Hải Dương nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông).
- Giá trị SXNN và Thuỷ sản: 70.675,3 triệu, tăng 10% đạt 102,3% kế hoạch
so với năm 2010.
- Giá trị sản xuất TTCN và XDCB: 33.840 triệu đồng đạt 100,3% kế hoạch,
tăng 15,4% so với năm 2010.
- Giá trị DVTM: 44.966,5 triệu đồng đạt 107,5% kế hoạch, tăng 18,8% so
với năm 2010.
Cơ cấu kinh tế nông thôn.
(Nông nghiệp đạt 34,2%; TTCN - XDCB = 22,63%; Dịch vụ = 30,1% )
a. Sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản
* Trồng trọt
17
18
Tổng diện tích gieo trồng là 648,19 ha, đạt 87,8% kế hoạch, giảm 1,5% so
với năm 2010, hệ số quay vòng đất đạt 2,61 lần.
Trong đó:
Diện tích cấy lúa cả năm là: 310,2 ha, năng suất lúa bình quân đạt 60,1
tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực là 1.864,3 tấn. Giá trị đạt 13.982,3 triệu đồng;
Diện tích cây vụ xuân là 29,4 ha, giá trị sản xuất đạt 55,5 triệu đồng/1ha.
Giá trị đạt 1.631,7 triệu đồng;
Diện tích cây hè thu là 105,6 ha, trong đó dưa hấu: 11,9 ha, dưa lê 56,5 ha,
đỗ tương là 4,3 ha, Ngô 11,2 ha; rau màu khác: 21,7 ha, bình quân 1ha đạt 69,4
triệu đồng. Giá trị đạt 7.328,64 triệu đồng;
Diện tích cây vụ đông là 177,09 ha, giá trị 1 ha đạt 89,9 triệu đồng. Tổng
giá trị cây vụ đông đạt 15.920,83 triệu đồng;
Diện tích đào hoa, cây cảnh là 25,9 ha, 40% diện tích cây thu hoạch giá trị
đạt 9 triệu đồng/sào, 250 triệu đồng/ha. Giá trị đạt 6.475 triệu đồng;
Giá trị trồng cây trong đất thổ cư đạt 303 triệu đồng gồm các cây như:
nhãn, vải, chuối và một số cây ăn quả khác.
Tổng giá trị cây rau màu đạt 31.659,17 triệu đồng tăng 14,54% so với
năm 2010.
và 1.333lao động hưởng các khoản như: lương, phụ cấp và trợ cấp xã hội. Các
dịch vụ trên đã đáp ứng phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân, góp
phần giải quyết công ăn việc làm tăng thu nhập cho người lao động. Nhằm cải
thiện đời sống dân sinh, góp phần xoá đói giảm nghèo ở địa phương
d. Hoạt động của HTX DVNN
HTXDVNN: Đã thường xuyên làm tốt công tác liên kết với trạm khuyến
nông, trạm BVTV, trạm Thú y để chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nhân dân.
Năm 2011 đã tổ chức được 12 cuộc cho 1040 lượt người tham dự. Ngoài chức
năng trên HTXDVNN còn làm tốt công tác dịch vụ tưới tiêu nước phục vụ cho
19
20
sản xuất nông nghiệp. Đã cơi tràn được 870m
3
kênh cấp 2, nâng cấp 03 ly tâm
đời mới động cơ 20KW, công suất đạt 750m
3
/h.
Tổ chức tốt việc tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm và phòng dại cho đàn
chó. Thực hiện tốt các đợt tiêm phòng dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm. Kết
quả cụ thể: đàn chó 1150 liều. Tổ chức làm mới 05 đăng chắn rác cho các máy
bơm, thường xuyên tu sửa bảo dưỡng các trạm bơm của địa phương đảm bảo
hoạt động tốt phục vụ tưới tiêu cho sản xuất.
HTX dịch vụ quản lý Điện: thường xuyên làm tốt chức năng phục vụ điện
cho sinh hoạt và sản xuất, đảm bảo an toàn hành lang lưới điện. Thực hiện tốt
việc bán giá điện bậc thang. Năm 2011 HTX đã đầu tư cải tạo, nâng cấp, sửa
chữa các tuyến đường không nằm trong kinh phí dự án REII giá trị đầu tư 300
triệu đồng, trả cho dự án REII tiền gốc và lãi là 169,4 triệu đồng.
2.4.2.2. Tình hình văn hoá xã hội
a. Về công tác giáo dục
Năm 2011 là năm tiếp tục thực hiện Nghị định số 40/2002- QH, Quốc hội
và nâng cấp các cống, phục vụ tốt cho việc tưới, tiêu phục vụ đời sống nhân dân
và hoa màu.
* Giao thông
Thường xuyên tổ chức giải toả hành lang giao thông, nhắc nhở, xử lý giải
phóng mặt bằng các tuyến đường do xã quản lý. Tổ chức sửa chữa duy tu, quản
lí tốt các trục đường trên địa bàn xã, phối hợp với các cơ quan chức năng làm tốt
công tác cưỡng chế giải toả hành lang giao thông trên đường 38B đoạn chạy qua
địa bàn xã Gia Xuyên.
c. Y tế
Tiếp tục tổ chức thực hiện đề án, chương trình hành động của Đảng bộ về
nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Cán bộ từ trạm
xuống đến thôn đều cố gắng phục vụ người bệnh. Năm 2011 đã tổ chức khám
cho 8.560 lượt người. Trong đó khám tại trạm là 660 lượt người. 100% bà mẹ có
thai, trẻ em trong độ tuổi tiêm chủng được tiêm đầy đủ, đúng lịch, 100% trẻ từ 6-
36 tháng tuổi được uống Vitamin A vào các ngày vì chất lượng dinh dưỡng trong
21
22
năm. Ngoài nhiệm vụ trên trạm y tế còn viết bài, tổ chức tuyên truyền cho nhân
dân phòng bệnh theo mùa, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống các dịch
bệnh nguy hiểm ở người, phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống
HIV/AIDS. Trong các ngày thực hiện phong trào liên quan tới công tác y tế. Xã
giữ vững danh hiệu chuẩn quốc gia về y tế. [3]
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác bảo quản nông sản của nông hộ tại xã Gia Xuyên
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Các hoạt động sản xuất nông nghiệp và phương pháp bảo nông sản của
Thái Nguyên bằng cách phỏng vấn, coppy.
- Thu thập các thông tin thông qua các văn bản, chỉ thị, nghị định, nghị
quyết, tạp chí, sách báo, các chính sách CNH- HĐH và các chính sách khác.
- Các số liệu thứ cấp được thu thập bao gồm : liên hệ trực tiếp và xin số liệu
tại UBND xã Gia Xuyên- huyện Gia Lộc về các số liệu điều kiện tự nhiên, kinh
tế- xã hội, của xã Gia Xuyên, các thông tin về diện tích, sản lượng nông sản của
xã Gia Xuyên, các bảng báo cáo thống kê tình hình phát triển chung về kinh tế
xã hội của xã từ năm 2009- 2011.
• Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp :
* Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)
- Chọn xóm điều tra : tiến hành chọn 3 thôn (mang tính chất đại diện cho xã
về vị trí địa lí, điều kiện phát triển kinh tế xã hội) đó là : thôn Tranh Đấu, thôn
Tâng Hạ và thôn Đồng Bào thuộc xã Gia Xuyên- huyện Gia Lộc.
- Liên hệ với UBND xã để nhận giấy giới thiệu về 3 thôn của xã gặp gỡ
trưởng thôn cũng như một số hộ sản xuất nông nghiệp trong thôn, các hộ điều tra
mang tính đại diện (về điều kiện tự nhiên, phát triển sản xuất nông nghiệp của
toàn xã…) cho thôn điều tra.
24
25
- Chọn nhóm điều tra phỏng vấn : bao gồm có cán bộ khuyến nông xã và 30
hộ nông dân thuộc 3 thôn trong xã (mỗi thôn lấy 10 hộ điển hình về tuổi tác,
kinh nghiệm sản xuất, trình độ học vấn khác nhau để tiến hành điều tra)
- Điều tra người đại diện cho UBND xã (khuyến nông xã) thông qua bộ câu hỏi
phỏng vấn khuyến nông xã (phụ biểu 01), với một số nội dung cụ thể như:
+ Tình hình chung của hoạt động khuyến nông về bảo quản nông sản tại địa
phương hiện nay như thế nào?
+ Hoạt động khuyến nông của xã về công tác bảo quản đã được thực hiện
hay chưa? Nguyên nhân?
+ Các hoạt động khuyến nông về công tác bảo quản nông sản có được
người dân quan tâm và hưởng ứng không?