báo cáo thực tập hiện trạng môi trường làng nghề lụa nha xá - xã yên nam huyện duy tiên - Pdf 13

CHƯƠNG 1.LÝLUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
1.1.Tổng quan chung về quản lý môi trường (QLMT)
QLMT là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội ,có tác động điều chỉnh
các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều
phối thông tin đối các vấn đề môi trường có liên quan đến con người ,xuất phát từ
quan điểm định lượng ,hướng tới phát triển bền vững và sử dụnh hợp lý tài nguyên
QLMT được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp ,chính sách
,kinh tế ,kỹ thuật ,công nghệ ,xã hội ,văn hoá ,giáo dục …Các biện pháp có thể đan
xen phối hợp tích hợp với nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể vấn đề đặt ra .Việc quản
lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô .toàn cầu ,khu vực ,quốc gia ,tỉnh
,huyện ,cơ sở sản xuất, hộ gia đình ,…
 QLMT phải hướng tới các mục tiêu cơ bản sau:
- Thứ nhất: Phải khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường
phát sinh trong hoạt động sống của con người.
- Thứ hai là Phát triển bền vững Kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc
của một xã hội bền vững do hội nghị Rio- 92 đề xuất và được tuyên bố
Johannesburg- Nam Phi về PTBV tái khẳng định. Trong đó, với nội dung cơ bản
cần phải đạt được là phát triển kinh tế- xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi
trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên,
giữ gìn đa dạng sinh học.
- Thứ ba là xây dựng các công cụ có hiệu lực QLMT quốc gia và các vùng lãnh
thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng
dân cư.
 Đối tượng của công tác quản lý môi trường :
• Theo phạm vi quản lý có thể chia ra các loại :
-Quản lý môi trường khu vực :khu vực đô thị ,nông thôn ,
BÁO CÁO THỰC TẬP SV:NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
LỚP :CĐ8QM2
11
-Quản lý môi trường theo ngành kinh tế như công nghiệp ,nông nghiệp ,năng

điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ. Công cụ điều chỉnh vĩ mô
là luật pháp và chính sách. Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp
tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt v.v
và công cụ kinh tế. Công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức
môi trường trong công tác bảo vệ môi trường.Công cụ hỗ trợ gồm có các công cụ kỹ
thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc
môi trường.
1.2.1 Công cụ luật pháp và chính sách
Công cụ luật pháp và chính sách là các quy định, quy chế, nghị định, luật pháp
được ban hành của Nhà Nước để điều khiển các hành vi và giám sát đối với những
đối tượng gây ra những ảnh hưởng đến môi trường và buộc họ phải tuân thủ theo
quy định của luật pháp
1.2.2 Công cụ kinh tế
Các công cụ kinh tế là phương tiện chính sách có tác dụng làm thay đổi chi phí
và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường nhằm
mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra huỷ hoại môi trường .
Công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường được áp dụng trên các nguyên tắc cơ
bản đã được quốc tế thừa nhận là “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP) và
nguyên tắc “Người được hưởng thụ phải trả tiền” (BPP)
- Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP) đề ra 1972 cho rằng:
Những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng
chống ô nhiễm. Đồng thời nguyên tắc PPP “mở rộng” 1974 chủ trương rằng, các tác
nhân ngoài việc tuân thủ các chi phí tiêu chuẩn đối với việc gây ô nhiễm còn phải bồi
thường cho những người bị thiệt hại do ô nhiễm gây ra.
- Nguyên tắc “Người được hưởng thụ phải trả tiền” (BPP) cho rằng những
người được hưởng lợi từ việc chất lượng môi trường được cải thiện cũng phải trả
một khoản tiền.
* Các công cụ kinh tế như :
BÁO CÁO THỰC TẬP SV:NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
LỚP :CĐ8QM2

LỚP :CĐ8QM2
44
hiện cả nước có 1450 làng nghề phân bố ở 58 tỉnh và thành phố trong cả nước, riêng
địa bàn Đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng. Các tỉnh có số lượng làng nghề
đông bao gồm: Hà Tây có 280 làng, Thái Bình có 187 làng, Bắc Ninh có 59 làng,
Nam Định có 90 làng, Thanh Hoá có 127 làng… ,Hà Nam có hơn 40 làng nghề
truyền thống
Hàng năm giá trị kinh tế từ sản phẩm xuất khẩu của các làng nghề khoảng 600
triệu USD. Theo ước tính, trong vòng 10 năm qua, làng nghề nông thôn Việt nam
đã có tốc độ tăng trưởng nhanh, trung bình khoảng 8%/năm, tính theo giá trị đầu ra.
Các ngành nghề chủ yếu được phát triển ở làng nghề như tại bảng 1.1
Bảng 1.1 Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam
Ươm
tơ, dệt
nhuộm
, đồ da
Chế biến
nông sản,
thực
phẩm
Tái chế
Thủ
công
mỹ
nghệ
Vật liệu
xây
dựng,
gốm sứ
Nghề

LỚP :CĐ8QM2
55
Bên cạnh lợi ích về kinh tế, làng nghề còn là nơi lưu giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa
dân tộc đặc trưng.
Quy mô của các cơ sở sản xuất ở các làng nghề rất linh động, từ hộ gia đình đến
các tổ hợp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tuy nhiên chủ yếu là quy mô hộ gia đình
(chiếm 80,1%). Trong mỗi tỉnh có thể có rất nhiều loại làng nghề.
1.3.2 Thực trạng môi trường tại các làng nghề
Do ô nhiễm môi trường, lao động không có dụng cụ bảo hiểm và sinh hoạt hàng
ngày chung với môi trường sản xuất, tình trạng sức khoẻ của người dân làng nghề bị
ảnh hưởng nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu cả nước có trên 4200 cơ sở gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhưng việc xử lý đạt ở mức thấp, trung bình chỉ
khoảng 26%. Thực tế này đã dẫn đến tỷ lệ người dân ở các làng nghề bị mắc các bệnh
thông thường và hiểm nghèo cao gấp 2-3 lần các làng xã thuần nông. 51 làng xã
thuộc 25 tỉnh thành được cho là “làng ung thư”, với tỷ lệ người dân nghi ngờ mắc,
chết do ung thư cao cũng là những làng nghề, hoặc làng nằm gần khu công nghiệp,
kho hóa chất, bãi rác bị ô nhiễm. Trong các làng nghề, tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất liên
quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây
thần kinh chiếm 9,72%.
Nguyên nhân của một số bệnh tật phổ biến trong nhân dân hiện nay, theo đánh
giá của Bộ Y tế là do suy thoái môi trường không khí, nước, đất, chất thải công
nghiệp và đô thị, chất thải y tế, ô nhiễm tiếng ồn
1.3.2.1 Hiện trạng môi trường nước
Theo kết quả xét nghiệm của Viện khoa học và công nghệ môi trường (trường
Đại học Bách khoa Hà Nội) thì 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều vượt quá
tiêu chuẩn cho phép, nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm. Ô nhiễm nước
có thể được chia ra thành ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh
học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý.Ô nhiễm hữu cơ thường gặp ở các làng nghề
chế biến nông sản, thực phẩm. Nước thải của các làng nghề này có đặc tính chung
là rất giàu chất hữu cơ, dễ phân huỷ sinh học. Ví dụ như nước thải của quá trình sản

Chỉ tiêu chất lượng nước thải
pH COD BOD
5
SS
Độ
màu
1 Ươm tơ Cổ Chất - Nam Định 100 - 6.076 2.400 764 4110
2 Ươm tơ Đông Yên- Quảng Nam 20 7,2 632 241 517 69
3 Ươm tơ Bảo Lộc - Lâm Đồng 50 7,8 1.020 780 215 466
4 Dệt nhuộm Phương La -Thái Bình
960 8 - 9,7
320-
900
72-
410 14 77-139
5 Dệt đũi Nam Cao - Thái Bình - 8,2 372 212 375 260
6 Dệt nhuộm Thái Phương-Thái Bình - 6,9 312 272 205 195
TCVN 5945 - 1995 (Nước Loại B) 5,5 - 9 100 50 100
Nguồn: Việt Nam môi trường và cuộc sống
Ô nhiễm từ các làng nghề tái chế thuộc mức độ ô nhiễm nặng.Đối với các làng
nghề tái chế giấy, ô nhiễm chủ yếu từ nước thải ở các công đoạn ngâm tẩm, nấu và
nghiền nguyên liệu cũng như công đoạn xeo giấy. Lượng nước thải này còn chứa
hoá chất dư, bột giấy và có hàm lượng chất hữu cơ cao, nên hàm lượng ôxy hoà tan
tại các nguồn tiếp nhận rất thấp, gần như bằng 0. Bột giấy, xơ sợi còn sót trong
nước thải gây bồi đắp lòng mương, ao hồ.Đối với các làng nghề tái chế nhựa, do
đặc thù nguyên liệu thu gom từ nhiều nguồn và đều là nhựa phế thải có dính nhiều
tạp chất, nên trong quá trình công nghệ sử dụng rất nhiều nước để rửa phế
liệu.Lượng nước này ước tính khoảng 20 - 25m
3
/tấn nhựa phế liệu. Thành phần của

. Các tác động chủ yếu đến môi trường từ hoạt động của các làng nghề sản
xuất vật liệu xây dựng là ô nhiễm không khí do bụi và khói lò nung. Quy trình nung
vôi, gạch ở các làng nghề chủ yếu theo phương pháp thủ công sử dụng nhiên liệu là
than. Khí thải từ các lò nung đốt than chứa bụi, các khí ô nhiễm. Đặc biệt các lò
nung thường không được thiết kế đúng quy cách, nên quá trình cháy không hết, tạo
ra các sản phẩm cháy nhiên liệu thiếu ôxy như CO, SO
2
, Bụi phát sinh từ khâu
khai thác, gia công đất nguyên liệu, vận chuyển vào lò, ra lò và bốc dỡ sản phẩm.
Bảng 1.3. Ước tính tải lượng ô nhiễm của một số làng nghề sản xuất gạch
và nung vôi
TT Tên làng nghề
Lượng
SP/năm
Bụi
tấn/nă
m
CO
tấn/nă
m
SO
2
tấn/nă
m
NO
2
tấn/nă
m
1
Khai Thái, Hà Tây 170 triệu

1.3.2.3 Hiện trạng môi trường đất
Cùng với sự phát triển của làng nghề là sự phát sinh một lượng chất thải lớn.
Hầu hết các chất thải này đều đổ trực tiếp các nguồn nước (sông, kênh mương) đất
canh tác, để dự phòng Điều này làm thay đổi thành phần lý hoá tính của đất, ảnh
hưởng đến mùa màng và hoa màu của nông dân tại làng nghề và cả các vùng lân
cận Đồng thời các chất ô nhiễm có trong môi trường nước đã ngấm vào môi trường
đất khiến cho môi trường đất bị ô nhiễm trầm trọng.
1.3.3 Một số giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường làng nghề
. Hiện nay, đã có nhiều giải pháp được áp dụng đồng thời nhằm giải quyết vấn
để môi trường làng nghề. Nhưng có thể phân ra thành hai hướng giải pháp cơ bản:
Giải pháp về công nghệ và Giải pháp về quản lý.
1.3.3.1 Giải pháp về công nghệ
Các làng nghề thường sử dụng công nghệ thủ công, lạc hậu thường gây ô nhiễm
môi trường.Vì vậy, đổi mới công nghệ là một trong những giải pháp tối ưu nhằm
hướng tới sự phát triển bền vững của làng nghề.Hiện nay, các nhà khoa học rất chú
trọng vào việc áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn vào sản xuất làng nghề.
*) Áp dụng các mô hình sản xuất làng nghề gắn với sản xuất sạch hơn
BÁO CÁO THỰC TẬP SV:NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
LỚP :CĐ8QM2
99
Mô hình này chú trọng vào các giải pháp công nghệ nhằm giảm thiểu lượng
phát thải bằng các biện pháp cải tiến công nghệ, nhằm sử dụng tiết kiệm và hợp lý
các nguồn nguyên nhiên liệu, tài nguyên; áp dụng các biện pháp quản lý và xử lý chất
thải phù hợp (chú trọng tới biện pháp tái chế, tái sử dụng) nhằm bảo vệ môi trường
hiệu quả.
Để thực hiện tốt hướng này, các cơ quan quản lý về khoa học công nghệ, tài
nguyên và môi trường các địa phương cần có kế hoạch trong việc hợp tác với các cơ
quan nghiên cứu khoa học công nghệ của Trung ương để giải quyết những nhiệm vụ
cụ thể ở địa phương mình, trong đó chú trọng tới cải tiến công nghệ sản xuất và áp
dụng các công nghệ môi trường đơn giản, rẻ tiền, phù hợp với quy mô, trình độ của

thuật cao. Giá trị sản phẩm không chỉ tính bằng giá nguyên liệu và công lao động,
mà chủ yếu được đánh giá bằng tính nghệ thuật và tính văn hoá của sản phẩm. Điều
thu hút khách du lịch sẽ không chỉ là sản phẩm của làng nghề, mà chính là hoạt
động sản xuất truyền thống ở làng nghề. Với các làng nghề kết hợp với khu du lịch
theo mô hình này, vấn đề vệ sinh môi trường sẽ được đặt ra như là một tiêu chí
quan trọng trong việc quy hoạch làng nghề. Điều kiện môi trường cũng sẽ là một
trong những yếu tố thu hút khách du lịch. Việc phát triển các làng nghề theo hướng
này chủ yếu nên áp dụng với các làng nghề truyền thống lâu đời, có các mặt hàng
mang tính đặc thù văn hoá Việt Nam, đặc biệt là các làng nghề thủ công mỹ nghệ,
dệt nhuộm, gốm sứ… Hiện nay, những làng nghề truyền thống như làng gốm Bát
Tràng (Hà Nội), làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), lụa Vạn Phúc (Hà Tây),lụa Nha
Xá (Hà Nam), đồ đá Non Nước (Quảng Nam), nghề thêu ở Huế đã trở thành
những điểm du lịch hấp dẫn.
*) Xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ nông thôn:
Mô hình này sẽ thích hợp với các làng nghề tiểu thủ công nghiệp mới.Mô hình
sản xuất tập trung ở khu vực gần làng xã, thuận tiện cho việc quy hoạch tổng thể mà
vẫn giữ được những lợi thế đặc trưng của sản xuất tại các làng nghề.
Nhu cầu hình thành các cụm công nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn hiện nay đang
rất bức xúc xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ áp lực lên môi trường sống của người dân
nông thôn và cũng phù hợp với chủ trương công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, công nghiệp ở nông thôn nước ta cần phải được tổ chức
lại sao cho có hệ thống, trật tự và phát triển bền vững, tạo nhiều sản phẩm cho xã hội và
tránh gây ô nhiễm đến môi trường.
Những thế mạnh của các làng nghề tiểu thủ công truyền thống được phát huy
trong bối cảnh xã hội hiện đại, vừa tạo vị thế của ngành tiểu thủ công nghiệp trong bối
cảnh công nghiệp hoá nông thôn đang được đẩy mạnh thông qua việc phát triển các
BÁO CÁO THỰC TẬP SV:NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
LỚP :CĐ8QM2
1111
khu công nghiệp vừa và nhỏ nông thôn, vừa góp phần bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc

TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ LỤA NHA XÁ –XÃ MỘC NAM –HUYỆN DUY
TIÊN –TỈNH HÀ NAM
2.1.Giới thiệu chung về làng nghề ở huyện Duy Tiên –tỉnh Hà Nam
Duy Tiên là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Hà Nam , phía bắc giáp Hà
Nội phía đông đối diện với thành phố Hưng Yên và huyện Kim Động của tỉnh
Hưng Yênqua sông Hồng và huyện Lý Nhân , phía nam giáp huyện Bình Lục và
thành phố Phủ Lý , phía tây giáp Hà Nội và huyện Kim Bảng .Diện tích chủ yếu của
BÁO CÁO THỰC TẬP SV:NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
LỚP :CĐ8QM2
1313
huyện là đồng bằng .Huyện Duy Tiên có dân số vào khoảng 150.000 người, bao
gồm 21 xã, thị trấn.
Duy Tiên là một trong những huyện có thế mạnh về làng nghề truyền thống
với nhiều nghề thủ công đã có từ lâu đời như: ươm tơ, dệt lụa, mây giang đan, thêu
ren, bưng trống …Duy Tiên có 6 làng nghề, trong đó có 4 làng nghề truyền thống
là: làng nghề trống Đọi Tam, thêu ren Vũ Xá (Yên Bắc), dệt lụa Nha Xá (Mộc
Nam), mây giang đan Ngọc Động (Hoàng Đông) và 2 làng nghề mới là: làng nghề
ươm tơ kéo kén Từ Đài (Chuyên Ngoại) và Mây giang đan Hoà Trung (Tiên Nội).
Để khuyến khích khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống, UBND huyện đã chỉ
đạo xây dựng Quỹ Khuyến công, triển khai nhiều giải pháp khuyến khích các thành
phần kinh tế mạnh dạn đầu tư đẩy mạnh phát triển ngành nghề, khôi phục và nhân
cấy nghề mới nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động .Nhờ đó, các
nghề truyền thống của huyện đã có bước phát triển vững chắc đạt giá trị sản xuất
lớn.Tiêu biểu là nghề mây giang đan ngày càng được nhân rộng tới từng thôn, xóm.
Nhiều mặt hàng đã chinh phục được thị trường trong nước và quốc tế , trở thành
những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của huyện như : lụa, đũi, bát đĩa mây, thêu ren,
long nhãn, hạt sen … Số lượng các doanh nghiệp sản xuất CN-TTCN tăng nhanh.
Năm 2005 có 54 doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực sản xuất CN-TTCN, đến
năm 2008 tăng lên 71 doanh nghiệp với tổng số vốn chủ sở hữu lên đến 1.185.250
triệu đồng.

Khí hậu xã Mộc Nam nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên có đầy đủ các
đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng, đó là nhiệt đới gió mùa ẩm, có
mùa đông lạnh.
Mùa đông lạnh bắt đầu từ tháng 11 năm trước kết thúc vào tháng 4 năm sau,
thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, khô hanh. Hướng gió thịnh hành là
gió Đông Bắc và gió Đông Nam.
Mùa hè bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào tháng 10, số giờ nắng trong năm khoảng 1300
giờ nắng. Nhiệt độ trung bình năm 24
0
C, nhiệt độ cao nhất lên đến 39,8
0
C. Chế độ mưa ở
Hà Nam thay đổi nhiều trong năm, mưa tập trung vào mùa hè (mùa mưa) bắt đầu từ tháng
5 kéo dài đến tháng 10, tổng lượng mưa trung bình trong năm là 1582mm. Độ ẩm trung
bình năm khoảng 82,42%.
 Địa hình ,thổ nhưỡng
Xã Mộc Nam có địa hình bằng phẳng, thành phần đất chủ yếu là đất phù sa,
thành phần cơ giới nhẹ, đất tơi xốp. Nhìn chung đất đai của xã thuộc loại có độ phì
nhiêu cao. thích hợp cho trồng rau màu, cây ăn quả, có điều kiện phát triển trang
trại. Vùng đồng thích hợp cho cấy lúa và có thể phát triển một số cây ăn quả như:
cam canh, nhãn, vải
2.3.2.Phát triển kinh tế xã hội
 Đặc điểm dân số và lao động
BÁO CÁO THỰC TẬP SV:NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
LỚP :CĐ8QM2
1515
Nguồn lao động của xã tương đối dồi dào và chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, hiện
nay toàn xã có 3039 hộ, với 13007 nhân khẩu, số hộ nông nghiệp là: 937 hộ (chiếm
30,83%), lao động nông nghiệp 2973 lao động (chiếm 24,84%). Hộ phi nông nghiệp là
2102 hộ (chiếm 69,17 %), trong đó hộ ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là 1488

2008
So với năm
2010
So với năm
2008
Diện
tích
Tăng (+)
giảm (-)
Diện
tích
Tăng (+)
giảm (-)
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
Tổng diện tích tự nhiên
811,11
811,11
811,
07
+0,04
1 Đất nông nghiệp
NN
P

491,36
-16,04
512,
36
-37,04
1.1.1.
2
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi§
CO
C
2,21
2,21
2,21
1.1.1.
3
Đất trồng cây hàng năm khác§
HN
K
22,79
22,79
15,0
1
+7,78
1.1.2
Đất trồng cây lâu năm CL
N
31,35
31,35
39,5
4

60,57
60,57
61,5
2
-0,95
2.2 Đất chuyên dùng
CD
G
143,79
126,57
+17,22
105,
29
+38,50
2.2.1
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự
nghiệp
CTS
1,53
2,18
-0,65
1,56
-0,03
2.2.2
Đất quốc phòng
CQ
P
0,28
0,28
0,28

NT
D
8,67
8,67
8,70
-0,03
2.5 Đất sông suối và mặt nước
chuyên dùng
SM
N
13,52
13,05
+0,47
13,2
3
+0,29
2.6 Đất phi nông nghiệp khác PN
K
2,49
2,49
+2,49
3 Đất chưa sử dụng CS
D
2,10
2,10
2,13
-0,03
3.1 Đất bằng chưa sử dụng
BC
S

Đồng thời những đoạn đường có mật độ xe chạy qua nhiều đã bị xuống cấp nghiêm
trọng.
- Năng lượng điện : hiện tại toàn xã có 4 trạm biến áp với công suất 4.790
KVA, mỗi năm được cung cấp 15, 7 triệu KW. Hệ thống điện đã được đầu tư cải
tạo liên tục nhưng vào những thời điểm, cao điểm lượng tiêu thụ trên địa bàn lớn
nên thường xảy ra tình trạng quá tải.
- Đầu tư, phát triển đời sống dân sinh khác : Các công trình phúc lợi của xã
đã và đang góp những phần tích cực cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa
phương. Các trường học đã được đầu tư mở rộng đảm bảo đầy đủ những điều kiện
học hành tốt nhất cho học sinh. Trạm y tế xã ở gần trung tâm xã tạo điều kiện tốt
nhất để mọi người dân đến khám chữa bệnh được thuận lợi nhất. Do có công ăn
việc làm và thu nhập thường xuyên nên đời sống về vật chất và tinh thần của nhân
dân trong làng được nâng cao. Số hộ có nhà cao tầng, nhà mái bằng chiếm tỷ lệ
56%, số hộ có điện thoại chiếm tỷ lệ 35% số hộ dân trong thôn. 100% số hộ dân có
tivi, radiocassette. Trong làng có gần 200 xe máy. Không còn hộ đói và nhà tranh
tre vách đất, số hộ nghèo giảm còn 7%. Xã có một trạm phát thanh trung tâm, và ở
mỗi xóm đều có một loa phóng thanh. Trạm phát tranh có nhiệm vụ phát thanh các
tin tức liên quan tới các nghị quyết của đảng, chính sách của chính phủ, các quy
định của tỉnh, huyện, xã và các thông tin về tình hình sản xuất , đến nhân dân
trong xã.
- Hệ thống thuỷ lợi : Hệ thống tưới tiêu của xã đã được đổ bê tông với chiều
dài là 16 km. Hệ thống thoát nước, cống rãnh được xây dựng kiên cố từ 3 năm trước
đây, nhưng hiện nay do sự phát triển quy mô sản xuất với quy mô lớn hơn nhiều
nên tình trạng ùn tắc, ứ đọng xảy ra thường xuyên, nhiều khi tràn lên mặt đường,
gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra việc đầu tư cho hệ thống này không được đồng
bộ, mang tính chất chắp vá đã làm cho hệ thống bị xuống cấp nhanh chóng. Đây
chính là điểm cần quan tâm giải quyết vì nó có sự ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề môi
trường trong xã.
 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã
Mộc Nam là xã đứng thứ ba về phát triển kinh tế của huyện Duy Tiên . Với

(%)
So với
năm
2007
tăng (+),
giảm (-)
1. Tổng thu
nhập
78.787,3
8
96.884,0
0
+
18.096,6
2
103.043,8
3
+
6.159,83
- Công nghiệp
- TTCN
36.642,3
8
46,51
48.823,4
0
50,3
9
+
12.181,0

0
-997,50 22.297,50
21,6
4
-
2.310,00
2. Thu nhập
BQ /LĐ/năm
7,73 8,53 + 0,81 8,61 + 0,07
3. Thu nhập
BQ /người
/năm
6,01 7,44 + 1,43 7,92 + 0,48
4. Thu nhập
BQ /hộ/năm
29,61 33,84 + 4,23 33,91 + 0,07
(nguồn: phòng thống kê huyện Duy Tiên )
Qua bảng 2.2 ta thấy nghề dệt lụa Nha Xá của xã luôn là một thế mạnh phát
triển kinh tế. Năm 2011 giá trị ngành CN - TTCN của xã đạt trên 53, 67 tỷ đồng,
tăng 4,85 Ở đồng so với năm 2010. Thu nhập bình quân một lao động CN - TTCN
là 8, 428 triệu động/năm. Đã giải quyết việc làm cho 6369 lao động địa phương và
3000- 4500 lao động địa phương khác. Thu nhập bình quân một hộ CN - TTCN
BÁO CÁO THỰC TẬP SV:NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
LỚP :CĐ8QM2
2020
khoảng 33, 91 triệu đồng/năm, đóng góp ngân sách Nhà nước hơn 36 triệu đồng
(Báo cáo sở công nghiệp năm 2011).
Ngành thương mại dịch vụ của xã trong những năm gần đây có xu hướng tăng
nhanh hơn các ngành khác cả về giá trị và tỷ trọng cơ cấu kinh tế chung.
2.2.4. NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG VỀ SẢN XUẤT CỦA LÀNG NGHỀ LỤA

2121
của bà con dân làng thôi thúc những nghệ nhân.Họ đoàn kết, họp thôn, quyết đưa
đời sống nhân dân đi lên, chẳng cách nào khác hơn là khôi phục nghề.Bởi làng rất ít
ruộng, không có đất màu, chẳng tiện buôn bán.
Đến năm 1989 về cơ bản những khó khăn đã được giải quyết. Bà con tìm
được thị trường cả trong nước và nước ngoài, đời sống khá dần lên. Cũng chính
nghệ nhân Lê Văn Khiển là người đã cải tiến công cụ máy móc của dân làng, để
tăng năng suất lao động, người dân đỡ vất vả hơn. Năm 2004, với sự phát triển rực
rỡ của làng nghề, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã về thăm và nói chuyện với các
nghệ nhân, khuyến khích phát triển kinh tế làng.
2.4.2.Tình hình hoạt động sản xuất của làng nghề lụa Nha Xá
2.4.2.1. Sản phẩm làng nghề
Trải qua hàng nhiều thế kỷ, thương hiệu lụa Nha Xá ngày càng được phát triển
không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước. ngày nay
trước sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trương, nghề dệt lụa của Nha Xá ngày
càng có điều kiện phát triển. Hiện nay, sản lượng lụa hàng năm từ 2,5 đến 3 triệu
mét lụa các loại. Với những mặt hàng tơ tằm như: Vân, Sa, Quế, Lụa sa tanh hoa
các loại đủ màu sắc, mẫu mã phong phú được tiêu tụ rộng rãi trong cả nước. Nhằm
đáp ứng nhu cầu của thị trường, tiến tới sự phát triển lâu dài Nha Xá đang đầu tư
xây dựng khu vực sản xuất tập trung trên diện tích 15ha để có cơ sở đầy tư, cải tiến
đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nhằm
thỏa mãn hơn nữa với người tiêu dùng và tiến tới thị trường xuất khẩu, đồng thời
tạo ra một mô hình cảnh quan của một làng nghề, làng du lịch.
Xét chung về làng nghề có hai loại sản phẩm chính là lụa và sa tanh. Giá thành
sản phẩm lụa dao động từ 50.000- 80.000đồng/mét; giá sản phẩm sa tanh từ 70.000
– 100.000đồng/mét tùy thuộc vào chất lượng sản phẩm.
2.4.2.2. Tình hình công nghệ sản xuất và môi trường lao động
Trước đây,lụa Nha Xá chỉ dệt bằng khung dệt thủ công với chưa đầy 40
khung dệt, nay đã tăng lên trên 400 khung dệt và đã được cơ giới hoá 100. Khảo sát
thực tế tại các cơ sở sản xuất và tiến hành phỏng vấn 15 hộ dân cư không làm nghề

việc nhuộm đậm hay nhạt.
Người dân sử sụng thuốc nhuộm có nguồn gốc từ Trung Quốc, được bán tràn
ngập trên thị trường.Quá trình dệt, nhuộm, in hoa có sử dụng hóa chất, thuốc nhuộm
như sút, Javen, H
2
O, CH
3
COOH, H
2
S, thuốc nhuộm axít, thuốc nhuộm lưu huỳnh
(đá, Na
2
S), thuốc nhuộm trực tiếp và rất nhiều nước trong các công đoạn sản xuất.
Một tác nhân nữa góp phần gây ô nhiễm môi trường là thành phần trong tơ tằm, bởi
qua khâu tẩy, thải ra 25% tạp chất. 1m lụa có trọng lượng 80g sẽ thải ra ngoài nước
20g tạp chất Người lao động tại làng nghề làm việc trong môi trường chứa nhiều
hóa chất độc hại, đồng thời lại không có sự bảo hộ nên nguy cơ mắc bệnh là rất cao.
Qua khảo sát, tại các làng nghề dệt, nhuộm các bệnh thường gặp về đường hô hấp là
10- 20%, bệnh về mắt 10- 20%, bệnh phụ khoa 10- 30%, bệnh về đường tiêu hóa
BÁO CÁO THỰC TẬP SV:NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
LỚP :CĐ8QM2
2323
10- 20%. Ông Hoàng Bá Chỉnh, Chủ tịch xã Mộc Nam cho biết: “Vài năm gần đây,
người dân Nha Xá chủ yếu mắc bệnh về phế quản, tỉ lệ người bị suy nhược cơ thể,
suy nhược thần kinh, điếc ngày càng tăng. Số người chết do ung thư nhiều hơn
trước, trung bình mỗi năm ở Nha Xá có 3 người chết vì ung thư – chiếm trên 60%
số ca tử vong của làng”.
2.5. Thực trạng môi trường làng nghề lụa Nha Xá
2.5.1 Công nghệ sản xuất và các vấn đề môi trường liên quan
Tại Nha Xá công nghệ sản xuất cũng được cải thiện và nâng cấp để tăng năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status