Đặc điểm của triết học cổ điển Đức - Pdf 13

Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I. Điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học 2
II. Một số học thuyết triết học !êu biểu 2
1.Immanuen Cantơ (1724 – 1804) 2
1.1. Quan niệm về đối tượng và nhiệm vụ của triết học 3
1.2. Quan niệm về thế giới 3
1.3. Quan niệm về nhận thức 4
1.4. Quan niệm về con người 6
1.5. Quan niệm về chính trị xã hội 7
1.6. Quan niệm về thẩm mỹ 8
2. Giooc Vinhem Phridrich Heghen (1770 - 1831) 8
2.1. Kết cấu của hệ thống triết học Hêghen 9
2.2. Quan niệm về thế giới 9
2.3. Quan điểm về nhận thức 10
2.4. Quan điểm về con người và chính trị xã hội 11
3. Lutvich Phoiobac (1804 - 1872) 12
3.1. Sự phê phán triết học Hêghen 12
3.2. Quan niệm về thế giới 13
3.3. Quan niệm về nhận thức 13
3.4. Quan niệm về con người 14
3.5. Quan niệm về xã hội 14
III. Đặc điểm triết học cổ điển Đức 15
1
Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
I. Điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học
Triết học cổ điển Đức ra đời trong điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt. Nước
Đức vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX vẫn còn là một quốc gia phong
kiến điển hình, với gần 300 cát cứ phong kiến với quân đội và hàng rào thuế
quan riêng trong đó nước Phổ là lớn nhất. Triều đình vua Phổ Phriđrich Vin

như: “Lịch sử tự nhiên đại cương và thuyết bầu trời” (1755), “Phê phán lý tính
thuần túy” (1781), “Phê phán lý tính thực tiễn” (1788), “Phê phán khả năng suy
diễn” (1790).
Triết học của Cantơ phát triển qua hai thời kỳ chính; thời kỳ từ năm 1746
đến 1770, gọi là “thời kỳ tiền phê phán” bộc lộ quan điểm duy vật gắn với khoa
học tự nhiên. Từ năm 1770 trở đi gọi là “thời kỳ phê phán” bộc lộ nhiều quan
điểm triết học khó hiểu. Vì vậy để nắm được nội dung triết học của ông, chúng
ta nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu sau:
1.1. Quan niệm về đối tượng và nhiệm vụ của triết học
Cantơ coi đối tượng của triết học là phải xác định bản chất của con người;
ông cho rằng cho đến nay các khoa học vẫn chưa có được một nền tảng vững
chắc bởi vì khoa học về con người vẫn chưa được chú trọng và phát triển đúng
mức. Do đó, triết học phải hướng vào việc giải quyết những vấn đề cuộc sống và
hoạt động thực tiễn của con người. Triết học cần đem lại cho con người một cơ
sở và nền tảng thế giới quan mới, vạch ra những nguyên tắc cơ bản của cuộc
sống. Để làm được điều đó, triết học phải giải quyết các vấn đề sau:
“Tôi có thể biết được cái gì?
Tôi cần phải làm gì?
Tôi có thể hy vọng cái gì ”
Ba vấn đề trên phản ánh ba khía cạnh cơ bản nhất, trong mối quan hệ giữa
con người với thế giới, đó là: Nhận thức - Thực tiễn. Vấn đề thứ nhất mang tính
thế giới quan và nhận thức luận được nghiên cứu trong triết học lý luận. Vấn đề
thứ hai mang tính thực tiễn được nghiên cứu trong triết học thực tiễn. Vấn đề
thứ ba mang cả tính thực tiễn, cả tính lý luận được nghiên cứu trong thẩm mỹ
học. Vì vậy, triết học của Cantơ chứa đựng đầy tính nhân đạo, đem lại cho con
người một cách nhìn mới về thế giới và chính bản thân mình, đưa con người tới
tự do và hạnh phúc.
1.2. Quan niệm về thế giới
Quan niệm về thế giới của Cantơ được biểu hiện chủ yếu qua tác phẩm:
“Lịch sử tự nhiên đại cương và thuyết bầu trời”, “Phê phán lý tính thuần tuý”.

nền tảng cho quan niệm phát triển biện chứng về tự nhiên.
1.3. Quan niệm về nhận thức
Quan niệm nhận thức của Cantơ được trình bày chủ yếu trong tác phẩm
“phê phán lý tính thuần túy”, nhằm trả lời câu hỏi “Tôi có thể biết được cái gì”.
Theo Cantơ trước khi nhận thức phải xác định rõ đối tượng và nghiên cứu giới
hạn của tri thức con người. Ông khẳng định đối tượng nhận thức là các sự vật
trong thế giới và nó tồn tại khách quan. Nhưng do còn bị ảnh hưởng của quan
niệm siêu hình nên ông chia đối tượng nhận thức thành hai phần: Hiện tượng
(phênomen) và “Vật tự nó” (numen). Ở đây hiện tượng bao gồm hình vẻ bề
4
Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
ngoài, các thuộc tính bề ngoài của đối tượng. Còn “Vật tự nó” bao gồm các mặt
cơ bản, bản chất bên trong và các quy luật vận động nội tại của đối tượng. Hiện
tượng và “Vật tự nó” phân định tuyệt đối không có mối liên hệ.
Về tri thức của loài người ông chia thành hai loại: “Tri thức kinh nghiệm
cảm tính” và “ Tri thức tiên nghiệm” . “Tri thức kinh nghiệm cảm tính” chỉ nắm
bắt được những hiện tượng riêng biệt hỗn độn. “Tri thức tiên nghiệm” có sẵn
trong ý thức của mỗi người có khả năng sắp đặt lại tri thức kinh nghiệm theo
một trình tự liên kết chặt chẽ với nhau thành mối liên hệ có tính tất yếu, phổ
quát. Như vậy, một mặt Cantơ thừa nhận đối tượng nhận thức (các sự vật) tồn tại
khách quan, mặt khác lại cho rằng quy luật của thế giới là sản phẩm của ý thức
con người. Đây là một biểu hiện của quan điểm nhị nguyên luận.
Ông cho rằng mục đích của con người là nhận thức “vật tự nó”, muốn thế
phải trải qua quá trình phát triển lần lượt qua ba giai đoạn sau:
Giai đoạn trực quan cảm tính: Sự vật bên ngoài tác động vào giác quan
của con người một cách đơn lẻ, riêng biệt cho nên con người chỉ thu nhận được
một mớ cảm giác hỗn độn, kết quả đó chưa phản ánh đúng sự vật. Sau đó, nhờ
có hai hình thức tiên nghiệm là không gian và thời gian (là hai hình thức có sẵn
từ trước trong ý thức) mà mớ cảm giác được xếp đặt lại theo một trình tự trở
thành tri giác. Những tri giác này còn mang tính chủ quan và đơn lẻ chưa phổ

trong không gian; phản đề: thế giới không có điểm đầu trong thời gian và không
có giới hạn trong không gian.
- Chỉnh đề: Bất cứ sự vật phức tạp nào cũng đều do vật đơn giản, bộ phận
đơn giản hợp thành; phản đề: Trên thế giới không có cái gì đơn giản cả, mọi cái
đều phức tạp.
- Chỉnh đề: Trên thế giới ngoài tính nhân quả và tính tất nhiên ra, còn có tự
do; phản đề: Trên thế giới không có cái gì tự do cả.
- Chỉnh đề: Trên thế giới có một thực thể tuyệt đối; phản đề: Trên thế giới
không có một thực thể tuyệt đối nào cả.
Trong quá trình giải quyết “Tôi có thể biết được cái gì?” Cantơ vừa bộc lộ
quan điểm nhị nguyên luận, vừa biểu hiện quan điểm của thuyết không thể biết.
Một mặt thừa nhận các sự vật tồn tại khách quan, mặt khác lại khẳng định các
quy luật của thế giới là sản phẩm của tư duy. Một mặt thừa nhận khả năng nhận
thức của con người không ngừng vươn lên, mặt khác lại khẳng định con người
không thể nhận biết được “vật tự nó” tức bản chất, quy luật vận động bên trong
của các sự vật.
1.4. Quan niệm về con người
Khác hẳn với các nhà triết học Anh, Pháp, Cantơ không chỉ bàn đến lĩnh
vực bản thể luận, nhận thức luận mà còn bàn đến con người với tính cách là một
chủ thể hoạt động. Trong tác phẩm “Phê phán lý tính thực tiễn” Cantơ đã đưa ra
quan điểm như sau: Con người là chủ thể hoạt động là nền tảng và là điểm xuất
phát của mọi vấn đề triết học. Con người vừa là chủ thể, đồng thời là kết quả
6
Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
quá trình hoạt động của chính mình. Bản thân lịch sử là phương thức tồn tại của
con người. Mỗi cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình và tự ý thức về
mình. Bên cạnh quan điểm tiến bộ đó, Cantơ cùng bộc lộ hạn chế ở chỗ, đề cao
sự mạnh trí tuệ của con người tới mức cực đoan: sáng tạo ra các quy luật của thế
giới. Thần thánh hóa con người tới mức coi bản thân thế giới tự nhiên phải hoạt
động theo ý chí con người.

Quan niệm về nhà nước: Thừa nhận và phát triển tư tưởng về khế ước xã
hội, Cantơ cho rằng: Nhà nước là sự liên kết của mọi người trong khuôn khổ
pháp luật nhằm giám sát và bảo đảm bình đẳng cho mọi công dân. Nhà nước ra
đời không phải là ngẫu nhiên, mà do mâu thuẫn của xã hội nhằm giải quyết
những đối kháng xã hội, điều hoà sự phát triển của xã hội theo hướng ngày càng
hoàn thiện. Cantơ mong muốn giải quyết mâu thuẫn đó bằng hòa bình, ông
muốn xóa bỏ chiến tranh vì theo ông, chiến tranh phá hoại các chuẩn mực đạo
đức của con người.
Mặc dù quan niệm về chính trị xã hội của Cantơ còn hạn chế ở chỗ chưa
nhận thấy nền tảng kinh tế làm nảy sinh các mặt khác nhau của xã hội, nhưng nó
đã bao hàm nhiều giá trị tư tưởng quý báu. Nó đặt nền móng cho quan điểm duy
vật lịch sử sau này.
1.6. Quan niệm về thẩm mỹ
Để trả lời câu hỏi “Tôi có thể hy vọng cái gì?” Cantơ xây dựng một số quan
niệm về thẩm mỹ. Những quan niệm đó được biểu hiện qua nội dung của tác
phẩm “Phê phán năng lực phán đoán”.
Ông quan niệm: Vươn lên cái đẹp là khát vọng của con người, chỉ có trong
con người mới có lý tưởng của cái đẹp. Con người tự tạo cho mình khả năng
đánh giá và thưởng thức cái đẹp. Cái đẹp là phạm trù trung tâm của thẩm mỹ
học. Nhưng ông lại cho rằng, quan niệm về cái đẹp cũng có mâu thuẫn. Một mặt
cái đẹp mang tính phổ quát tất yếu; mặt khác cái đẹp mang tính cá biệt bởi vì nó
là kết quả thưởng thức của từng cá nhân.
Immanuen Cantơ là một trong những nhà triết học của nước Đức thời kỳ
thế kỷ XVIII-XIX, những quan điểm triết học của ông cả thời kỳ “tiền phê
phán” và “thời kỳ phê phán”” đã đặt nền móng cho quan niệm biện chứng tự
nhiên, lịch sử; đồng thời đặt ra nhiều vấn đề sâu sắc cho sự phát triển của triết
học phương Tây hiện đại.
2. Giooc Vinhem Phridrich Heghen (1770 - 1831)
Heghen sinh năm 1770 ở Stuttgart là con một công chức cao cấp. Hồi còn
trẻ theo học trường đại học Tubingue. Sau khi tốt nghiệp ông làm giáo sư dạy tư

giới tự nhiên phát triển từ vô cơ đến hữu cơ rồi đến con người. Vì trong con
người chứa đựng các mặt đối lập cho nên, luôn nằm trong quá trình hoàn thiện,
nhưng không phải là hoàn thiện mặt thể xác mà hoàn thiện, phát triển về mặt
tinh thần ý thức. Khi phát triển đến mức độ hoàn thiện nhất con người không
những nhận thức được thế giới tự nhiên, tự nhận thức được mình mà nhận thức
được tinh thần tuyệt đối biểu hiện qua hình thức tôn giáo, nghệ thuật, triết học.
Ở đây điểm khởi đầu là “tinh thần” điểm kết thúc của sự phát triển cũng là
“tinh thần”, chỉ có khác lúc đầu là “tinh thần thế giới”, còn điểm kết thúc là
“tinh thần tuyệt đối” tồn tại ở mỗi cá nhân con người. Do đó, triết học của
Hêghen xét theo hệ thống là triết học duy tâm khách quan. Bởi vì, ông thừa nhận
9
Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
tinh thần có trước, giới tự nhiên (vật chất) có sau phụ thuộc và phát sinh từ tinh
thần tuyệt đối.
Hêghen còn cho rằng, khi các dạng tồn tại được “tinh thần tuyệt đối” tạo ra
thì không ngừng biến đổi theo các nguyên lý:
- Một là: mỗi dạng tồn tại không những khác nhau mà còn làm “trung giới
cho nhau” tức có liên hệ với nhau.
- Hai là: Mỗi dạng tồn tại đều trải qua quá trình vận động, phát triển; quá
trình đó được thực hiện trên cơ sở của ba nguyên tắc:
Nguyên tắc thứ nhất: Chất và lượng quy định lẫn nhau. Những chuyển
hóa về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và người lại.
Nguyên tắc thứ hai: Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập với tư
cách là nguồn gốc và động lực của sự phát triển tạo ra sự chuyển hóa giữa nội
dung với hình thức, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, khả năng
và hình thức, v.v.
Nguyên tắc thứ ba: Phủ định của phủ định với tính cách là sự phát triển
diễn theo hình thức xoáy ốc.
Những nguyên lý và nguyên tắc trên là nội dung chủ yếu của phép biện
chứng mà Hêghen xây dựng. Phép biện chứng này tuy có hạn chế ở chỗ trình

Khi bàn đến vấn đề con người, ông không giống như các nhà triết học Anh
và Pháp thế kỷ XVI - XVIII chia tách con người thành hai phần mà ông quan
niệm con người là chỉnh thể thống nhất. Con người là chủ thể đồng thời là kết
quả của quá trình hoạt động của chính mình, chính qua quá trình hoạt động mà ý
thức pháp quyền, ý thức đạo đức và ý chí tự do của con người mới phát triển. Do
đó, con người mới hoàn thiện. Như vậy, ở đây Hêghen không bàn đến con người
cụ thể mà bàn đến con người trìu tượng, lý tính phi lịch sử.
Quan niệm con người trong triết học Hêghen thường gắn với quan điểm về
nhà nước và pháp quyền. Theo ông “luận điểm khẳng định mọi người về bản
tính vốn bình đẳng là không đúng , cần phải nói ngược lại rằng con người về
bản tính vốn bất bình đẳng”. Từ đây dẫn tới quan điểm: mọi sự bất công trong
xã hội là hiện tượng tất yếu xuất phát từ bản tính con người. Vì thế trong xã hội
thường xuyên xảy ra những mẫu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp, đẳng cấp xã
hội khác nhau. Chính từ đó nhà nước xuất hiện. Theo Hêghen, nhà nước ra đời
nhằm dung hòa các mẫu thuẫn giữa các đẳng cấp nhằm định hướng sự phát triển
của xã hội. Nhà nước không chỉ là cơ quan hành pháp mà là tổng thể các quy
chế, kỷ cương, chuẩn mực về mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền, văn hóa. Vì thế
nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử.
Nhà nước theo ông là hiện thân của ý niệm tuyệt đối trong đời sống xã hội
nó có quá trình phát triển. Nhà nước Phổ là đỉnh cao của sự phát triển đó, vì nó
là đại biểu cho công lý, đạo đức; nhà nước đó sẽ tồn tại mãi. Bởi vì, “Cái gì hợp
11
Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
lý, thì sẽ hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”; ở đây, Hêghen đã lập luận để
bảo vệ sự tồn tại của nhà nước phong kiến Phổ.
Khi bàn đến chiến tranh, Hêghen cho rằng, chiến tranh là một hiện tượng
vĩnh viễn và tất yếu trong lịch sử, nhờ có chiến tranh mà thể trạng đạo đức của
dân tộc được bảo tồn; chiến tranh bảo vệ các dân tộc tránh khỏi sự thối nát.
Hêghen cho rằng, lịch sử là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ
quan trong hoạt động của con người. Nhưng lịch sử không diễn ra theo ý muốn

giải quyết mối quan hệ giữa vật chất với tinh thần, giữa con người với thế giới.
Hạn chế cơ bản nhất của Hêghen là ở chỗ dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy
tâm để xây dựng học thuyết triết học. Cho nên triết học Hêghen không tạo ra
được bức tranh trung thực về thế giới. Ông cho rằng muốn xây dựng được một
học thuyết triết học đúng đắn phải dựa trên lập trường duy vật. Ông nhận xét
"Triết học Hêghen là chỗ ẩn náu cuối cùng, chỗ dựa hợp lý của thần học".
3.2. Quan niệm về thế giới
Xuất phát từ luận điểm: "Quan hệ thực sự của tư duy với tồn tại là: tồn tại,
chủ thể; tư duy, thuộc tính" Phoiơbắc bảo vệ và chứng minh những nguyên lý
duy vật của mình. Ông quan niệm, vật chất có trước, ý thức có sau, tự nhiên tự
nó tồn tại và người ta chỉ có thể giải thích tự nhiên xuất phát từ bản thân nó. Ý
thức không tự nó tồn tại được vì nó chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất.
Nếu như Cantơ quan niệm không gian và thời gian là hình thức "tiên nhiên"
thì Phoiơbắc quan niệm, không gian và thời gian tồn tại khách quan, không có
vật chất tồn tại vận động bên ngoài không gian và thời gian. Ông thừa nhận sự
tồn tại khách quan của các quy luật tự nhiên, của quan hệ nhân quả; thừa nhận
sự vận động và phát triển của giới tự nhiên diễn ra một cách khách quan, từ đó
dẫn tới sự xuất hiện của đời sống hữu cơ, con người.
Ở đây, Phoiơbắc chưa khắc phục được hạn chế của duy vật siêu hình, coi
vật chất như là một cái gì thuần nhất. Tuy thừa nhận vật chất vận động nhưng
chưa lý giải được nguồn gốc, động lực, hình thức của vận động.
3.3. Quan niệm về nhận thức
Phoiơbắc phê phán hệ thống duy tâm khách quan của Hêghen ở chỗ, coi
đối tượng tư duy không có gì khác với bản chất của tư duy. Từ đó ông khẳng
định, đối tượng nhận thức nói chung và của triết học nói riêng là giới tự nhiên
và con người. Ông kêu gọi: Hãy quan sát giới tự nhiên đi, hãy quan sát con
người đi! Bạn sẽ thấy ở đấy, trước mắt bạn, những bí mật của triết học. Phoi Ơ
Bắc cho rằng, chủ thể nhận thức không phải trìu tượng mà là con người cụ thể,
con người có khả năng nhận thức được giới tự nhiên, một người thì không thể
nhận thức được hoàn toàn thế giới tự nhiên, nhưng toàn bộ loài người thông qua

với các nhà trước học trước ông. Tuy nhiên ông đã không thấy được phương
diện xã hội của con người. Con người mà ông quan niệm là con người bị tách
khỏi điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử. Do vậy về lĩnh vực này ông chưa
thoát khỏi ảnh hưởng của quan điểm duy tâm.
3.5. Quan niệm về xã hội
Trong quan niệm về tự nhiên, Phoiơbắc là nhà duy vật; còn trong quan
niệm về xã hội ông lại thể hiện quan điểm duy tâm. Ông khẳng định những thời
kỳ lịch sử loài người sở dĩ khác nhau chỉ do những thay đổi các hình thức tôn
giáo; thay thế tôn giáo cũ bằng tôn giáo mới sẽ làm cho xã hội tiến lên. Ở đây,
14
Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
Phoiơbắc chưa thấy được vai trò của thực tiễn xã hội quyết định sự vận động
phát triển của xã hội loài người.
Khi bàn đến tôn giáo, Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo là sản phẩm tất yếu của
tâm lý cá nhân và của sự tưởng tượng của con người. Tôn giáo thể hiện sự mềm
yếu, bất lực của con người trước sức mạnh tự nhiên và điều kiện của xã hội.
Chính con người đã bày đặt ra thần thánh bằng cách trìu tượng hóa bản chất con
người. Do vậy, cần thay thế tôn giáo cũ bằng thứ tôn giáo mới không cần có
thần thánh, chúa trời mà lấy tình yêu giữa người với người làm nền tảng.
Những quan điểm trên đây của Phoiơbắc về cơ bản vạch ra được nguồn gốc
tâm lý con người đối với tôn giáo. Tuy nhiên, ông chưa chỉ rõ nguồn gốc thực sự
của tôn giáo, chưa đề cập đến những cơ sở kinh tế - xã hội của vấn đề.
Mặc dù còn những hạn chế siêu hình trong quan điểm về tự nhiên duy tâm
trong quan điểm về xã hội, chưa có quan điểm duy vật triệt để về con người
nhưng Phoiơbắc đã có công lao trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy
vật chống lại quan điểm duy tâm và tôn giáo; vì thế, quan điểm duy vật của
Phoiơbắc cùng với tư tưởng biện chứng của Cantơ và phép biện chứng của
Hêghen trở thành tiền đề lý luận hình thành triết học Mác - Lênin.
III. Đặc điểm triết học cổ điển Đức
- Triết học cổ điển Đức nói chung mang tính chất duy tâm thần bí trừ triết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status