Quá trình đổi mới tư duy về đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của ĐCSVN - Pdf 13

Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
I. MỞ ĐẦU :
1. GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II. NỘI DUNG :
1. ĐỔI MỚI,HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH
QUAN
2. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
2.1. ĐẠI HỘI VI
2.2. ĐẠI HỘI VII
2.3. ĐẠI HỘI VIII
2.4. ĐẠI HỘI IX
2.5. ĐẠI HỘI X
3. KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP
KINH TẾ CỦA NƯỚC TA
III. KẾT LUẬN :
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
1
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
I. MỞ ĐẦU :
1. GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI :
Thế giới ngày nay đang nhanh chóng đổi mới. Chủ nghĩa xã hội phải phấn
đấu để chứng minh tính ưu việt của mình về mọi mặt so với chủ nghĩa tư bản.Đối với
các nước xã hội chủ nghĩa đổi mới là con đường để vươn lên đáp ứng yêu cầu thời đại,
đáp ứng với nhu cầu chính đáng và ngày càng cao của nhân dân. Đối với nước ta những
năm 80 của thế kỉ XX đổi mới lại càng là yêu cầu cấp thiết. Đây là một thời kì hết sức
khó khăn của đất nước ta : chiến tranh vừa chấm dứt, đời sống nhân dân còn nghèo nàn
lạc hậu bên cạnh đó là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu…khó khăn chồng chất khó khăn
tạo nên xuất phát điểm thấp của nuớc ta bấy giờ.Thế nhưng với sự nỗ lực, đoàn kết toàn

II. NỘI DUNG :
1. ĐỔI MỚI,HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ LÀ MỘT YẾU TỐ KHÁCH
QUAN .
Sau đại thắng Xuân 1975, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước đã tạo những
điều kiện cơ bản để cả nước Việt Nam chuyển sang một giai đoạn cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Lao động Việt Nam họp tại
Hà Nội tháng 12-1976 đã tổng kết 21 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và
đấu tranh thống nhất nước nhà, nêu rõ sự tất yếu và tầm quan trọng của việc cả nước
tiến lên chủ nghĩa xã hội sau khi kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi,quyết định
phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980). Trong Đại
hội, Đảng quyết định khôi phục lại tên cũ là Đảng Cộng Sản Việt Nam.Sau 5 năm, nhân
dân đạt đựoc những thành tựu rất quan trọng về mọi mặt:
Các cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải bị địch bắn phá, về cơ
bản đã được khôi phục xong và bước đầu phát triển. Diện tích gieo trồng tăng thêm gần
2triệu ha. Nhiều nhà máy được gấp rút xây dựng. Giao thông vận tải được khôi phục và
xây dựng mới1700 km đường sắt, 3800 km đường bộ. Tuyến đường sắt Thống Nhất sau
30 năm gián đoạn được khôi phục lại.
Cải tạo xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh trong các vùng mới giải phóng ở miền
Nam:giai cấp tư sản mại bản bị xóa bỏ, đại bộ phận nông dân đi vào con đường làm ăn
tập thể, thủ công nghiệp và thương nghiệp được sắp xếp và tổ chức lại.
Xóa bỏ những biểu hiện của văn hóa phản động, xây dựng nền văn hóa mới cách
mạng. Giáo dục ở các cấp mẫu giáo, phổ thông, đại học đều phát triển. Năm học 1979-
1980, tính chung số người đi học thuộc đối tượng trong cả nước là 15 triệu, tăng hơn
năm học 1976-1977 là 2 triệu.
Tuy nhiên, nền kinh tế của ta sau 5 năm vẫn còn mất cân đối lớn, sản xuất phát
triển chậm, thu nhập quốc dân và năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều
khó khăn.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng họp tháng 3-1982 xác định
thời kì qúa độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trải qua nhiều chặng, gồm chặng đường
đầu tiên và những chặng đường tiếp sau. Đại hội quyết định phương hướng nhiệm vụ,

muốn thu lại từ doanh nghiệp. Và những chỉ tiêu này cũng hủy diệt gần như hoàn toàn
mọi sáng tạo, năng động của doanh nghiệp. Chuyện mua bán thời bao cấp với cảnh
ngăn sông cấm chợ, giá dưới đất giá trên trời, mua không được bán không xong là kết
quả của quá trình siết chặt quá nóng vội, mạnh tay Các chuyên gia kinh tế bao cấp nghĩ
rằng Nhà nước bán rẻ (dưới giá thành) cho dân những mặt hàng thiết yếu thì Nhà nước
cũng phải mua sản phẩm của họ với giá rẻ (dưới giá thành). Phần chênh lệch sẽ được
tính tương đương nhau, không bên nào bị thiệt mà vẫn ổn định được nhu cầu của mình.
Cả xã hội lúc ấy trở thành một thị trường mua không được bán cũng không xong. Và
khi không đủ hàng hóa để cung cấp, sự thất thoát giữa các khâu phân phối trung gian
quá lớn thì thương mại quốc doanh trở thành một thứ ân sủng đối với người tiêu dùng.
Vì thế thị trường tự do không thể bị xóa bỏ triệt để nhưng cũng không ngừng bị bóp
nghẹt. Nó đã đẻ ra môi trường màu mỡ cho những thủ đoạn tiêu cực như móc ngoặc,
chà đạp, tham ô, đầu cơ. Hàng hóa đã khan hiếm lại bị đủ thứ trò mánh mung, thiệt thòi
nhất vẫn là kẻ mua mà mặt mày thường cứ như người “mất sổ gạo”. Đó là thời kỳ mà
thành quả kinh tế tưởng tượng rất lớn, nhưng thành tích cụ thể rất nghèo nàn.
Không chỉ dừng lại ở đó, nền kinh tế thế giới lâm vào thời kì khủng hoảng, các
nước XHCN lâm vào khủng hoảng trầm trọng . Nước ta dần dần bị các nước anh em
cắt viện trợ kinh tế làm cho tình hình đất nước hết sức khó khăn, đời sống nhân dân gặp
muôn vàn khó khăn.
Trước tình hình đó , Đảng nhanh chóng nhận khuyết điểm trước toàn thể nhân
dân và tiến hành cải cách kinh tế xóa bỏ nền kinh tế tự cung tư cấp , quan liêu bao cấp .
Dấu ấn quan trọng đó được tiến hành tại ĐẠI HỘI VI đã làm thay đổi toàn thể bộ mặt
xã hội .
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
4
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
2. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ (K TQT )CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM :
Quá tình đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng được thể hiện
xuyên suốt trong các văn kiện đại hội của Đảng từ đại hội VI đến đại hội X . Dưới đây

của Đảng là:
• Phải lấy dân làm gốc.
• Phải luôn luôn xuất phát từ tình hình thực tế khách quan.
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
5
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
• Phải làm theo quy luật khách quan. Bài học về xây dựng Đảng Cộng sản ngang tầm
với tình hình nhiệm vụ mới,
Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới ở đâykhông phải chỉ
thay đổi con đường và mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là làm sao cho mục tiêu ấy được
thực hiện tốt hơn bằng quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những biện pháp,
bằng những bước đi, những hình thức thích hợp. Đổi mới toàn diện đồng bộ từ kinh tế
đến chính trị tư tưởng đến xã hội. Đổi mới về kinh tế là trọng tâm, đổi mới về chính trị
cần phải làm tích cực nhưng phải thận trọng không gây mất ổn định, không làm thiệt
hại công cuộc đổi mới.
Nội dung đổi mới về kinh tế:
+ Đại hội đề ra thời kỳ quá độ của nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội phải qua nhiều
chặng đường mà chặng đường đầu tiên để cho việc công nghiệp hoá chủ nghĩa xã hội
trong những chặng đường tiếp theo.
+ Đại hội Đảng VI đề ra trong những năm 1986-1990 cần tập trung sức người, sức
của để thực hiện 3 chương trình: Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu.
+ Cơ cấu kinh tế ở nước ta phải bao gồm công nghiệp, nông nghiệp và phải kết hợp
chặt chẽ với nhau. Về công nghiệp phải đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu, xây dựng các ngành công nghiệp phải xây dựng toàn diện, phát triển nông -lâm –
ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến, nông nghiệp phải đảm bảo lương thực -
thực phẩm coi đó là nhiệm vụ hàng đầu để ổn định tình hình.
+ Cải tạo quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và tình hình của lực lượng sản
xuất, không ngừng hoàn thiện các hình thức khoán sản phẩm đến nhóm người lao động
ở nông thôn, khuyến khích sản xuất.

sự phân công chuyên môn hoá máy móc theo lối áp đặt từ trên, không bị chia cắt theo
địa giới hành chính.
* Ba là, kinh tế quốc doanh phải được củng cố và phát triển, nắm vững vị trí then chốt
trong nền kinh tế, phát huy ưu thế về kỹ thuật, công nghệ, không ngừng nâng cao năng
suất, chất lượng, hiệu quả, chủ động liên kết và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác để
thực hiện tốt vai trò chủ đạo, bảo đảm cho sự phát triển ổn định và có hiệu quả của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước bảo đảm
quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp quốc doanh và tạo điều kiện cho
kinh tế quốc doanh thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và trên thị trường
bằng phương thức kinh doanh.
Kinh tế quốc doanh cần có lực lượng đủ sức chi phối thị trường, song không
nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành, nghề. Những ngành, nghề, loại hoạt
động nào mà kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt, có lợi
cho nền kinh tế thì nên tạo điều kiện cho các loại hình kinh tế ấy phát triển.
* Bốn là, kinh tế hợp tác xã có nhiều hình thức từ thấp đến cao. Mọi tổ chức sản
xuất kinh doanh do những người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức và được quản lý
theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kỹ thuật, mức độ tập thể hoá
tư liệu sản xuất, đều là hợp tác xã. Theo tinh thần đó, cần củng cố và phát triển hợp tác
xã trong các ngành, nghề với hình thức và quy mô thích hợp, có tác dụng thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển
Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp là các đơn vị kinh tế hợp tác với
nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất. Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất quản lý việc
thực hiện chế độ khoán ruộng đất cho xã viên, đồng thời tổ chức kinh doanh những
khâu, những hoạt động kinh tế mà việc làm chung có lợi hơn từng gia đình tự làm, đặc
biệt là trong các dịch vụ sản xuất và lưu thông, thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
và trong việc mở mang ngành nghề; cùng với chính quyền và các đoàn thể chăm lo các
vấn đề xã hội đối với gia đình xã viên. Quy mô tổ chức và cơ chế, bộ máy quản lý hợp
tác xã, tập đoàn sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của từng đơn
vị, do tập thể xã viên quyết định.
Gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ, ngoài việc nhận khoán sử dụng

kết quả đạt được trong bước đầu đổi mới đã có thể xác nhận khả năng tự đổi mới của
nhân dân ta là hiện thực.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (họp từ ngày 24 đến 27-6-1991) đã
tổng kết, đánh giá việc thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội VI, đề ra chủ trương,
nhiệm vụ nhằm kế thừa, phát huy những thành tựu ưu điểm đã đạt được; khắc phục
những khó khăn hạn chế mắc phải trong bước đầu đổi mới ngăn ngừa những lệch lạc
phát sinh trong quá trình đó, điều chỉnh, bổ sung, phát triển đường lối đối mới (được đề
ra từ Đại hội VI) để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước tiến lên.
Ngoài việc quyết định những công việc cách mạng trong nhiệm kì, Đại hội VII
của Đảng còn quyết định một số vấn đề về chiến lược lâu dài. Đó là việc 8hong qua
cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và “Chiến lược
ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”. Đại hội đã bầu Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khóa VII) gồm 146 ủy viên, Bộ Chính trị BCHTƯ gồm 13 ủy viên.
Đỗ Mười được bầu làm Tổng bí thư của Đảng.
Bước vào nhiệm ki Đại hội VII của Đảng, vào thập niên cuối cùng của thế kỉ
XX đã có nhiều biến động to lớn, tác động sâu sắc đến tiến trình lịch sử loài người. Bối
cảnh quốc tế và nước ta có những thay đổi lớn, tác động đến quá trình đổi mới của ta,
bắt đầu từ Đại hội VI và tiếp tục sau Đại hội VII của Đảng.
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
8
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
Tình hình quốc tế. Về chính trị, sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch tăng cường việc thực hiện âm mưu
“diễn biến hòa bình”; kích động việc thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng, nhằm xóa
bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, truyền bá tư tưởng văn hóa đồi trụy, độc hại; đưa
lực lượng gián điệp, biệt kích vào nước ta nhằm cấu kết với bọn phản động và các phần
tử xấu trong nước, tăng cường hoạt động nhằm lật đổ chế độ…
Về kinh tế, những thay đổi ở Liên Xô và Đông Âu đã gây ra cho chúng ta
nhiều đảo lộn lớn và đột ngột về thị trường xuất khẩu và nhập khẩu, về nhiều chương
trình hợp tác kinh tế và nhiều hợp đồng về lao động. Trong thời gian ngắn, nước ta phải

Các mục tiêu cụ thể là:
-Tiếp tục kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, giữ vững và phát triển sản xuất, bắt đầu
tích lũy từ nội bộ nền kinh tế.
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
9
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
- Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, giảm mạnh nhịp độ tăng dân số.
Ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Bảo đảm
để tiền lương tối thiểu đáp ứng được nhu cấu thiết yếu của người lao động, ngăn chặn
thu nhập phi pháp và bất công.
- Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới nội dung và phương thức
hoạt động của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, đổi mới tổ chức và cán bộ.
- Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội, bảo vệ thành quả cách
mạng.
Đại hội VII của Đảng cũng đề ra mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm (1991-1995)
là: đầy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định, phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản
xuất xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân và bắt đầu có tích lũy từ
nội bộ nến kinh tế”.
Để thực hiện mục tiêu trên, phải phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế,
đẩy mạnh Ba chương trình kinh tế với những nội dung cao hơn trước và từng bước xây
dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hóá đẩy mạnh nhịp độ ứng dụng tiến
bộ khoa học, kĩ thuật; hình thành về cơ bản và vận hành tương đối 10hong suốt cơ chế
quản lí mới.
2.3. ĐẠI HỘI VIII ( ) :
2.3.1. NHIỆM VỤ :
Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển
mới - đảy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Nhiệm vụ của nhân dân ta là
tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi
mới một cách toàn diiện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội

thoát, lãng phí, tham nhũng. Huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước, đồng thời thu
hút mạnh các nguồn vốn bên ngoài để đưa tỉ lệ đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2000
lên khoảng 30% GDP.
Khai thác thế mạnh của cả nước, của mỗi vùng, mỗi ngành tạo ra sự phát triển
hài hoà giữa các vùng lãnh thổ. Tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các
địa bàn trọng điểm có điều kiện sớm đưa lại hiệu quả cao. Đồng thời dành nguồn vốn
để giải quyết những nhu cầu bức xúc của các vung khác, nhất là phát triển kết cấu hạ
tầng và hỗ trợ vốn tín dụng, tạo điều kiện để các vùng còn kém phát triển, các vùng
nông thôn, miền núi có thể phát triển nhanh hơn, khắc phục dần tình trạng chênh lệch
quá lớn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng.
Đến năm 2000 tỉ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 34 - 35% trong
GDP; nông, lâm , ngư nghiệp chiếm khoảng 19 - 20%; dịch vụ chiếm khoảng 45-46%.
Tăng nhanh khă năng và tiềm lực tài chính của đất nước, lành mạnh hoá nền tài
chính quốc gia. Huy động 20 - 21% GDP vào ngân sách thông qua thuế và phí; kiềm
chế bội chi ngân sách không quá 4,5% GDP; thực hiện cam kết trả nợ. Tiếp tục thực
hiên mục tiêu kiềm chế và kiểm soát lạm phát, loại trừ các nguy cơ tái lạm phát cao, giữ
chỉ số giá tiêu dùng dưới 10%/ năm. Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Phát triển thị trường tiền tệ và thị trường vốn, hình thành từng bước thị trường
chứng khoán. Tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, thu hẹp việc sử dụng
ngoại tệ ở trong nước; ổn định tỉ giá hối đoái phù hợp với sức mua thực tế của đồng
tiền.
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Mở rộng thị trường xuất nhập
khẩu, tăng khả năng xuất khẩu các mặt hàng đã qua chế biến sâu; tăng sức cạnh tranh
của hàng hóa và dịch vụ. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm khoảng 28%
(chưa kể phần xuất khẩu tại chỗ), nâng mức xuất khẩu bình quân đầu người năm 2000
lên 200 USD; phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ thu ngoại tệ. Kim ngạch nhập khẩu
tăng bình quân hàng năm khoảng 24%.
2.4. ĐẠI HỘI IX ( ) :
Đường lối kinh tế của Đảng ta là: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên

Trong 5 năm 2001-2005 phấn đấu đạt nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước
bình quân 7,5%/năm
2.4.1. Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,
trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ
mạnh; có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có
sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngàng càng hiện đại và có một số ngành công nghiệp
nặng then chốt; có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ; giữ vững ổn định kinh
tế - tài chính vĩ mô; bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi
trường Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế; kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước.
Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mọi hoạt động kinh tế được đánh
giá bằng hiệu quả tổng hợp về kinh tế, tài chính, xã hội, môi trường, quốc phòng và an
ninh. Trước mắt, tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh
nghiệp, nhất là doanh nghiệp nàh nước, hiệu quả đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn. Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế
so sánh của đất nước, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và
ngoài nước; nhu cầu đời sống nhân dân và quốc phòng, an ninh. Tạo thêm sức mua của
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
12
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu.
Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Tiếp tục phát triển và đưa nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng việc ứng dụng tiến bộ khoa
học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện
khí hoá; quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị
thu được trên đơn vị diện tích; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá. Đầu tư
nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công

Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng
hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị
trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ.
Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ; phát huy vai trò nòng cốt, định hướng
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
13
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
và điều tiết của kinh tế nhà nước trên thị trường. Đáp ứng nhu cầu đa dạng và nâng cao
sức mua của thị trường trong nước, cả ở thành thị và nông thôn, chú ý thị trường các
vùng có nhiều khó khăn. Mở thêm thị trường mới ở nước ngoài. Xác định thời hạn bảo
hộ hợp lý và có hiệu quả đối với một số sản phẩm cần thiết, tích cực chuẩn bị để mở
rộng hội nhập thị trường quốc tế. Hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.
Mở rộng thị trường lao động trong nước có sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước,
bảo vệ lợi ích của người lao động và của người sử dụng lao động; đẩy mạnh xuất khẩu
lao động có tổ chức và có hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách tạo cơ
hội bình đẳng về việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích
người lao động tự tìm việc làm, nâng cao trình độ, đào tạo lại, học nghề mới.
2.4.4. Mở rộng quan hệ đối ngoại và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế :
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương
hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của
các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển
Nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều
kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia,
đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng
lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực
theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp

Giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềm năng và
nguồn lực, tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa nước
ta ra khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp
Chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, thực hiện các nguyên tắc của thị trường,
hình thành đồng bộ các loại thị trường và hệ thống thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với đặc điểm của nước ta.
Tích cực, chủ động đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối
ngoại gắn với nâng cao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế.
Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát
triển kinh tế tri thức.
Tạo chuyển biến mạnh trong việc xây dựng văn hoá, đạo đức và lối sống; kiềm
chế tốc độ tăng dân số, nâng cao thể chất và sức khoẻ nhân dân; bảo vệ và cải thiện môi
trường.
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết việc làm, khuyến khích làm
giàu hợp pháp, xoá đói, giảm nghèo, phát triển hệ thống an sinh; đẩy lùi các tệ nạn xã
hội.
Phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao hiệu lực
của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo bước chuyển rõ rệt về cải cách hành
chính, ngăn chặn và đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Tăng cường quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị - xã hội, mở rộng quan hệ đối
ngoại, giữ vững môi trường hoà bình và ổn định, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
2.5.3. Định hướng :
Về kinh tế :
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá so sánh gấp hơn 2,1 lần
năm 2000. Trong 5 năm 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng GDP 7,5 - 8%/năm và phấn
đấu đạt trên 8%/năm. GDP bình quân đầu người năm 2010 theo giá hiện hành đạt
khoảng 1.050 - 1.100 USD.

90% chất thải rắn, 100% chất thải y tế được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi
trường.
2.5.4. Định hướng :
- Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn
- Phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất
lượng, sức cạnh tranh và hiện đại hoá
- Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo hướng hiện đại
- Tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ
-Tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối
ngoại:
+ Thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; chủ
động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn và đầy đủ hơn với khu vực và thế giới. Thực
hiện có hiệu quả các cam kết với các nước, các tổ chức quốc tế về thương mại, đầu tư,
dịch vụ và các lĩnh vực khác. Thực hiện các cam kết của Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN và tích cực tham gia quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN. Chuẩn bị
tốt các điều kiện để bảo đảm thực hiện các cam kết khi nước ta gia nhập WTO.
+ Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi
ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế. Tiếp tục cải thiện môi
trường đầu tư, chú trọng cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, tạo lập những
điều kiện thuận lợi hơn nữa để khai thác lợi thế của đất nước và khắc phục những
vướng mắc ảnh hưởng đến việc thu hút các nguồn vốn quốc tế, như vốn ODA, vốn đầu
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
16
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
tư trực tiếp, gián tiếp dưới nhiều hình thức, tín dụng thương mại và các nguồn vốn quốc
tế khác.
+ Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn
vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức
thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng
đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn

2.5.5. Chính sách :
Thực hiện nhất quán các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu
tư, kinh doanh và phát triển mạnh mẽ các loại hình doanh nghiệp
Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của
doanh nghiệp nhà nước
Tiếp tục đổi mới, tạo động lực phát triển có hiệu quả các loại hình kinh tế tập thể
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
17
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
Tiếp tục phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp
của tư nhân
Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài
Phát triển đồng bộ các loại thị trường và tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhận xét chung quá trình đổi mới tư duy về đường lối đổi mới và hội nhập
kinh tế của Đảng ta :
Từ quan niệm về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một
nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần xã hội chủ nghĩa (kinh tế quốc doanh và kinh tế
tập thể) đã đi đến quan niệm về một nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế này, ngoài hai thành phần nói trên, còn có: kinh tế tư
nhân (bao gồm cả cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế ấy đều là bộ phận của nền kinh tế
quốc dân, bình đẳng trước pháp luật, cùng tồn tại và phát triển lâu dài, cùng hợp tác
và cạnh tranh lành mạnh. Thay đổi quan trọng nhất là kinh tế tư nhân chẳng những
không bị kỳ thị, mà còn được thừa nhận là có vai trò quan trọng, là một trong những
động lực của nền kinh tế.
Từ quan niệm cho rằng, để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa,
phải nhanh chóng hoàn thành cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể, tiểu chủ
là những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đi đến quan niệm cho rằng việc
cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhất thiết phải phù hợp với

tự nguyện góp sức, góp vốn và quản lý dân chủ, với quy mô và mức độ tập thể hóa tư
liệu sản xuất khác nhau. Hình thức tổ chức các hợp tác xã trong nông nghiệp và trong
các ngành hoạt động phi nông nghiệp cũng khác nhau. Ngay trong nông nghiệp, giữa
các hợp tác xã nghề trồng trọt, chăn nuôi, nghề cá, nghề muối, nghề rừng cũng khác
nhau. Các hợp tác xã nông nghiệp không quản lý toàn bộ các khâu trong quá trình sản
xuất, kinh doanh mà phát huy vai trò tự chủ của hộ xã viên và thực hiện chức năng chủ
yếu làm dịch vụ, hỗ trợ, hướng dẫn xã viên.
Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với việc xóa
bỏ nhanh các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu, đã là nền tảng của
nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai thành phần kinh tế nhà
nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân, thì phải trải qua một quá trình xây dựng, củng cố và phát triển hai thành phần đó
với những bước đi thích hợp.
Từ quan niệm Nhà nước phải chỉ huy nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung
với những chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến quan niệm phân biệt rõ
chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh; chức năng
quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc Nhà nước, còn chức
năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh nghiệp. Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế
hoạch, phủ nhận vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ,
vừa là đối tượng của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt
quan trọng trên bình diện vĩ mô, còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn
vị kinh tế lựa chọn hình thức hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh.
Quan niệm về hàng hóa và thị trường cũng được mở rộng, bao gồm cả tư liệu sản xuất,
vốn, sức lao động, bất động sản, công nghệ, các dịch vụ như thông tin, tư vấn, tiếp thị,
pháp lý, tài chính, ngân hàng, kiểm soát, bảo hiểm,…
Từ quan niệm chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là
phân phối theo lao động, đã đi đến quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy
phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối
dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và phân phối
thông qua phúc lợi xã hội. Công bằng xã hội không phải thể hiện ở chủ nghĩa bình

Ðại hội IX của Ðảng, đã nói gọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ðại hội IX của Ðảng khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ. Ðại hội X của Ðảng đề
ra nhiệm vụ “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”. Bốn nội dung cơ bản của nhiệm vụ này là:
1 - Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước
ta.
2 - Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước.
3 - Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ
bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh.
4 - Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh.
Hội nghị T.Ư 6 cụ thể hóa hơn nữa Nghị quyết của Ðại hội X, đánh dấu một
bước phát triển mới của Ðảng ta trong đổi mới tư duy và lãnh đạo kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
3. KẾT QUẢ :
Sau 23 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, Việt Nam đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật chất tạo
tiền đề cho giai đoạn phát triển mới công nghiệp hóa ,hiện đại hóa đất nước, sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đó là hai trong số năm thành tựu mà Việt Nam
đạt được qua 20 năm đổi mới (1986 – 2009) .
Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh.
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
20
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần đầu tiên, hầu hết các
chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 được hoàn thành và hoàn
thành vượt mức. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề
cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,

Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
gắn sản xuất với thị trường.
Giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam: 1986-2008

Nguồn: Tổng cục Thống kê. Đơn vị: triệu USD
Tăng trưởng GDP thực tế và Lạm phát 1990-2008 (đơn vị: phần trăm)
GVHD : TS. Nguyễn Mạnh Cường Nhóm Thực Hiện : BCF
22
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
Nguồn: Số liệu thống kê IMF, www.asset.vn
Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là
46,3%, năm 2005 còn 20,9%. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồng trọt và
chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất
và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu.
Giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích ngày một tăng lên. Trong kế hoạch 5 năm
2001 - 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm, giá trị tăng thêm
bằng khoảng 3,89%/năm.
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Năm 1988 là 21,6%, năm
2005 lên 41%. Từ chỗ chưa khai thác dầu mỏ, đến nay, mỗi năm đã khai thác được
khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu. Ngành công nghiệp chế tác chiếm 80% giá trị sản
lượng công nghiệp. Công nghiệp xây dựng phát triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày
càng hiện đại.
Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trong những thị trường
lớn. Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng
15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm.
Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm
2005. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
của sản xuất và đời sống. Ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ
nhanh. Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước phát triển theo
hướng tiến bộ, hiệu quả.

24
Môn : Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam .
Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế
Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập
trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế. Cơ
chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo hướng xoá
bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm của doanh
nghiệp trong kinh doanh.
Số doanh nghiệp Nhà nước qua sắp xếp đổi mới, cổ phần hoá đã giảm từ 12.084
doanh nghiệp năm 1990 xuống còn 2.980 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và 670
công ty cổ phần do Nhà nước chi phối trên 51% vốn điều lệ năm 2005. Qua đổi mới,
doanh nghiệp Nhà nước năm 2005 đóng góp 38,5% GDP và khoảng 50% tổng ngân
sách Nhà nước.
Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh
vực, đặc biệt là tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội. Năm
2005 chiếm 46% GDP. Trong đó, kinh tế hợp tác phát triển ngày càng đa dạng, hoạt
động ngày càng có hiệu quả, năm 2005, kinh tế hợp tác đóng góp khoảng 7% GDP.
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và
tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả
nước.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành
một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng với
thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế.
Năm 2005, khu vực này đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu ngân sách,
trên 17,1% tổng vốn đầu tư xã hội, trên 23% kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu khí);
đạt trên 35% giá trị sản xuất công nghiệp; thu hút hơn nửa triệu lao động trực tiếp và
hàng triệu lao động gián tiếp.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status