Vấn đề quản trị ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Pdf 13

Vấn đề quản trị ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và đặc biệt là kể từ khi Việt Nam chính thức
trở thành thành viên của WTO, vấn đề quản trị doanh nghiệp (DN) đã được đặt ra như một yêu
cầu cấp thiết và quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế. Quản trị DN tốt đồng nghĩa
với khả năng tiếp cận tài chính, đầu tư, nâng cao giá trị tăng trưởng Các ngân hàng thương mại
(NHTM) với đặc thù là các tổ chức kinh doanh “tiền”, có độ rủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn
thì vấn đề quản trị lại càng có ý nghĩa hơn, đặc biệt đối với một nước đang phát triển như Việt
Nam, khi ngân hàng là nguồn tài chính bên ngoài cực kỳ quan trọng đối với DN. Một ngân hàng
yếu kém trong quản trị sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó, mà còn tạo nên những
rủi ro nhất định mang tính dây chuyền cho các đơn vị khác và ngược lại. Rõ ràng, khả năng
chống đỡ của ngân hàng càng cao, khả năng hỗ trợ cho khu vực DN sẽ càng lớn. Thời gian tới,
khi hàng loạt các ngân hàng ngoại sẽ ồ ạt "đổ bộ" vào Việt Nam, chắc chắn những đòi hỏi về
công tác quản trị ngân hàng (QTNH) sẽ càng gay gắt hơn đối với ngân hàng nội.
Phần 1. Một số vấn đề cơ bản về quản trị ngân hàng
I,Thứ nhất, tại sao cần quan tâm đến QTNH
Các NHTM - bản thân chúng cũng là các DN, song là các DN đặc biệt, do vậy hoạt động QTNH
không những tác động đến giá trị của ngân hàng và giá vốn của họ mà còn tác động đến giá vốn
của các DN và hộ gia đình mà họ cho vay vốn. Công tác tổ chức và quản trị tại ngân hàng sẽ tác
động trực tiếp không chỉ đến giá trị của ngân hàng mà còn tới vị thế và uy tín của ngân hàng.
Một cách tổng quát, công tác QTNH tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, là
thước đo cho khả năng chống đỡ của ngân hàng trước biến động của nền kinh tế. Không những
thế, hoạt động của ngân hàng tác động đến sản lượng của nền kinh tế bởi lẽ các ngân hàng huy
động và phân bổ tiết kiệm của xã hội. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, khi các ngân hàng là
nguồn tài chính bên ngoài rất lớn của DN, QTNH tốt sẽ góp phần thúc đẩy quản trị DN của các
DN mà họ cho vay.
II,Thứ hai, đặc điểm của quản trị DN ở các ngân hàng
Các NHTM là các DN đặc biệt nên hoạt động của các ngân hàng cũng có những “đặc thù” khác
với các công ty. đó là: sự không rõ ràng của một số nguồn thông tin tài chính khiến khó đánh giá
chất lượng hoạt động và rủi ro; sự đa dạng về các đối tượng thụ hưởng nên khó quản lý; độ rủi ro
lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạt động là rất cao và rất dễ dẫn đến phá sản;
chịu sự quản lý chặt chẽ với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ

lực là cấp quản trị điều hành và cấp quản lý kinh doanh.
HĐQT can thiệp vào điều hành
Dù luật quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của HĐQT và ban điều hành (BĐH), nhưng trong thực
tế việc chồng chéo, lấn sân, thậm chí lấn át vẫn xảy ra ở nhiều ngân hàng khiến cho hệ thống ra
quyết định phức tạp thiếu minh bạch, chưa tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát điều
hành NH, đặc biệt là ở các NHTM do Nhà nước là chủ sở hữu. Thành phần và cơ cấu HĐQT của
nhiều NH còn bất cập, quan hệ giữa HĐQT và BĐH không mấy suôn sẻ, vai trò của các UB/hội
2
đồng thuộc HĐQT mờ nhạt, trách nhiệm của các ủy viên HĐQT không rõ ràng. Nếu khảo sát về
mức độ tham gia của HĐQT của các NH ở VN vào việc điều hành bắt đầu từ mức tham gia thụ
động cho đến mức độ cuối cùng là điều hành thì nhiều NH tỏ ra ở mức độ can thiệp. HĐQT
thường can thiệp vào việc điều hành qua sự yêu cầu trực tiếp hay gián tiếp BĐH. Biểu hiện rõ rệt
là HĐQT họp thường xuyên, thường là đột xuất và căng thẳng. Ranh giới giữa chỉ đạo, xây dựng
và ban hành chủ trương, đường lối và việc thực hiện không rõ ràng, dẫn đến tình trạng “vừa đánh
trống, vừa thổi còi” .
Ban kiểm soát hoạt động “chênh vênh”
Theo quy định, Ban kiểm soát (BKS) là bộ phận độc lập có chức năng giám sát việc tuân thủ các
quy định của pháp luật và điều lệ của TCTD, chịu trách nhiệm trước ĐHCĐ, chủ sở hữu và thành
viên góp vốn. Nhưng ĐHCĐ thì 1 năm mới họp 1 lần, nên hoạt động thường xuyên của BKS
chênh vênh không có sự chỉ đạo. Tại nhiều NH, các giải pháp quản trị rủi ro đã được đưa ra,
nhưng việc áp dụng còn chưa triệt để, nửa vời. Theo TS Nguyễn Trí Hiều thì sự phân chia giữa
quyền sở hữu và quyền kiểm soát của một số NH cũng là một vấn đề.
Tại nhiều NH có những cổ đông sáng lập, cổ đông lớn thường cảm thấy có trách nhiệm với sự
sống còn của NH mình nên thường dành cho mình quyền kiểm soát tuyệt đối, không những trong
vấn đề liên quan đến chiến lược và định hướng mà ngay cả những quyết định quan trọng thuộc
thẩm quyền BĐH. Trên thực tế ở một số NH, BKS thay vì đại diện cho ĐHCĐ lại thường trở
thành đồng minh cho Tổng GĐ và Chủ tịch HĐQT. TS Nguyễn Thị Thanh Hương nói, phải phân
biệt quyền kiểm soát và quyền sở hữu vì chỉ với 1 đồng chủ sở hữu, NH có thể huy động 20 đồng
của xã hội, nên không thể để tình trạng các cổ đông lớn lạm quyền sở hữu để huy động vốn cho
các mục đích của cá nhân mình, rất nguy hiểm.

mất rằng việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực mới là vấn đề phức tạp cần phải tập trung giải
quyết.
- Vấn đề thứ hai phát sinh từ quá trình hội nhập, từ sức ép cạnh tranh thu hút nhân sự có chất
lượng cao từ các NH thương mại nước ngoài. Việc người lao động mong muốn được làm việc
trong một môi trường chuyên nghiệp, năng động, có thu nhập xứng đáng và có cơ hội thăng tiến
là hoàn toàn chính đáng. Chính vì vậy, nhà quản trị phải luôn đối mặt với áp lực thay đổi nhân
sự. Điều này chỉ có thể khắc phục được nếu các NH thương mại Việt Nam thực hiện tốt chức
năng duy trì và phát triển nguồn nhân lực như đã đề cập ở trên.
Có thể thấy, ngoài 4 ngân hàng quốc doanh lớn, hầu hết các ngân hàng cổ phần đều đang chung
mối lo giữ người và đào tạo bổ sung nâng cao năng lực cho nhân viên hiện có.
Qua kinh nghiệm cá nhân cũng như dựa trên các phân tích thị trường lao động hiện nay, bà
Trần Thị Bảo Quế - Giám đốc nhân sự Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) cho rằng, có 5 yếu tố
quan trọng tạo nên môi trường làm việc hấp dẫn.
- Trước hết, đó là chế độ, chính sách đãi ngộ hấp dẫn, khuyến khích được cán bộ nhân
viên gắn bó với doanh nghiệp và công việc.
- Thứ hai, đó là hệ thống công cụ hỗ trợ tác nghiệp chuyên nghiệp, đầy đủ.
- Thứ ba là chính sách phát triển nguồn nhân lực rõ ràng, được triển khai nghiêm túc và
có lộ trình cụ thể.
4
- Tiếp theo đó là môi trường giao tiếp, văn hóa doanh nghiệp bền vững, tạo dựng được
sự gắn kết.
- Và cuối cùng, là làm sao để cán bộ nhân viên có thể chia sẻ về định hướng, tầm nhìn và
trách nhiệm với sự thành công chung.
Những yếu tố được đúc rút này có vẻ nặng tính “lý thuyết”, song trên thực tế đã có không ít
ngân hàng trả giá đắt khi chỉ chú trọng việc câu người bằng lương cao, thưởng hậu mà bỏ qua
các yếu tố tạo nên sự gắn kết và định hướng nghề nghiệp lâu dài cho nhân viên.
Tính dài hay chọn ngắn?
Mỗi ngân hàng có những chính sách phát triển riêng, cũng như việc đãi ngộ và các quy chế nội
bộ khác nhau, đôi khi dẫn đến tâm lý so bì giữa những người muốn nhảy việc để tìm cơ hội tốt
hơn. Đây là “áp lực” không nhỏ buộc các ngân hàng phải tìm ra muôn vàn “chiêu thức” khác

tích tình hình tài chính như các hoạt động lựa chọn hình thức tổ chức doanh nghiệp, đến việc xây dựng
chiến lược kinh doanh.
1. Quản trị tài chính là gì:
Quản trị tài chính là một môn khoa học quản trị nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong
quá trình sản xuất-kinh doanh của một doanh nghiệp hay một tổ chức.
2.Phân loại:
Quản trị doanh nghiệp liên quan đến ba loại quyết định:
- Quyết định đầu tư: quyết định quan trọng nhất vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.Quyết định đầu tư
là quyết định liên quan đến:tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản cần có và môi trường quan
hệ cân đối giữa các bộ phận tài sản trong doanh nghiệp.Cụ thể:
Quyết định đầu tư tài sản lưu động
Quyết định đầu tư tài sản cố định bao gồm mua sắm tài sản cố đinh mới,quyết định thay thế tài sản cố
định cũ, đầu tư dự án và đầu tư tài chính dài hạn
Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và tài sản cố định bao gồm quyết định sử dụng
đòn bẩy hoạt động và quyết định điểm hòa vốn.
- Quyết định tài trợ: nếu như quyết định đầu tư liên quan đến bên trái thì quyết định tài trợ lại liên quan
đến bên phải của bảng cân đối tài sản,nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay, nên dùng vốn ngắn
hạn hay vốn dài hạn.Ngoài ra, quyết định tài trợ còn xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận để lại tái đầu
tư và lợi nhuận được phân chia dưới dạng cổ tức.Một khi lựa chọn tài trợ bằng vốn vay ngắn hạn hay
vốn vay dài hạn hoặc lựa chọn giữa lợi nhuận để lại hay lợi nhuận phân chia phân chia đã được quyết
định thì bước tiếp theo nhà quản trị còn phải quyết định làm thế nào để huy động được các nguồn tài
trợ đó.Cụ thể:
6
+ Quyết định huy động nguồn vốn ngắn hạn
+ Quyết định huy động nguồn vốn dài hạn
- Quyết định chia trả cổ tức: Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận của ngân hàng được đem ra phân
phối như thế naò.Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư hay được chia trả cho các cổ đông
- Quyết định khác: quyết định về phòng ngừa rủi ro,quyết định về giao dịch và dịch vụ
3.Mục tiêu của quản trị tài chính
3.1. Mục tiêu của ngân hàng

việc phân tích tài chính.
- Thực hiện tốt kế hoạch hóa tài chính.
6.Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản trị tài chính:
- Hình thức pháp lý của tổ chức ngân hàng
+ Ngân hàng nhà nước
+ Ngân hàng cổ phần
+ Ngân hàng liên doanh
+ Ngân hàng có vốn nước ngoài
Những đặc điểm riêng về tổ chức cũng ảnh hưởng đến quản trị tài chính như vịêc tổ chức,huy động,
cho vay, sản xuất kinh doanh và phân phối lợi nhuận.
- Môi trường kinh doanh:
+ Sự ổn định của nền kinh tế.
+ ảnh hưởng về giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế.
+ Sự canh tranh trên thị trường và sự tiến bộ kỹ thuật công nghệ.
+ Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước
+ Sự hoạt động của thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian
3 quản trị rủi ro
8
Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản
Do sự lệch pha giữa thời hạn vốn huy động với thời hạn cho vay: Với sự giảm sút
niềm tin vào VND ( do nhiều nguyên nhân khác nhau từ lạm phát, phát giá VND)
thì người dân phần lớn ưu chuộng gửi tiền với các kỳ hạn ngắn, chủ yếu dưới 12
tháng và tập trung phần lớn ở kỳ hạn từ 1 tháng tới 3 tháng. Trong khi đó, các
khoản cho vay thì phần lớn lại có kỳ hạn trên 12 tháng. Với sự lệch pha nêu trên,
chỉ cần NHTW có động thái hút tiền về từ lưu thông về thì các ngân hàng TM có tỷ
lệ cho vay trên tổng huy động cao sẽ gặp khó khăn về thanh khoản và buộc phải
nâng lãi suất huy động. Hiện tại, ở VN số lượng ngân hàng khá lớn, phần lớn các
ngân hàng đều có chi nhánh rộng khắp các tỉnh thành quan trọng trong cả nước, chỉ
cần một ngân hàng khó khăn về thanh khoản, nâng mạnh lãi suất huy động sẽ làm
cho người dân rút tiền từ ngân hàng khác gửi sang ngân hàng này và bắt đầu xuất

khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho NH.
Từ đó, có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng của NHTM như:
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu.
- Tỷ lệ nợ xấu trên quĩ dự phòng tổn thất.
- Nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề) - có khả năng chuyển thành nợ xấu cao.
- Nợ không có tài sản đảm bảo.
Hiện nay, công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân
hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung. Việc đánh giá, thẩm định và quản lý tốt
các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro tín dụng mà ngân
hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng
Do đặc thù mà hoạt động cho vay trong các ngân hàng vẫn là chủ yếu, chiếm từ 70% đến
90% tổng tài sản có và một tỷ lệ tương đương trong tổng thu nhập của hệ thống ngân hàng. Đồng
thời, tỷ lệ nợ xấu mặc dù đã được cải thiện song vẫn ở mức cao và đang có xu hướng tăng lên.
Theo Ngân hàng Nhà nước, tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam là 2,16% vào cuối 2010 và
tăng lên 3,21% vào cuối tháng 8.2011. Những ngân hàng có truyền thống kiểm soát tốt nợ xấu
“bật mí” cho đến tháng 8-2011 nợ xấu của họ đã tăng khoảng 0,5% so với mức cuối năm ngoái.
Một số ngân hàng thừa nhận mức tăng là 1%, thậm chí 1,5 -2%.
VD: tháng 8/2011: tỉ lệ nợ xấu của Agribank 6,67%, Vietcombank 3,92%. của Viettinbank đến
hết 30/6/2011 là 1,71% nhưng con số này đã giảm xuống còn 1.2% tại thời điểm tháng 8/2011
Trong tổng số nợ xấu trên 76 nghìn tỷ đồng tính đến hết tháng 8/2011, nợ nhóm 3 chiếm 30,18%, nhóm 4 chiếm
20,53% và nhóm 5 chiếm trên 49%. Điều đó đồng nghĩa, các tổ chức tín dụng có nguy cơ mất trắng khoảng 37,2
nghìn tỷ đồng.
Ghi chú:
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến
hạn.
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao.
10
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ được đánh giá không có khả
năng thu hồi, mất vốn.

đến không có khả năng trả nợ. Từ đó doanh nghiệp dù có thiện chí trả nợ nhưng vẫn không thể
trả được nợ
-Nguyên nhân thuộc về ngân hàng
Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do nguyên nhân chủ quan như quá trình phân tích và thẩm định
tín dụng không kỹ lưỡng dẫn đến sai lầm trong quyết địnhcho vay. Mặt khác cũng có thể quyết
định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử
dụng vốn vay không đúng mục đích nhưng ngân hàng vẫn không phát hiện để ngăn chặn kịp
thời. Ngân hàng quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm
bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay ; chạy theo số lượng (hoặc theo kếhoạch) mà
sao lãng việc coi trọng chất lượng khoản vay, quá lạc quan và tin tưởngvào sự thành công
của phương án kinh doanh của khách hàng. Ngân hàng không giải quyết hợp lý quan hệ giữa
11
nguồn vốn huy động và nguồn vốn sử dụng, cụ thể là: dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo đảm
thanh toán, từ đó dẫn đến mất khả năng thanh toán nếu khách hàng có nhu cầu rút vốn
nhiều; hoặc dự trữ vốn quá nhiều, gây ứ đọng vốn, lãng phí trong sử dụng vốn; hoặc lấy
vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn quá mức quy định. Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng
chưa thực sự lành mạnh, việc chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện trong
cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay
b , T á c đ ộ n g c ủ a r ủ i r o t í n d ụ n g
-Đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và các cá nhân, vì
vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gởi tiền ở các ngân
hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho
toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình
sản suất kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân
gặp khó khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền
kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã
hội mất ổn định. Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày
nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
-Đối với ngân hàng

*Rủi ro ngoại hối
Rủi ro về ngoại hối phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại
hối nắm giữ, qua đó có thể làm cho ngân hàng phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến
động
Có hai bộ phận cấu thành rủi ro ngoại hối đó là mua bán ngoại hối và hoạt động trên tài sản có và
tài sản nợ bằng ngoại tệ.
Hoạt động mua bán ngoại hối của ngân hàng
Bao gồm:
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán hợp đồng ngoại thương;
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm mục đích thực hiện đầu tư
nước ngoài trực tiếp hay gián tiếp;
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại
hối của đồng tiền có thể giảm rủi ro ngoại hối;
- Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính sự biến động của tỷ giá.
13
Hai hoạt động đầu tiên, ngân hàng thường thực hiện cho khách hàng để thu phí, và do đó, rủi ro
ngoại hối ngân hàng không phải gánh chịu. Hoạt động thứ ba, ngân hàng tiến hành nghiệp vụ
phòng ngừa rủi ro ngoại hối, tức là nhằm giảm rủi ro ngoại hối. Như vậy, rủi ro ngoại hối thực
chất chỉ liên quan đến trạng thái ngoại hối mở (open position) đối với những hoạt động mua bán
mang tính đầu cơ (unhedged position) tức là hoạt động thứ tư.
Trạng thái ngoại hối mở thường được thực hiện trong các giao dịch giữa các ngân hàng với nhau
trên thị trường ngoại hối và đặc biệt là đối với những ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư
lớn là những ngân hàng tạo thị trường bằng cách niêm yết tỷ giá mua bán hai chiều “Bid – Ask”
đối với ngoại tệ giao dịch.
Khía cạnh thứ hai của rủi ro ngoại hối mà các ngân hàng phải chịu là sự không cân xứng giữa tài
sản có và tài sản nợ đối với từng loại ngoại tệ. Tài sản có bằng ngoại tệ là các khoản mục trên
bảng tổng kết tài sản, như : các khoản cho vay bằng ngoại tệ; các chứng khoán bằng ngoại tệ;
tiền gửi bằng ngoại tệ ở ngân hàng khác; tiền mặt bằng ngoại tệ,… Tài sản nợ bằng ngoại tệ là
các khoản mục trên bảng tổng kết tài sản, như: phát hành các chứng chỉ tiền gửi bằng ngoại tệ;
phát hành trái phiếu; và các hình thức huy động vốn khác bằng ngoại tệ. Do tính chất toàn cầu

với các NH là rất lớn, vì vậy, bản thân mỗi NH phải tự mình đưa ra các biện pháp thích hợp để
phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động ngoại hối của mình
Ở các nước, vai trò của quản trị nội bộ ngân hàng được đánh giá rất cao vì ngân hàng là một
ngành kinh doanh nhạy cảm và thường xuyên đối mặt nhiều rủi ro, đặc biệt vấn đề đảm bảo khả
năng thanh toán và chất lượng dịch vụ cung cấp. Ở Việt Nam, quản trị nội bộ đã được quan tâm
nhiều hơn trong thời gian gần đây. Song những biến động bất thường thời gian qua đã khiến các
nhà ngân hàng chú trọng hơn đến quản trị nội bộ.
Song cái khó trong quản trị nội bộ ngân hàng không chỉ nằm ở nguồn nhân lực mà còn ở yếu tố
công nghệ. Bởi nếu không có công nghệ thông tin thì hầu như các thông tin mà DN quản trị là
rời rạc và không kịp thời. Nhờ công nghệ thông tin, ngân hàng quản lí được các thông tin quan
hệ trong nội bộ và hoạt động tác nghiệp đang xảy ra trong ngân hàng và có được các thông tin hỗ
trợ cho quản lý và điều hành. Tuy nhiên, để có một hệ thống công nghệ thông tin như vậy không
phải NHTM nào cũng có đủ tiềm lực tài chính để đầu tư.
3. Định hướng giải pháp
Thứ nhất, QTNH - cần một bộ luật hoàn chỉnh.
Hội nhập quốc tế đã mở ra cơ hội để ngành ngân hàng trao đổi hợp tác, tiếp cận các luồng vốn và
trợ giúp kỹ thuật quốc tế cho ngân hàng Việt Nam, góp phần làm cho quản trị của hệ thống ngân
hàng Việt Nam phù hợp hơn với trình độ và chuẩn mực quốc tế. Song QTNH cần đứng trên giác
độ tổng thể từ quản trị mục tiêu - chiến lược đến tổ chức - hoạt động và đặc biệt là quản trị rủi ro
mới mang lại sự an toàn cho NHTM. Để tạo một sự thay đổi có tính chiến lược về QTNH, một
bộ Luật rành rẽ thay cho Nghị định là cần thiết.
15
Thứ hai, cơ cấu lại mô hình tổ chức của ngân hàng
Mô hình tổ chức của một số NHTM hiện nay thích hợp trong điều kiện hoạt động với qui mô
nhỏ, mức độ tập trung quyền lực cao. Khi một NHTM có qui mô ngày càng lớn với số lượng chi
nhánh ngày càng nhiều, khối lượng và tính chất công việc ngày một phức tạp hơn thì mô hình tổ
chức như vậy sẽ bộc lộ những hạn chế, nhất là trong việc tổ chức và bố trí các phòng nghiệp vụ
cả ở cấp trung ương và chi nhánh hiện đang phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ, chưa chú
trọng quản lý theo thị trường và đối tượng phục vụ. Rõ ràng, với áp lực cạnh tranh, yêu cầu
chuẩn hoá hoạt động tổ chức theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả đang là đòi hỏi đối với cả các ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status