1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản
xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được của ngành sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các
nguồn lợi tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm
trong lòng đất, sinh vật sống trên bề mặt trái đất, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng.
Đồng thời đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố
định trong không gian. Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý một cách hợp
lý, sử dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
Hơn nữa, quá trình phát triển kinh tế, quá trình đô thị hoá ở làm cho
mật độ dân cư ngày càng tăng. Chính sự gia tăng dân số, sự phát triển đô thị
và quá trình công nghiệp hoá làm cho nhu cầu về nhà ở cũng như đất xây
dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp trong cả nước vốn đã “bức
xúc” nay càng trở nên “nhức nhối” hơn. Đây là vấn đề nan giải không chỉ với
nước ta mà còn với các nước đang phát triển và phát triển trên thế giới. Để
giải quyết vấn đề này, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình những chương
trình, kế hoạch, chiến lược riêng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình
để sử dụng đất đai được hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Đặc biệt là đối với
nước ta một đất nước mà quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị
hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước.
Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy
định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý theo
quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích có hiệu quả”. Về
thực chất quy hoạch đất đai là sự bố chí phân bổ các loại đất sao cho sử dụng
phù hợp với yêu cầu của cuộc sống, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và luôn
chú ý đến việc bảo vệ và bồi dưỡng quỹ đất. Nhưng thực tế, việc thực hiện
quy hoạch sử dụng đất còn gặp những trở ngại, khó khăn dẫn đến quy hoạch
và những nguyên nhân chủ yếu, từ đó có các giải pháp phù hợp để khắc phục.
2
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Những vấn đề cơ bản về quy hoạch sử dụng đất
2.1.1.1. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt
Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên
nhiên bạn tặng cho con người. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự tồn
tại và phát triển của con người cũng như các sinh vật khác trên trái đất.
Đất đai là nguồn tư liệu sản xuất đặc biệt bởi vì: Đất đai là điều kiện
vật chất chung nhất với mọi hoạt động sản xuất của con người, đất đai vừa là
đối tượng lao động và là yếu tố không thể thiếu được trong sự tồn tại và phát
triển của con người.
Trong quá trình phát triển xã hội: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý
muốn chủ quan của con người. Đất đai tồn tại như một vật thể tự nhiên chỉ khi
tham gia vào quá trình lao động, chịu sự tác động của con người thì đất đai
mới trở thành tư liệu sản xuất. Tuy nhiên, sự khác biệt của đất so với các tư
liệu sản xuất khác đã nói lên tính chất đặc biệt của nguồn tài nguyên này.
Đất đai ở các vùng địa lý khác nhau có tính chất khác nhau, thể hiện sự
không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng… là một trong
các nguyên nhân làm cho chất lượng sản phẩm khác nhau. Vì vậy nó hình
thành nên các đặc sản khác nhau của mỗi khu vực. Trong đó đất đai lại hoàn
toàn cố định về vị trí, không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác và chúng
ta lại càng không thể thay đổi thế đất bằng các tư liệu sản xuất khác. Nhưng
nếu biết sử dụng hợp lý không những đất sẽ không bị hủy hoại mà còn có thể
làm tăng tính chất sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng đất.
Như vậy để sử dụng đất đai một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả
cao, bảo vệ nguồn tài nguyên đất, phân bổ hợp lý lao động trên lãnh thổ và tổ
khoáng). Bên cạnh đó đặc điểm kiến tạo địa hình, cảnh quan thiên nhiên đã
cung cấp cho con người cơ hội để thưởng thức, giải trí nâng cao giá trị đời
sống vật chất, tinh thần.
* Đối với các ngành nông - lâm nghiệp
Đất đai là yếu tố tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất cơ
sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động ( luôn chịu tác động trong quá
4
5
trình sản xuất như: cày bừa, xới xáo ) và công cụ hay phương tiện lao động (sử
dụng để trồng trọt, chăn nuôi ). Quá trình sản xuất nông lâm nghiệp luôn liên
quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất.
2.1.2. Khái niệm và các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kĩ thuật và
pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý,
khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh
định cho các mục đích của các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản
xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường.
Như vậy, về thực chất Quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành
các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang
lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối
quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục
đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, kết hợp bảo vệ đất và môi trường.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà
nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai đúng mục đích, hạn chế sự chồng
chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm
sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và
đất lâm nghiệp có rừng). Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực dẫn đến những
tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó
lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương,
đặc biệt là trong giai đoạn chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường.
có sự kết hợp chặt chẽ và phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu sau:
- Bao quát được toàn bộ đất đai phục vụ cho nền kinh tế quốc dân.
- Phát triển có kế hoạch tất cả các ngành kinh tế trên một địa bàn nhất định.
- Thiết lập được cơ cấu sử dụng đất đai hợp lý trên địa bàn cả nước,
trong các ngành và trên từng địa bàn lãnh thổ.
- Đạt hiệu quả đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường.
2.1.3. Các nguyên tắc cơ bản của lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là những phương
hướng chỉ đạo, cơ sở chủ yếu để dựa vào đó mà pháp luật điều chỉnh những
quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Trong quá trình xây dựng quy hoạch các nhà hoạch định chính sách
phải có tầm nhìn sâu rộng cho sự phát triển đất nước, vừa thể hiện sự tôn vinh
quá khứ vừa có định hướng lâu dài cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, tại
điều 21 Luật đất đai 2003 đã nêu một cách toàn diện 8 nguyên tắc cơ bản
6
7
trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. Trong đó đòi hỏi mỗi quy
hoạch phải được lập từ tổng thể tới chi tiết, có sự thống nhất cao giữa quy
hoạch cấp trên và cấp dưới thể hiện được đầy đủ nhu cầu sử dụng đất của
từng chủ sử dụng đất.
Các quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất phải hướng quá trình sử dụng
đất theo tiêu chí tiết kiệm và hiệu quả, đảm bảo việc khai thác nguồn tài
nguyên đất một cách hợp lý, góp phần bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa danh
lam thắng cảnh và cảnh quan môi trường phù hợp với quan điểm phát triển
bền vững.
2.1.4. Tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất
Để quản lý đất đai một cách chặt chẽ, sử dụng đất đai tiết kiệm, hợp lý,
có hiệu quả và đúng pháp luật thì việc tiến hành lập quy hoạch là điều tất yếu.
Quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai và các chính sách quản lý về đất đai có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chính sách đất đai chỉ thực hiện tốt có hiệu
- Quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp.
- Quy hoạch sử dụng đất chưa sử dụng.
Quy hoạch sử dụng đất đai cụm xã và vùng trọng điểm thường không
nằm chọn vẹn trong một đơn vị hành chính, do đặc thù của sản xuất chuyên
môn hóa, do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực có những đặc
tính riêng hoặc đơn thuần chỉ do yêu cầu phát triển tổng hợp để sử dụng đất
đai có hiệu quả hơn.
Quy hoạch theo ngành dựa trên cơ sở điều tra đánh giá khả năng thích
nghi của đất mà phân cho các ngành sử dụng và định hướng cho người sử
dụng đất phù hợp với đặc điểm từng ngành để mang lại hiệu quả cao nhất.
Việc quy hoạch sử dụng đất đai được phân kỳ thực hiện theo kế hoạch 5
năm và hàng năm dựa trên mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Kế hoạch sử dụng
đất đai cũng được phân theo cấp lãnh thổ hành chính và theo ngành nhưng cần
có sự kết hợp chặt chẽ và phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu sau:
- Bao quát được toàn bộ đất đai phục vụ cho nền kinh tế quốc dân.
- Phát triển có kế hoạch tất cả các ngành kinh tế trên một địa bàn nhất định.
- Thiết lập được cơ cấu sử dụng đất đai hợp lý trên địa bàn cả nước,
trong các ngành và trên từng địa bàn lãnh thổ.
- Đạt hiệu quả đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường.
8
9
2.1.6. Những văn bản quy định về quy hoạch sử dụng đất
2.1.6.1. Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch
1. Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả Nước
do Chính phủ trình.
2. Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương.
3. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp.
4. Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy hoạch,
Công tác quy hoạch phân bổ sử dụng đất đã được tiến hành từ lâu, ở
nhiều nước trên thế giới.
Tổng diện tích trên bề mặt trái đất là 511 triệu km
2
, trong đó chỉ có 148
triệu km
2
là đất liền, chiếm 29% tổng diện tích toàn cầu, còn lại 71% là đại
dương (chiếm 363 triệu km
2
). Theo tổ chức Nông Lâm thế giới (FAO), thì
trong 148 triệu km
2
đất liền được phân theo từng nhóm sau:
- 20% diện tích đất có nhiệt độ <-5
o
C.
- 20% diện tích đất là hoang mạc, sa mạc.
- 20% diện tích đất thuộc loại quá khô.
- 20% diện tích đất thuộc loại quá dốc.
- 10% diện tích đất là diện tích đất canh tác.
- 10% diện tích đất là đất đồng cỏ và chăn thả.
Quản lý đất đai là một việc phức tạp không nơi nào giống nơi nào nên ở
mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có một chính sách và công cụ quản lý đất đai
khác nhau. Trong đó, việc quy hoạch sử dụng đất là một công cụ quan trọng
giúp cho việc quản lý Nhà nước về đất đai đạt hiệu quả cao. Công tác quy
hoạch sử dụng đất đã được tiến hành từ nhiều năm trước đây với đầy đủ cơ sở
khoa học. Mặc dù trên thế giới việc lập quy hoạch đã ra đời từ lâu nhưng đến
nay nó vẫn nguyên giá trị vì qua mỗi thời kỳ, vùng đất có sự thay đổi thì lại
có những quy hoạch thay đổi, phù hợp. Đồng thời công việc quy hoạch sử
+ Trung tâm huyện.
+ Trung tâm thi trấn của tiểu vùng.
+ Trung tâm của làng xã.
Trong thời kỳ này trên địa bàn nông thôn Liên Xô chia cấp trung tâm
theo quan hệ từ trung tâm huyện qua trung tâm tiểu vùng đến trung tâm làng
xã. Quy hoạch nông thôn đã khai thác triệt để mặt bằng tổng thể các nhà ở,
khu sản xuất, khu văn hóa được bố chí hợp lý theo kiểu tổ chức quy hoạch đô
thị. Nhà ở được chia vùng với những lô đất tăng gia nhỏ và xây dựng theo hệ
11
12
thống quản lý nhà nước, bố trí không gian rộng rãi theo thiết kế chung, không
gây lãng phí, không gây lộn xộn. Đây là những thành công của Liên Xô trong
quy hoạch nông thôn. Mà một số nước cần học tập kinh nghiệm và vận dụng
vào điều kiện cụ thể như nước mình.
* Quy hoạch đất đai ở Thái Lan: Nông thôn ở Thái Lan cũng giống
như các nước Đông Nam Á đều có đặc điểm và những nét tương tự giống
nhau như ở nông thôn Việt Nam. Việc học hỏi đúc ra kinh nghiệm quý báu từ
công tác quy hoạch nông thôn ở Thái Lan là rất cần thiết.
Trong những năm gần đây Thái Lan đã có nhiều cố gắng lớn trong xây
dựng quy hoạch nông thôn để phát triển nền kinh tế, ổn định xã hội. Thái Lan
đã có sự đầu tư tương đối lớn cho việc xây dựng hệ thống mạng lưới giao
thông nông thôn phục vụ cho sản xuất, nối liền các khu vực sản xuất với khu
chế biến và thị trường tiêu thụ. Quá trình quy hoạch nông thôn tại các làng xã
được xây dựng theo mô hình và nguyên lý hiện đại mới. Khu dân cư được bố
trí tập trung, trung tâm làng xã là nơi xây dựng các công trình công cộng, các
khu sản xuất được bố trí thuận tiện nằm trong khu vực vòng ngoài.
* Ấn Độ: Là quốc gia có truyền thống phát triển lâu đời nhưng vấn đề
quy hoạch chưa được quan tâm nhiều. Ở đây, các khu đô thị phát triển theo
tính chất tự nhiên. Các khu đô thị được mở rộng theo kiểu đô thị vệ tinh với
quy mô đô thị nhỏ, lộn xộn. Các chuyên gia đã nhận định rằng mối quan hệ
bộ mặt nông thôn đã biến đổi rõ rệt. Nông nghiệp được phát triển theo hướng
sản xuất hàng hóa, các làng nghề truyền thống được khôi phục, kinh tế, dịch
vụ và du lịch đã được phát triển góp phần đưa Việt Nam từ nước phải nhập
khẩu lương thực thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới.
2.2.2.2. Thời kỳ trước Luật đất đai 1993
Ở thời kỳ này công tác quy hoạch được biết đến một cách rất sơ lược,
chủ yếu tập trung vào phát triển ngành nông nghiệp - lâm nghiệp phục vụ
phong trào hợp tác hóa với phương châm sử dụng tối đa nguồn tài nguyên đất,
song còn nôn nóng, sự hiểu biết còn hạn chế nên tính khả thi của phương
pháp còn thấp.
Từ 1987 đến trước luật đất đai 1993 công tác quy hoạch sử dụng đất đai
đã có cơ sở pháp lý quan trọng, thể hiện ngay trong Hiến Pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định:
13
14
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân: Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo
quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”.
Tuy nhiên, ở giai đoạn này chúng ta đang đứng trước nhiều khó khăn
và thử thách của nền kinh tế thị trường hàng hóa, đời sống nhân dân còn
nhiều khó khăn nên công tác quy hoạch vẫn chưa thực hiện một cách sát sao
triệt để. Song công cuộc đổi mới nông thôn diễn ra sâu sắc, xóa bỏ chế độ hợp
tác xã chuyển sang giao đất, cấp đất cho từng hộ gia đình. Có thể nói đây là
mốc quan trọng đánh giá công tác triển khai quy hoạch sử dụng đất cấp xã
trên toàn quốc.
2.2.2.3. Từ Luật đất đai 1993 đến nay
Giai đoạn này công tác quản lý đất đai đã đi vào nề nếp. Hầu hết các
tỉnh, thành phố, huyện, xã đã lập song quy hoạch cho đơn vị mình đến năm
2010, phù hợp hợp với quy hoạch tổng thể của cả nước và định hướng phát
triển kinh tế xã hội.
Từ khi luật đất đai 1993 ra đời, công tác quản lý đất đai được tiến hành
Được sự quan tâm đầu tư của UBND huyện Văn Yên xã đã có quy hoạch xây
dựng khu trung tâm từ năm 2005, đến nay luôn được quản lý, thực hiện đúng
quy hoạch.
Về kế hoạch sử dụng đất, theo luật Đất đai năm 1993 được thực hiện
hàng năm đã tạo điều kiện cho việc nắm bắt tình hình quản lý và sử dụng đất
đai tại địa phương, kịp thời bổ sung các công trình sử dụng đất khi có các nhu
cầu sử dụng đất phát sinh.
Kế hoạch sử dụng đất sau khi được phê duyệt làm căn cứ cho việc giao
đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hàng năm phục vụ tốt cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai
và phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã. Tuy
nhiên trong quá trình triển khai thực hiện lập kế hoạch sử dụng đất vẫn còn
gặp nhiều khó khăn và tồn tại đó là: Một số dự án triển khai còn chậm, thiếu
nguồn vốn đầu tư, công tác giải phong mặt bằng còn chậm, chưa có quy
hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt làm định hướng.
15
16
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng sử dụng đất đai so với phương án
quy hoạch sử dụng đất của xã Xuân Ái giai đoạn 2008 - 2010.
Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Xuân Ái.
- Phạm vi nghiên cứu: Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã
Xuân Ái - huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái giai đoạn 2008 - 2010.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
- Địa điểm: UBND xã Xuân Ái - huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái.
- Thời gian tiến hành: Từ 02/01/2012 đến ngày 19/05/2012.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Xuân Ái - huyện
Trên cơ sở các tài liệu, số liệu đã thu thập được trong các phòng ban,
tiến hành điều tra dã ngoại bổ sung nhằm thống nhất các tài liệu, số liệu đã
thu thập được. Phát hiện và bổ sung những thiếu sót, những chênh lệch giữa
thực tế và tài liệu thu thập được.
3.4.3. Phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp số liệu
- Tiến hành thống kê toàn bộ tài liệu, số liệu liên quan đến đề tài có hệ
thống biểu mẫu và nguyên tắc thống kê, góp phần giúp cho việc nghiên cứu
đạt kết quả.
3.4.4. Phương pháp sử lý số liệu
Đây là khâu quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu, đánh giá công
tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Các tài liệu, số liệu đã thu thập được cần
phải được chọn lọc, loại bỏ những yếu tố không cần thiết, lấy các số liệu hợp
lý, có cơ sở khoa học và đúng với tình hình thực tế địa phương.
3.4.5. Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh và viết báo cáo
Phương pháp này được tiến hành sau khi đã thu thập thống kê đầy đủ
các số liệu cần thiết. Từ đó phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh các dữ liệu
để rút ra nhận xét về mặt thuận lợi hay khó khăn, từ đó đưa ra giải pháp khắc
phục. Phương pháp này đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng.
17
18
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Xuân Ái - huyện
Văn Yên - tỉnh Yên Bái giai đoạn 2008 - 2010
4.1.1. Điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Xuân Ái nằm ở khu vực phía Tây Nam của huyện Văn Yên, tổng diện
tích đất tự nhiên là 1674,92 ha, xã cách trung tâm huyện lỵ Văn Yên (thị trấn
Mậu A) 20 km về phía Tây Nam. Toàn xã có 11 thôn bản. Ranh giới được xác
định như sau:
- Lượng mưa: Xuân Ái có lượng mưa bình quân khá cao, bình quân từ
1500 - 2000 mm/năm.
- Số giờ nắng: Số giờ nắng bình quân cả năm là 1616 - 1766 giờ.
4.1.1.4. Thủy văn
Xuân Ái có sông Hồng chảy dọc theo ranh giới của xã, lưu lượng nước
sông Hồng thường thay đổi thất thường, mùa khô, mực nước thấp, gây ra tình
trạng thiếu nước trong sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng đến đời sống của
nhân dân. Mùa mưa, lưu lượng nước sông Hồng tăng nhanh, nước lũ tràn về
đột ngột gây ra tình trạng ngập lụt. Phù sa sông Hồng rất giàu chất dinh
dưỡng, thích hợp với nhiều cây hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày.
4.1.1.5. Các nguồn tài nguyên
a. Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra thì xã Xuân Ái có 3 nhóm đất chủ yếu sau:
- Nhóm đất phù sa: Nhóm đất này có khoảng 500 ha, chiếm 30% diện
tích tự nhiên toàn xã, được phân bố chủ yếu ở các xã vùng ven sông Hồng.
Nhóm đất này được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa của sông Hồng,
trên địa hình tương đối bằng phẳng nhỏ ven sông nên đất thường có thành
phần cơ giới trung bình đến nhẹ.
- Nhóm đất Glây (GL): Nhóm đất này có diện tích khoảng 300 ha,
chiếm 18% diện tích tự nhiên toàn xã, phân bố trên các địa hình thấp trũng
hoặc thung lũng giữa các dãy đồi khả năng thoát nước kém. Đất Glây hình
thành từ vật liệu không gắn kết, từ các vật liệu có thành phần cơ giới thô và
trần tích phù sa có đặc tính Fulvie, thường được hình thành ở địa hình đọng
nước và những nơi có mực nước ngầm nông, đất có mầu nâu đen, xám đen,
lầy thụt, bão hòa nước có tính chương co lớn, khi khô trở thành cứng rắn,
19
20
trong đất có quá trình khử chiếm ưu thế, nhóm đất này chưa có thay đổi về
môi trường đất.
- Nhóm đất tầng mỏng (E) Leptosols (LP): Nhóm đất này có diện tích
20
21
4.1.1.6. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên của xã
Xuân Ái
a. Những lợi thế
Xã Xuân Ái có điều kiện tự nhiên, tài nguyên phong phú và đa dạng,
nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa. Điều kiện đất đai còn tương đối tốt,
đặc biệt là vùng ven sông Hồng với những cánh đồng phù sa rất thích hợp cho
phát triển cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, vùng đồi bát úp thích
hợp trồng cây công nghiệp dài ngày và có khả năng kết hợp nông, lâm nghiệp
tạo ra các vùng chuyên canh cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến,
làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp.
Bên cạnh đó, xã Xuân Ái còn có nhiều tiềm năng về phát triển các ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và đặc biệt là các loại hình dịch vụ, đây cũng
chính là điều kiện thuận lợi để chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp,
dịch vụ, nông lâm nghiệp mà Đảng bộ xã đề ra trong giai đoạn 2008 - 2010.
Nhân dân các dân tộc xã Xuân Ái đoàn kết, tích cực, năng động và giàu
truyền thống cách mạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất.
b. Khó khăn
Là xã thuần nông, sử dụng đất còn manh mún, sản phẩm sản xuất với
số lượng nhỏ thiếu sự cạnh tranh, chủ yếu là nguyên liệu thô sơ, cơ sở hạ tầng
nhìn chung còn thấp, khả năng gọi vốn đầu tư còn hạn chế.
Là xã miền núi nên địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi, giao thông đi
lại khó khăn.
Do điều kiện khí hậu, địa hình phức tạp về mùa mưa thường có lũ, là
điều bất lợi cho sản xuất nông nghiệp.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Tình hình phát triển chung
Phát triển kinh tế - xã hội của xã Xuân Ái với nền sản xuất nông - lâm
trồng có năng suất, giá trị kinh tế cao vào sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ
thuật tiên tiến trong thâm canh, luân canh tăng vụ, tăng giá trị sản xuất trên
đơn vị diện tích, tạo điều kiện cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng
phù hợp theo định hướng phát triển của xã, huyện.
Theo thống kê, năm 2008 xã có 287,51 ha đất sản xuất nông nghiệp,
trong đó: đất trồng lúa 162,19 ha, đất trồng cây hàng năm 201,78 ha, đất trồng
cây lâu năm 85,73 ha.
Có được kết quả như vậy là do cấp Đảng ủy, chính quyền địa phương
tiến hành tập trung chỉ đạo nhân dân địa phương tận dụng tốt nguồn vốn và
quỹ đất, mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tích cực đầu tư, đưa
22
23
các loại giống mới vào trong sản xuất nông nghiệp theo sự hướng dẫn chuyển
giao khoa học kỹ thuật của trung tâm khuyến nông huyện.
b. Lâm nghiệp
Trong năm vừa qua xã đã có công tác bảo vệ và phát triển rừng luôn
được quan tâm và chỉ đạo thực hiện và sản xuất trực tiếp. Năm 2008 tổng diện
tích đất lâm nghiệp là 1151,36 ha.Trồng những cây như (keo, quế, bồ đề…).
Diện tích rừng trồng mới năm 2008 là 34,4 ha, góp phần bảo vệ môi trường
sinh thái, thu nhập từ rừng không ngừng tăng theo các năm, nhiều hộ sản xuất
lâm nghiệp giàu lên từ trồng rừng sản xuất.
Ngoài ra công tác trồng chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng được
chính quyền và nhân dân thực hiện tốt, các vụ việc chặt phá, khai thác rừng
trái phép đã giảm so với những năm trước đây. Công tác phòng cháy rừng
trong mùa khô hanh được thực hiện theo kế hoạch.
c. Chăn nuôi
Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp, đã cung cấp một lượng
lương thực lớn cho chăn nuôi, nhờ vậy mà hàng năm ngành chăn nuôi trên địa
bàn xã cũng có những bước tiến khá mạnh, một số hộ chuyển hướng chăn
nuôi theo quy mô hộ gia đình, trang trại. Nhờ đưa các tiến bộ khoa học vào
26.200 con. Trong đó:
- Đàn trâu, bò: Năm 2010 là 780 con tăng 242 con so với năm 2008.
- Tổng đàn lợn: Năm 2010 là 420 con tăng 90 con so với năm 2008.
- Chăn nuôi gia cầm: Năm 2010 tổng đàn gia cầm của xã là 25000 con
tăng 6000 con so với năm 2008.
Trong tương lai xã cần phát triển mạnh đàn gia súc, gia cầm tận dụng tốt
các điều kiện hiện có, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân từ chăn nuôi.
4.1.2.2.2. Ngành kinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Trong những năm qua, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên
địa bàn xã đã có những dấu hiệu chuyển biến ở bước đầu nhưng vẫn còn rất
nhiều khó khăn, hạn chế. Giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
vẫn còn thấp. Sản xuất công nghiệp có một số cơ sở sản xuất gạch nung phục
vụ nhu cầu xây dựng tại chỗ, một số xưởng chế biến gỗ thương phẩm. Các cơ
sở này chủ yếu là nhỏ lẽ nằm trong diện tích đất của hộ gia đình và cá nhân,
chưa được đầu tư lớn. Trong năm đã giải quyết việc làm cho nhiều người dân
tại địa phương. (Nguồn: Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng
đất).
4.1.2.2.3. Ngành kinh tế thương mại và dịch vụ
Tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực kinh tế dịch vụ trong những năm
gần đây đều tăng và chuyển dịch đúng hướng. Số lượng cơ sở sản xuất kinh
doanh ngày càng tăng đã đảm bảo cung ứng các mặt hàng phục vụ sản xuất và
đời sống của nhân dân.
Số cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ tăng 30% so với năm 2008.
Hình thành một số cơ sở chế biến nhỏ lẻ của hộ gia đình cá nhân.
4.1.2.3. Dân số, lao động và việc làm
a. Hiện trạng dân số
Năm 2010 dân số toàn Xã là 3734 người.
Toàn xã có 5 dân tộc anh em trong đó có các dân tộc chủ yếu sau:
+ Dân tộc kinh: 3520 người = 94,27 % tổng dân số trong xã.
+ Dân tộc Dao: 99 người = 2,65 % tổng dân số trong xã.
và nâng cao trình độ kỹ thuật cho người dân để đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế, văn hoá xã hội của xã.
4.1.2.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
a. Hệ thống đường giao thông
Trên địa bàn xã có 2 loại hình giao thông vận tải đó là: Đường thủy và
đường bộ.
25