ĐÁNG GIÁ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỀN MÓNG CÔNG TRÌNH - Pdf 13

IX-1

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỀN MÓNG CÔNG TRÌNH

I. HIỆN TRẠNG CÁC VẤN ĐỀ NỀN VÀ MÓNG CÔNG TRÌNH

• Nền và móng các công trình xây dựng, cho đén nay vẫn được xem là hai
bộ phận của một công trình xây dựng khó nắm bắt nhất với vô số các vấn đề lý
thuyết chưa được giải quyết hoàn chỉnh và cũng vô vàn các vấn đề áp dụng thực
tế được tranh cãi chưa có hồi kết thúc. Một cách tổng quát, những vấn đề liên
quan đến nền và móng bao gồm:
-Nền tự nhiên;
-Nền cải tạo;
-Móng nông;
-Móng sâu và
-Hố móng đào sâu.
Móng là một đơn vị kết cấu có chức năng truyền tải trọng của công trình xây
dựng xuống nền đất và nền là môi trường (hoặc là tự nhiên hoặc là đã được cải
tạo phù hợp) có chức năng tiếp nhận tải trọng công trình thông qua móng. Nền
và móng là một hệ thống nhất, tương tác với nhau. Vấn đề là ở chỗ, các tương
tác này phải là hợp lý để công trình xây dựng được khai thác an toàn, lâu dài,
đúng như dự liệu.
• Trong 10-15 năm gần đây, các người làm công tác nền móng đã đối mặt
với những vấn đề mang tính bước ngoặt về công nghệ nền và móng. Đó là:
-Công nghệ nền và móng cho nhà cao tầng. Nhà cao tầng cho thấy cần
thiết sử dụng hợp lý về kinh tế và kỹ thuật các loại móng khác nhau, đặc biệt ưu
thế cho các loại móng sâu.
-Vấn đề san lấp tạo mặt bằng với quy mô lớn (về diện tích và chiều cao
đắp), đặc biệt vấn đề san lấp trên nền đất yếu và đào các hố móng sâu trong điều
kiện địa chất phức tạp và trong vùng đông dân cư. Vấn đề này yêu cầu giải các
bài toán liên quan đến trạng thái ứng suất-biến dạng phức tạp của đất nền (kể cả

kiểm tra.
-Kém hiểu biết về bản chất các tính chất của đất và các phương pháp xác
định chúng nên các thông số đầu vào được cung cấp không phù hợp với mô hình
tính.

II. MỘT SỐ CÁC GIẢI PHÁP NỀN MÓNG TIÊN TIẾN

Trong phần này chỉ trình bày một số các giải pháp nền móng hiện đang
được sử dụng phổ biến trong thực tế xây dựng ở nước ta và cũng là đề tài được
tranh luận nhiều về hiệu năng sử dụng của chúng.

2.1 Các giải pháp gia cố nền

Gia cố nền đất yếu là các biện pháp kỹ thuật nhằm thay đổi hoặc thành
phần hoặc tính chất của đất theo hướng có thể đáp ứng được với các yêu cầu sử
dụng chúng như là nền, môi trường và vật liệu xây dựng các loại công trình khác
nhau.
Như vậy, mục đích của gia cố nền đất yếu là tạo dựng một điều kiện ,
trong đó các tính chất địa kỹ thuật của nền đất yếu trở nên thích hợp với các giải
pháp móng đơn giản, tránh được sự sử dụng các loại móng cọc tốn kém. Thông
thường các kỹ thuật gia cố thường được sử dụng để làm giảm hoặc loại trừ về cơ
bản quá trình lún lâu dài theo thời gian và trong một mức độ nào đó làm tăng độ
bền của đất nền. Ngoài ra, gia cố nến đất còn sử dụng để làm giảm các nguy cơ
gây hư hỏng các công trình xây dựng hiện hữu lân cận công trình dự định xây
mới trong quá trình thi công và khai thác chúng.
Các phương pháp và công nghệ đi kèm với chúng để gia cố nền đất yếu là
đặc biệt đa dạng và phong phú với nhiều cơ chế hoạt động khác nhau và chỉ hiệu
quả trong một phạm vi xác định. Tuỳ theo điều kiện đất nền và yêu cầu kỹ thuật
của công trình dự định xây dựng, người thiết kế cần lựa chọn các giải pháp gia
cố thích hợp và phải theo dõi quan trắc thường xuyên các ứng xử của nền đất đã

• Hiệu quả của quá trình gia cố đất phụ thuộc nhiều vào sự lựa chọn thành
phần và hàm lượng của hỗn hợp đất-ximăng (vôi). Đất loại sét được gia cố bằng
ximăng cho kết quả khả quan khi hàm lượng hạt sét nhỏ hơn 20%. Các đất hạt
rời cho kết quả tốt hơn. Các đất chứa vật liệu hữu cơ cho kết quả gia cố kém
nhất. Hàm lượng ximăng thích hợp trong khoảng 6-8 đến 10-12% trọng lượng
đất khô. Về nguyên tắc, hàm lượng ximăng phải được chọn lựa sao cho độ bền
của bản thân vật liệu cọc không quá lớn so với đất nền để có thể sử dụng đợc mô
hình nền đồng nhất tương đương.
• Cọc đất ximăng (vôi) thường được sử dụng cho các mục đích sau:
-Tường vây cho các hố đào sâu. Cọc đất-ximăng ở đây có tác dụng làm ổn
định thành hố đào và trong một số trường hợp chống thấm nước chảy vào hố
móng. Trong trường hợp này, cọc thường được bố trí thành hàng quanh hố đào.
Số lượng hàng tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng và hiệu quả gia cường. Các cọc
thường được thi công can nhiễu với nhau để tăng hiệu quả chống thấm và khả
năng giữ thành.
-Gia cố nền đất yếu cho móng các công trình dân dụng, công nghiệp,
đường đắp Mục đích làm tăng sức mang tải và giảm độ lún của nền đất dưới
móng.
-Gia cố đất trong các sườn dốc để tăng độ ổn định, chống trượt cho các
mái dốc. Mục đích là tăng sức kháng cắt của đất trong thể đất mái dốc. Cọc đất -
IX-4
ximăng (vôi) th-Gia cố đất trong các sườn dốc để tăng độ ổn định, chống trượt
cho các mái dốc. Mục đích là tăng sức kháng cắt của đất trong thể đất mái dốc.
Cọc đất -ximăng (vôi) thường có đường kính 40-80 cm với chiều dài tuỳ
theo mục đích gia cố và vào khả năng thiết bị. Chiều dài cọc lớn nhất hiện nay là
20-40 m.
• Nguyên tắc tính toán thiết kế
- Sức mang tải của cọc đất-ximăng
Về nguyên lý, sức mang tải của cọc đất-ximăng cung được xác định như
các cọc thông thường, phụ thuộc vào độ bền của vật liệu cọc và đất xung quanh.

tổng như bình thường thấy trong cơ học đất.
Tính chất cơ học của nền tương đương được xác định bằng các thí nghiệm
hiện trường, thường được xác định bằng thí nghiệm bằng nén phẳng tại hiện
trường.
•Công nghệ thi công cọc đất-xi măng
Cọc đất-xi măng được thi công chế tạo bằng một thiết bị chuyên dụng.
Ximăng bơm và trộn vào đất có thể dưới dạng bột khô (phương pháp khô) hoặc
dưới dạng vữa có tỷ lệ nước/xi măng khác nhau (phương pháp ướt).
IX-5
•Công nghệ kiểm tra chất lượng cọc đất-ximăng
Công nghệ kiểm tra chất lượng cọc đất-ximăng gồm hai phần : kiểm tra
chất lượng của bản thân vật liệu cọc và chất lượng của hệ đất-cọc.
- Công nghệ kiểm tra chất lượng của bản thân vật liệu cọc . Đánh giá chất
lượng vật liệu cọc bằng một dụng cụ xuyên cánh chuyên dụng (hình)
- Công nghệ đánh giá chất lượng của hệ đất-cọc : bằng phương pháp nén
bàn nén phẳng hiện trường.

Gia cố nền đất yếu bằng vật thoát nước thẳng đứng

• Bản chất của phương pháp xử lý nền đất yếu bằng vật thoát nước thẳng
đứng chính là làm tăng nhanh quá trình cố kết thấm của đất dưới tải trọng bằng
cách làm giảm chiều dài đường thấm của nước lỗ rỗng trong đất .
Hiệu quả của phương pháp xử lý nền đất yếu bằng vật thoát nước thẳng
đứng được quyết định bởi các yếu tố sau:
-Điều kiện địa kỹ thuật. Hiệu quả cao khi đất nền có cấu tạo phân lớp xen
kẽ với sự có mặt của lớp, thấu kính tính thấm cao.
-Công nghệ thi công. Tránh công nghệ gây phá hoại kết cấu của đất quanh
vật thoát nước khi thi công.
-Tính kinh tế. So sánh kinh tế giữa các vật thoát nước thẳng đứng tự nhiên
hoặc nhân tạo khác nhau và công nghệ đi kèm để chọn lựa.

mạnh mẽ trên toàn thế giới.Phương pháp xử lý nền đất yếu bằng vật thoát nước
thẳng đứng bắt đầu ứng dụng ở Việt nam từ những năm 80 chủ yếu cho các đoạn
đường đắp, đường dẫn lên cầu và san nền tạo mặt bằng cho các công trình dân
dụng và công nghiệp. Bên cạnh những thành công , nhiều vấn đè về hiệu quả
của phương pháp này khi sử dụng ở nước ta còn nhiều tranh luận. Các tính toán
dự báo độ lún và thời gian ổn định lún, tăng nhanh quá trình cố kết còn chưa sát
với thực tế trong một số công trình. Một số sự cố công trình nghiệm trọng đã
xảy ra liên quan đến sử dụng phương pháp này (Thị Vải, Văn Thánh, Một số
đoạn trên quốc lộ 5 và 1, )
• Nguyên tắc tính toán thiết kế
Tính toán thiết kế chính là xác định khoảng cách bố trí các vật thoát nước
thẳng đứng thoả mãn thời gian và độ cố kết của nền đất xử lý. Thiết kế cũng cần
phải chỉ ra giá trị lún theo thời gian của nền đất gia cố.
Các tính toán cần dựa trên một số giả thiết như sau:
-Đất nền là đồng nhất;
-Các thông số đất nền là giữ không thay đổi theo chiều sâu, nước lỗ rỗng
không chịu nén;
-Quy luật thấm tuân theo Darcy, ngoại trừ giả thiết của Hansbo (1960)
theo hàm mũ V=ki
n
với n=1.5 và Abeliev (1973) về gradien thấm ban đầu V=
k(i-i
0
);
-Nước thấm trong vật thoát nước là tự do và không gây tổn thất áp lực;
-Thi công không gây các phá hoại kết cấu của đất lân cận vật thoát nước;
-Gia tải thực hiện tức thời.
• Giả thiết rằng, mỗi một vật thoát nước có đường kính d sẽ phát huy tác
dụng thoát nước trong phạm vi hình trụ tròn xoay quanh chúng với đường kính
D

g
n
là tỷ trọng của nước;
D là đường kính vùng thoát nước như đã nói trên;
IX-7
P là áp lực nước lỗ rỗng lấy bằng tải trọng gây cố kết;
U
h
là mức độ cố kết yêu cầu thường là 90-95%
· Các bước tính toán như sau:
-Lựa chọn loại vật thoát nước thẳng đứng;
-Lựa chọn cách bố trí và khoảng cách giữa các vật thoát nước;
-Xác định các thông số D, a, l;
-Lựa chọn mức độ cố kết cần thiết;
-Tính toán thời gian cố kết t.
Quá trình trên lặp lại với các khoảng cách khác nhau giữa các vật thoát nước cho
tới khi đạt được thời gian cố kết thích hợp.
· Tính toán lún theo thời gian
-Tính độ lún cuối cùng theo các phương pháp tính thông thường với tải
trọng thiết kế và tính chất cơ lý của đất khi chưa xử lý;
-Tính toán thời gian cố kết ứng với các mức độ cố kết khác nhau U
h
;
- Vẽ đồ thị lún theo thời gian.
• Quy trình thi công xử lý nền đất yếu bằng vật thoát nước thẳng đứng
Các bước tiến hành lần lượt như sau:
-Chuẩn bị mặt bằng khu vực cần xử lý;
-Thi công lớp đệm cát trên đầu vật thóat nước với mục đích đảm bảo vận
hành tốt các thiết bị thi công căm vật thoát nước;
-Định vị các vật thoát nước trên mặt bằng;

vào sử dụng cọc tròn rỗng BTCT ứng suất trước (đường kính ngoài tới 70 cm).
Về phương thức hạ cọc có cọc ép, cọc đóng, cọc khoan và cọc nhồi.
Cọc nhồi đã được sử dụng rất đại trà, chiều dài thường 40-50m tuỳ theo
địa tầng (dài nhất tới 120 m), đường kính quy đổi từ 80-200 cm. Thực tế sử
dụng cọc nhồi ở nước ta đã đạt đến công nghệ tiền tiến nhất. Cọc nhồi có các
loại sau:
-Cọc khoan nhồi: là cọc nhồi mà lỗ cọc được thi công bằng các phương
pháp khoan khác nhau như khoan gầu, khoan rửa ngược, ;
-Cọc khoan nhồi mở rộng đáy : là cọc khoan nhồi có đường kính đáy cọc
được mở rộng lớn hơn đường kính thân cọc. Sức mang tải của cọc này sẽ tăng
hơn chừng 5-10% do tăng sức mang tải đằng mũi.
-Cọc barret: là cọc nhồi nhưng có tiết diện không tròn với các hình dạng
khác nhau như chữ nhật, chữ thập, chữ I, chữ H, và được tạo lỗ bằng gầu
ngoặm. Sức mang tải của cọc này có thể tăng lên tới 30% do tăng sức mang tải
bên.
-Cọc khoan nhồi có xói rửa và bơm vữa xi măng gia cường đáy
(CNRBĐ): là cọc khoan nhồi có áp dụng công nghệ rửa sạch đáy (bằng cách xói
nước áp lực cao) và bơm vữa xi măng gia cường đáy (cũng với áp lực cao). Đây
là bước phát triển gần đây nhất trong công nghệ thi công cọc nhồi nhằm làm
tăng đột biến sức mang tải của cọc nhồi (có thể tới 200-300%), cho phép sử
dụng tối đa độ bền của vật liệu bê tông cọc.
Tại Việt Nam, cọc khoan nhồi mở rộng đáy chưa được áp dụng do thiếu
các thiét bị chuyên dùng, cọc barret đã được sử dụng từ cuối những năm 90 và
có xu hướng áp dụng nhiều từ đầu những năm 2000, cọc nhồi có xói rửa và bơm
vữa xi măng gia cường đáy vừa được đưa vào sử dụng cho công trình đầu tiên
vào năm 2004
• Móng cọc, theo các đánh giá khách quan nhất, hiện đang được sử dụng
chưa đạt hiệu quả kinh tế cao và chi phí cho phần móng chiếm đáng kể trong
tổng mức thi công xây lắp (trong khoảng 30-60%). Những vấn đề sau đây cần
được nghiên cứu để có thể tận dụng ưu thế của móng cọc:

làm việc của thiết bị và tiện nghi sinh hoạt. Có trường hợp, SCNM xảy ra không
có các hư hỏng kết cấu mà chỉ thấy các biểu hiện về mất các tiện nghi sinh hoạt
(các dụng cụ trong nhà cập kênh, xô lăn về một phía, ) Do các biểu hiện của
SCNM phức tạp và gián tiếp, nên để phát hiện nguyên nhân đích thực và chọn
được phương án xử lý đúng đắn, cần có các khảo sát và phân tích tỷ mỷ không
chỉ bản thân công trình sự cố, môi trường địa chất được sử dụng làm móng (môi
trường) cho công trình mà còn các công trình và môi trường lân cận.
• Về thời điểm phát hiện sự cố, SCNM thường phát hiện trong thời gian
vận hành khai thác, đặc biệt ngay sau khi đưa công trình vào hoạt động. SCNM
hiếm khi phát hiện ngay trong quá trình thi công. Tại thời điểm phát hiện sự cố,
SCNM có thể đang diễn biến với tốc độ hoặc tăng lên hoặc giảm đi, nhưng cũng
có thể đã dừng không phát triển thêm. Do vậy, cần thiết các đánh giá khách
quan, bản chất để lựa chọn đúng đắn các giải pháp cứu chữa.
• Về đặc điểm diễn biến, SCNM thường tiến triển chậm chạp kéo dài theo
thời gian cho đến khi công trình mất khả năng sử dụng. Chính do đặc điểm này,
SCNM thường được phát hiện muộn mằn, phát sinh tâm lý coi thường và
phương án cứu chữa nửa vời, kéo dài, không dứt điểm. Tuy nhiên, trong trường
hợp phá hoại về độ bền, SCNM cũng có thể xẩy ra đột ngột, đổ sụp tức thì như
sự mất ổn định các bờ dốc của khối đắp san nền, đường giao thông, các kè bờ,
• Về hậu quả của sự cố, SCNM thường chỉ làm giảm và dẫn tới mất khả
năng khai thác sử dụng công trình như đòi hỏi của thiết kế ban đầu. SCNM hiếm
khi gây ra các thiệt hại về người và thực sự nguy hiểm khi mất ổn định về độ
bền, đặc biệt khi kèm theo các tai biến tự nhiên khác như bão, động đất,
IX-10
• Về các giải pháp cứu chữa SCNM đối với các công trình dân dụng và
công nghiệp, triệt để và khả thi nhất là thực thi các giải pháp kỹ thuật để các quá
trình địa kỹ thuật (lún, lún không đều, ) gây SCCT hết tác dụng và hiện trạng
khai thác sử dụng công trình giữ nguyên như khi bắt đầu cứu chữa. Các giải
pháp gia cường kết cấu nhằm tránh nguy cơ phá hỏng công trình do các tác nhân
địa kỹ thuật cũng được áp dụng nhưng ít tin cậy và không triệt để. Các giải pháp

- Hoạt động thi công: hoạt động đưa thiết kế thành hiện thực. Hoạt động
thi công hợp lý đưa chính xác thiết kế ra thực tế.
- Hoạt động khai thác, sử dụng công trình. Tác động hợp lý ở đây là
không làm thay đổi về chất và lượng các tương tác trong HĐKTXD, đảm bảo
trạng thái của Hệ là cân bằng.
Mọi hoạt động kỹ thuật không hợp lý đều có thể dẫn tới SCCT và
SCNM.
• Nguyên nhân thuộc về công tác khảo sát địa kỹ thuật
IX-11
Các sai sót trong hoạt động khảo sát xây địa kỹ thuật thường biểu hiện ở
các khía cạnh sau:
- Không phát hiện được hoặc phát hiện không đầy đủ quy luật phân bố
không gian (theo diện và theo chiều sâu) các phân vị địa tầng, đặc biệt các đất
yếu hoặc các đới yếu trong khu vực xây dựng và khu vực liên quan khác;
- Đánh giá không chính xác các đặc trưng tính chất xây dựng của các phân
vị địa tầng có mặt trong khu vực xây dựng;
- Không phát hiện được sự phát sinh và chiều hướng phát triển của các
quá trình địa kỹ thuật có thể dẫn tới sự mất ổn định của công trình xây dựng.
Các ví dụ sau đây cho thấy chính các sai sót trong khảo sát địa kỹ thuật là
nguyên nhân trực tiếp dẫn tới các SCCT.
Trạm tiếp nhận thạch cao-Nhà máy xi măng Ninh Bình
Trạm tiếp nhận thạch cao nhà máy xi măng Tam Điệp-Ninh Bình là nơi
tiếp nhận và trung chuyển thạch cao, kích thước mặt bằng chỉ 9.8 x 21.7 m.
Theo thiết kế, móng của trạm đặt sâu với cao độ 45,1 và 40.3 m (cao độ mặt đất
tự nhiên là 51.4 m) trực tiếp trên bề mặt đá vôi. Phương án thi công dự kiến là
đào đến bề mặt đá với độ sâu đào chừng 10.0-11.0 m kể từ bề mặt đất tự nhiên,
đổ bê tông lót và thi công móng.
Tuy nhiên, khi đào tới cao độ 45,0 m và sau đó tới 40.0 m, đá gốc vẫn
chưa bắt gặp và nước chảy ngập hố đào với lưu lượng lớn, mực nước tĩnh nằm
tại cao độ 45.0 m gây chuyển vị thành, lún bề mặt đất quanh hố đào dẫn tới hư

quả khảo sát địa kỹ thuật không đúng với thực tế. Trong trường hợp này, các
đơn vị thi công và tư vấn giám sát đều không kịp thời phát hiện biến động của
điều kiện địa chất tại khu vực lên quan để xử lý kịp thời.
• Nguyên nhân thuộc về khâu thiết kế
Các sai sót trong thiết kế dẫn tới các SCNM thường là:
- Mô hình hoá không chính xác hoặc không đầy đủ các loại hình tương tác
giữa công trình và đất nền;
- Dự báo không chính xác quy mô và độ lớn các tương tác trong mô hình
tính toán và không thiết kế các quan trắc địa kỹ thuật kiểm tra.
Sau đây là một vài ví dụ điển hình.
Trạm nghiền thô nhà máy xi măng Nghi Sơn
Cụm công trình này bao gồm nhà nghiền thô, nhà tiếp nhận silica và các
tường chắn có chức năng tiếp nhận và sơ chế nguyên vật liệu phục vụ sản xuất
xi măng. Kích thước mặt bằng 11.5-13.5 m và 17-5-19.5 m, chiều cao 25 m, kết
cấu hệ khung và tường bê tông cốt thép. Móng bè trên cọc 30 x 30 và 40 x 40
cm với cốt cao bề mặt móng là +6.3 m . Một đường dẫn phía sau nhà được đắp
đểphục vụ vận chuyển cấp nguyên vật liệu vào trạm với cốt cao của khối đắp là
+24.3 m.
Về điều kiện đất nền, dưới lớp đất đắp tạo mặt bằng công trình dày chừng
4.3 m (N
30
=30-38) là lớp bùn đất yếu dày 1.8 m (N
30
=3-4). Sau đó là các lớp đất
loại sét trạng thái cứng (N
30
=13-40) và cát chặt (N
30
=44-53). Đá gốc là đá vôi
nằm ở độ sâu chừng 19-20 m.

Sau thời gian sử dụng, công trình phát hiện bị lún không đều. Độ nghiêng
theo phương ngang của lô IV và VI (2 lô là đối tượng điều tra đợt đầu) tương
ứng là 412-572 và 227-496 mm, góc nghiêng xấp xỉ 1
0
-2
0
và độ lêch tương đối
theo chiều ngang nhà, giữa các dải móng tương ứng là 0.0282-0.039 và 0.015-
0.0339. Tất cả các giá trị trên đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới SCNM này là phương án móng không phù
hợp với điều kiện đất nền của khu vực dẫn tới nhà bị lún nghiêng ra phía sau và
lún với biên độ lớn vượt quá các quy định cho phép và làm mất tiện nghi sử
dụng cho sinh hoạt.
Thiết kế đã không nhận thức đúng quy mô tương tác giữa nhà và môi
trường địa chất (lún nền đất và kéo theo lún nhà ).
Kho cảng Thị Vải
Kho cảng Thị Vải có chức năng tàng trữ và xuất khí hoá lỏng, nằm ở ven
sông Thị Vải được san lấp với bề dày trung bình 3.5 m để tạo mặt bằng xây
dựng. Theo kết quả khảo sát, khu vực có mặt lớp bùn sét yếu phân bố ngay từ
trên mặt và trải sâu tới độ sâu trong khoảng 8-23 m m và dưới nó là các lớp đất
rời và dính có độ bền và tính biến dạng trung bình. Các giải pháp móng và xử lý
nền áp dụng ở đây là:
- Móng cọc cho các kết cấu có tải trọng lớn và các khung nhà;
- Các móng nông đặt trực tiếp trên nền cát san lấp cho các đường ống, cáp
điện, sàn nhà và nền các khoang chống tràn của bồn chứa.
- Xử lý nền bằng bấc thấm kết hợp với gia tải trước cho một số khu vực,
chủ yếu là đường giao thông.
Hiện tượng lún của công trình đặt trên móng nông đã được phát hiện ngay
trong quá trình lắp đặt thiết bị. Độ lún của đất nền phát triển với tốc độ khá cao
dẫn tới đường ống bị lún và lún lệch gây nguy cơ rò rỉ khí do đường ống bị nứt

không đều khiến dây chuyền không thể hoạt động được. Đo đạc cẩn thận thấy
móng máy theo dây chuyền lún nhiều hơn móng trên cột khung nhà 10-15 cm.
Móng máy là móng cọc dài 23 m tựa trên lớp đất sét dẻo mềm với sức
mang tải theo thí nghiệm nén tinh là 60 Tấn và tải trọng do trọng lượng máy
trong dây chuyền sản xuất là nhỏ. Tuy vậy, móng máy vẫn bị lún không đều.
Kiểm toán cho thấy, dưới tác dụng của tải trọng đất đắp, nền đất đắp bị
lún nhiều với độ lún cuối cùng cỡ 140 cm và kéo dài nhiều năm tạo nên ma sát
âm tác dụng lên thân cọc.Tính toán sơ bộ cho giá trị ma sát âm tác dụng lên cọc
chừng 40 Tấn. Như vậy, ma sát âm tác dụng lên cọc trong trường hợp này là rất
lớn và cọc bị lún do bị chịu tải vượt quá dự kiến.
Thiết kế đã không mô hình hoá được sơ đồ làm việc của cọc trong trường
hợp này, bỏ sót ma sát âm và ảnh hưởng của chúng tới cọc.
• Nguyên nhân thuộc về công tác thi công
Thi công chính là các tác động để triển khai thực tế các tương tác mà
thiết kế đã xác lập và dự báo. Nếu các tác động thi công không mô phỏng đúng
như thiết kế đã trù liệu tất nhiên sẽ phát sinh SCNM. Các ví dụ SCNM điển hình
sau liên quan đến thi công cho thấy rõ điều trên.
Ga ra ô tô Nhà Chung
Để thi công cần đào một hố đào sâu 5-6 m. Đất nền tại khu vực xây dựng
cấu tạo từ lớp đất sét dẻo cứng dày 6-7 m và lớp bùn yếu dày trung bình 12 m ở
phía trên và sau đó là lớp đất sét cứng.
Tính toán thiết kế cho thấy, tường cừ thép chiều sâu 12 m bảo vệ thành hố
đào sẽ chuyển vị khoảng 20 cm tại đỉnh cừ khi hố đào đạt tới độ sâu đào thiết kế,
nếu không có hệ thanh chống ngang .
IX-15
Tuy nhiên khi thi công, đơn vị thi công bỏ qua bước đặt các thanh chống
ngang. Kết quả là tường cừ bị chuyển vị gây nứt đường nội bộ và các tường bao
che xung quanh các công trình lân cận.
Khách sạn Cần Thơ
Khách sạn Victory Cần Thơ do Pháp xây dựng là khu nhà hình chữ U 3

sát sông Sài Gòn có cấu tạo địa chất có mặt lớp
đất bùn yếu dày 20-25 m bên dưới lớp đất cát san lấp dày 2 m. Móng cọc sử
dụng ở đây là cọc đóng, tròn rỗng, BTCT ứng suất trước, đường kính ngoài
700mm, đường kính trong 580mm, mác 800, dài 35 m (3 đoạn 10x2, 15 m trên
cùng), mối nối hàn đối đầu, sức mang tải thiết kế 205 Tấn. Cọc được đóng âm -
4m so với cốt san nền cho đến khi đạt độ chối 2mm/nhát. Tổng số cọc 405 chiếc
đã được đóng theo đúng thiết kế và sức mang tải của cọc đã được xác định băng
thí nghiệm nén tĩnh và biến dạng lớn.
Công tác đào hố móng được tiến hành sau khi hoàn công đóng và thực
hiện thành 2 giai đoạn: giai đoạn đầu tới dộ sâu 2 m và giai đoạn sau tới bề mặt
cọc.
IX-16
Trong quá trình đào của giai đoạn 2 đã phát hiện thấy đất xung quanh hố
đào đã bị chuyển vị gây nứt bề mặt đất cách mép hố đào chừng 10-20 m. Sau đó
phát hiện đầu cọc bị nghiêng và góc nghiêng ngày càng lớn. Một tháng sau khi
đào, đo đạc cho thấy 100% số cọc đã bị nghiêng và được xác định là bị gãy hoặc
bị chuyển vị tại mối nối của đoạn cọc trên cùng. Đầu cọc bị chuyển vị từ 0.4-
1.8m có xu hướng vào trong hố đào. Thêm vào đó, đất đáy hố móng cũng quan
sát thấy bị trồi lên tới 20-40 cm. Hố móng nhà đóng bao lân cận đào sâu 2 m đã
đổ bê tông lót cũng bị chuyển vị ra phía hố móng xi lô gây nứt bê tông lót.
Sư cố đã gây hậu quả nghiêm trọng, xi lô phải chuyển vị trí và topàn bộ số
cọc có nguy cơ không thể sử dụng được.
Nguyên nhân sự cố là thi công hố đào sâu trong điều kiện đất yếu mà
không có biện pháp chống đỡ bảo vệ thành hố đào, chống chuỷên vị của đất yếu
vào lòng hố đào tạo áp lực ngang lên cọc, tốc độ đào quá nhanh và thi công đã
đắp thêm đất đào lên bề mặt quanh hố đào làm tăng tải trọng tác dụng lên đất .
Chất lượng mối nối cũng quan trọng. Nếu mối nối tốt, chuyển vị sẽ giảm thiểu.
Sự cố tương tự cũng xảy ra tại nhiều công trình đào hố móng sâu tại Tp
HCM như Dự án Sài Gòn Pearl, nhà máy xử lý nước thải Nam Sài Gòn,
Các ví dụ trên cho thấy, các tác động thi công cũng là một nhân tố có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status