Vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học Vật lý 10 THPT - Pdf 13

MỤC LỤC Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
Phần 1: Cơ sở lí luận 3
Phần 2: Thực trạng của đề tài 4
Phần 3: Các giải pháp và hình thức tổ chức thực hiện 4
3.1. Các giải pháp thực hiện 4
3.2. Các hình thức tổ chức thực hiện 5
3.3. Hệ thống các bài tập định tính và câu hỏi thực tế dùng
cho các bài giảng vật lí trong chương trình vật lí phổ thông.
6
Phần 4: Kiểm nghiệm 19
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn vật lí trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng
trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn
học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh
những tri thức, hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học, giờ
thực hành của vật lí. Học vật lí là để hiểu, để giải thích được các vấn đề của
1
tự nhiên và cuộc sống thông qua việc tìm hiểu các thuyết, các định luật chi
phối các quy luật của tự nhiên. Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy
tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người. Vật lí
góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống, tinh
thần của con người
Để đạt được mục đích của học vật lí trong trường phổ thông thì giáo

triển như vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành
giáo dục vô cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học
sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống,
vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính giáo dưỡng nhưng cao hơn là giáo
dưỡng hướng thiện khoa học.
1.1. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp:
Khi dạy kiến thức vật lí trong bất kì lĩnh vực nào: chuyển động cơ học,
các lực cơ học, công cơ học, năng lượng… đều liên quan đến các hiện tượng
vật lí hay nhiều hiện tượng thiên nhiên nên khi sử dụng những câu hỏi mở
rộng theo hướng tích hợp làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng
thời thấy được mối liên quan giữa các môn học với nhau.
Ví dụ: Tại sao càng lên cao không khí càng loãng?
Trả lời: Do phân tử khối của O
2
lớn nên ảnh hưởng của lực hút mạnh
hơn nên tập trung chủ yếu ở dưới gần mặt đất.
1.2. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các
nội dung học với thực tiễn.
Học sinh sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy và
học giáo viên luôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với
thực tiễn đời sống hằng ngày.
Ví dụ: Tại sao viên bi thép lại có thể nảy lên khi rơi xuống sàn lót gạch
nhưng lại nằm yên khi rơi xuống cát ?
Trả lời: Va chạm giữa hòn bi với sàn nhà mang đặc tính biến dạng đàn
hồi nên sinh ra lực đàn hồi và làm cho viên bi nảy lên. Còn va chạm giữa
viên bi và lớp cát là va chạm mềm mang đặc tính biến dạng không đàn hồi
nên không có lực đàn hồi xuất hiện và viên bi không thể nảy lên được.
1.3. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống
giả định bằng các hiện tượng thực tiễn.
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học, tôi đã thấy rằng: “Vận dụng bài
tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí 10 - THPT” sẽ tạo hứng
thú, khơi dậy niềm đam mê; học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn
trong học vật lí. Để thực hiện được, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài
giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề
thực tế liên quan phù hợp với từng học sinh ở thành thị, nông thôn …; đôi lúc
cần quan tâm đến tính cách sở thích của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án
theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, phải mang tính hợp
lý và hài hoà; đôi lúc có khôi hài nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục
đích học môn vật lí. Tuy nhiên, thời gian giành cho vấn đề này là không
nhiều, “nó như thứ gia vị trong đời sống không thể thay cho thức ăn nhưng
thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn uống”.
3.1. Các giải pháp thực hiện:
“Vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí 10 -
THPT” bằng cách:
3.1.1. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau khi đã
kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào
những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc
bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện
tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo.
3.1.2. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua các
kiến thức cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập
nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên
4
có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học sinh. Mặc dù vấn đề được giải
thích có tính chất rất phổ thông.
3.1.3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho
lời giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất
ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà
hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh

Câu 1: Quan sát một bánh xe đạp đang lăn trên đường ta thấy các nan hoa
ở phía trên trục đang quay như hòa vào nhau, trong khi đó ta lại phân biệt
được từng nan hoa ở phần dưới của trục bánh xe. Hãy giải thích?
Giải thích: Vì vận tốc so với đất của những điểm bên dưới trục quay
nhỏ hơn vận tốc những điểm bên trên trục quay.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để đặt vấn đề vào bài.
Câu 2: Để các tia nước từ cái bánh xe đạp không thể bắn vào người đi xe,
phía trên bánh xe người ta gắn những cái chắn bùn. Khi đó phải gắn
những cái chắn bùn như thế nào?
Giải thích: Phải gắn những cài chắn bùn sao cho mép dưới cắt đường
tiếp tuyến đi qua điểm thấp nhất của bàn đạp với mép trước của bánh xe.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần học về đặc điểm của vận
tốc trong chuyển động tròn đều.
Tính tương đối của chuyển động. Công thức cộng vận tốc
(Tiết 10VL10CB – tiết 12VL10NC)
Câu 1: Tại sao ngồi trên xe chạy nhanh ta thường thấy gió thổi vào mặt
ngay cả khi trời lặng gió?
Giải thích: Khi đi xe đạp lúc trời lặng gió hay gió nhẹ bao giờ ta cũng
thấy gió thổi vào trước mặt. Xe chạy càng nhanh gió thổi vào mặt càng mạnh.
Nếu ngồi trên xe ô tô hoặc xe máy đang phóng nhanh, gió thổi vào mặt rất dữ
dội. Hiện tượng này có thể dễ giải thích bằng tính tương đối của chuyển động.
Theo tính chất này, nếu ta chuyển động với vận tốc
v
r
trong một lớp
không khí đứng yên thì cũng có thể coi ta đứng yên và lớp không khí đó
chuyển động với vận tốc
v
r
theo chiều ngược lại nghĩa là có gió thổi vào ta

mn mñ nñ
v v v= + −
uur uur uur
. Phép cộng véc
tơ cho thấy với người giọt mưa rơi theo phương xiên.
6

đất

v
uur

v−
uuuur

v
uur
mn
v
uur
Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp trong thực tế nên sau khi học
song phần công thức cộng vận tốc giáo viên có thể sử dụng để củng cố thêm
cho học sinh.
Câu 3: Tại sao chạy lấy đà trước ta lại nhảy được xa hơn là đứng tại chỗ
nhảy ngay?
Giải thích: Trong trường hợp này chuyển động do quán tính được cộng
thêm vào chuyển đông xuất hiện do việc đẩy người rời khỏi mặt đất.
Áp dụng: Củng cố cho phần công thức cộng vận tốc hoặc có thể dùng
để củng cố cho phần định luật I Niutơn
Ba định luật Niuton

Do đó dao khó ăn sâu vào tre.
Nếu ta kê thanh tre đó trên một khúc gỗ lớn thì khi dao chặt khối gỗ
chưa kịp chuyển động( vì khối lượng khúc gỗ lớn và lại tì vào đất), thanh tre
đã bị đứt rồi.
Áp dụng: Dùng cho phần tổng kết bài, sau khi học sinh đã có những
kiến thức về các định luật Niuton.
Câu 4: Tại sao diễn viên xiếc ngồi trên yên ngựa đang phi nhanh, nhảy lên
cao khi rơi xuống lại vẫn đúng vào yên ngựa?
Giải thích: Diễn viên xiếc khi rời khỏi yên ngựa vẫn tiếp tục chuyển
động theo quán tính với vận tốc ban đầu bằng vận tốc của ngựa, vì vậy mà
vẫn rơi đúng vào yên ngựa.
Áp dụng: Những màn biểu diễn như trên hầu như chúng ta đều thấy
xuất hiện trong các chương trình biểu diễn xiếc nhưng ít người trong chúng ta
giải thích được một cách thỏa đáng, giáo viên có thể nêu vấn đề này khi học
xong phần quán tính. Tương tự như vậy giáo viên cũng yêu cầu học sinh giải
thích: tại sao khi người nhảy lên vẫn rơi đúng chỗ cũ mặc dù Trái Đất đang
quay?
Câu 5: Vì sao xe đạp dễ phanh hơn xe máy, ô tô và tàu hỏa?
Giải thích: Chúng ta biết rằng việc một vật đang chuyển động muốn
dừng lại thì cần phải có thời gian: Vật có vận tốc lớn và khối lượng lớn thì
cần phải có thời gian dài. Vì xe máy, ô tô, tàu hỏa có vận tốc lớn và nhất là
khối lương lớn gấp nhiều lần xe đạp nên việc phanh nó sẽ rất khó khăn.
Áp dụng: Hiện nay khi nghiên cứu về tai nạn giao thông người ta thấy
có sự liên hệ nhiều đến quán tính. Chẳng hạn nhiều bạn học sinh đi xe đạp,
khi rẽ thường không nhìn xem có xe đằng sau vượt mình hay không, nếu rẽ
trước một mũi xe máy, ô tô hay tàu hỏa đang lao tới thì rất dễ xảy ra tai nạn,
vì xe máy, ôtô và đặc biệt là tàu hỏa đang chạy có quán tính lớn, không thể
dừng lại tức thì để tránh học sinh đó được. Biện pháp phòng tránh: Trước khi
rẽ, phải xin đường và quan sát thật cẩn thận phía sau. Các xe phóng nhanh,
vượt ẩu, lạng lách trên đường đều rất nguy hiểm vì chúng có đà rất mạnh, khi

Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần củng cố sau bài học,
thông qua câu hỏi học sinh hiểu rõ hơn về chuyển động của Trái Đất, Mặt
Trăng.
Lực ma sát
(Tiết 21 VL10CB – tiết 26 VL 10NC)
Câu 1: Trong bóng đá khi một hậu vệ muốn cản phá tiền đạo đối phương
đang mở tốc độ xuống bóng rất nhanh thì thường dùng vai chèn vào người
tiền đạo và lấy sức nâng người ấy lên. Giải thích xem cách làm ấy có hiệu
quả hay không ?
Giải thích: Khi nâng cơ thể tiền đạo đối phương lên, người hậu vệ đã
làm giảm bớt lực tác dụng giữa hai chân đối phương với mặt đất, tức là giảm
lực ma sát nghỉ đóng vai trò lực tăng tốc của đối phương. Do đó, sự gia tăng
tốc độ của tiền đạo đối phương bị chậm lại.
Áp dụng: Đây là hiện thường thấy trong các trận đấu bóng đá trên ti vi
cũng như ngoài đời mà các bạn học sinh là những người trực tiếp tham gia
nhưng có thể chúng ta chưa có một lí giải thỏa đáng. Giáo viên có thể sử dụng
cho phần củng cố về tác dụng của ma sát nghỉ.
Câu 2: Vì sao trong các cuộc đua maratông hay đua xe đạp ta thường thấy
có một số vận động viên thường bám sát sau đối thủ của mình, chỉ khi gần
tới đích họ mới cố vượt lên phía trước ?
9
Giải thích: Mục đích là làm giảm sức cản của không khí
Áp dụng: Giáo viên sử dụng vào phần củng cố sau bài học.
Câu 3: Việc bôi dầu lên các bề mặt làm việc của các chi tiết máy có tác
dụng làm giảm ma sát. Nhưng tại sao khi bổ củi, việc giữ cán rìu bằng tay
khô lại khó hơn khi tay ướt. Hãy giải thích?
Giải thích: Khi gỗ bị dính ướt, những thớ gỗ nhỏ trên bề mặt nở ra và
phồng lên, ma sát giữa cán rìu và tay tăng lên. Vì vậy ở đây nước không đóng
vai trò là dầu bôi trơn mà cho phép làm thay đổi hệ số ma sát giữa tay và cán
rìu.

thiểu tai nạn giao thông. Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi cho phần củng cố
sau bài học.
Câu 2: Tại sao khi làm các cây cầu người ta thường làm cầu vồng lên?
10
Giải thích: Khi xe cộ đi qua cầu thì nó sẽ chuyển động cong, lúc đó
hợp lực của hai lực là trọng lực
P
ur
và phản lực
N
ur
của mặt đường tác dụng lên
xe sẽ đóng vai trò là lực hướng tâm:
mv mv
P N N P
r r
− = → = −
2 2
. Điều này dẫn
tới là áp lực của xe cầu nhỏ hơn trọng lượng của xe.
Áp dụng: Hiện nay trong hệ thống giao thông đường bộ thì các cây cầu
xuất hiện càng nhiều, việc hiểu được phần nào cấu tạo của nó cũng giúp cho
học sinh có ý thức hơn trong việc bảo vệ các công trình giao thông. Giáo viên
sử dụng câu hỏi cho phần lực hướng tâm.
Các dạng cân bằng. Cân bằng của vật có mặt chân đế
(Tiết 31 VL10CB )
Câu 1: Tại sao những công nhân khi vác những bao hàng nặng họ thường
chúi người về phía trước một chút ?
Giải thích: Mục đích của việc công nhân chúi người về phía trước là để
trọng tâm của bao hàng rơi vào mặt chân đế.

Giải thích: Khi gập khuỷu tay, “cánh tay đòn” thu lại ngắn hơn nên có
thể giữ được với lực lớn hơn.
Áp dụng: Đây là vấn đề thường ngày chúng ta hay áp dụng trong công
việc như là một bản năng. Tuy nhiên không mấy người giải thích được. Giáo
viên có thể dùng để đặt vấn đề vào bài.
Câu 2: Khi đi xe đạp hay xe máy cần phanh gấp người lái luôn chủ động
phanh bánh sau của xe mà ít dùng phanh trước. Làm như vậy có lợi gì?
Giải thích: Nếu phanh ở bánh trước, theo quán tính sẽ xuất hiện
momen lực làm lật xe rất nguy hiểm.
Áp dụng: Thông qua câu hỏi giáo viên giáo dục học sinh khi tham gia
giao thông cần đi xe với tốc độ vừa phải để còn làm chủ được tình huống
tránh gây hậu quả đáng tiếc và nếu có gặp tình huống bất ngờ thì biết cách xử
lí sao cho an toàn. Giáo viên sử dụng sau khi học song phần mômen.
Định luật bảo toàn động lượng
(Tiết 37,38 VL10CB-tiết 45 VL10NC)
Câu 1: "Không thể tự nắm tóc mình mà nhấc mình lên được". Câu nói đó
có cơ sở khoa học không?
Giải thích: Theo định luật bảo toàn động lượng thì nội lực chỉ làm cho
các vật riêng biệt trong hệ trao đổi xung lượng cho nhau mà không gây gia tốc
chuyển động cho hệ nên câu nói trên là hoàn toàn có cơ sở khoa học.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng cho phần đặt vấn đề vào bài mới.
Câu 2: Một người lái đò đang đứng ở mũi thuyền. Thuyền đậu sát bờ trên
mặt nước yên lặng. Khi thấy có khách đi đò người lái đò đã đi từ mũi
thuyền để đón khách. Hỏi người lái thuyền có đón được khách không? Tại
sao?
Giải thích: Người lái thuyền không đón được khách. Vì khi dịch
chuyển từ mũi đên lái, người ấy đã vô tình làm thuyền dịch chuyển theo
hướng ngược lại tức là làm cho rời khỏi bờ.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho việc củng cố phần định luật bảo toàn
động lượng.

nước rồi mới bỏ đá lạnh vào. Vì sao không bỏ đá lạnh vào trước rồi đường
bỏ sau?
Giải thích: Nhiệt độ càng cao, các phân tử chuyển động càng nhanh
nên dễ hòa tan hơn. Nếu bỏ đá vào trước, nhiệt độ của nước hạ thấp làm quá
trình hòa tan của đường diễn ra chậm hơn.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần cấu tạo chất.
Câu 2: Việc tách hai tấm ván gỗ úp lên nhau dễ hơn nhiều so với việc tách
hai tấm kính chồng lên nhau. Tại sao vậy?
Giải thích: Hai tấm kính đặt úp lên nhau có lực liên kết giữa các phân
tử mạnh hơn do chúng có bề mặt nhẵn, các phân tử ở hai tấm kính ở rất gần
nhau đến mức nó có thể hút nhau. Điều này không xảy ra với hai tấm gỗ.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để dạy phần lực tương tác phân tử.
Câu 3: Khi muốn nối hai thanh thép với nhau, người thợ rèn thường làm
như sau: Nung cho hai thanh thép đến khoảng 900
o
C sau đó đặt thanh nọ
gối lên thanh kia rồi lấy búa đập mạnh. Hãy giải thích cách làm trên?
Giải thích: Làm như vậy các phân tử hai thanh thép xen vào nhau làm
xuất hiện lực liên kết phân tử giúp chúng dính lại nhau.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để củng cố cho phần lực tương tác phân tử
Quá trình đẳng nhiệt
(Tiết 48 VL10CB-tiết 63 VL10NC)
13
Câu hỏi: Tại sao khi ta dùng phễu rót chất lỏng vào chai, lúc đầu thấy dễ
vào nhưng càng về sau càng khó khăn nếu như ta không nâng phễu lên?
Giải thích: Cuống phễu ép sát cổ chai, chất lỏng đổ vào phễu liên tục
vô tình trở thành cái nút nhốt chặt không khí trong chai. Khi chất lỏng chảy
vào chai, không khí bị dần chiếm chỗ, thể tích khí giảm làm áp suất trong
luôn bằng áp suất khí quyển, nước sẽ chảy vào chai khó hơn.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho việc đặt vấn đề vào bài mới.

Câu 2: Tại sao các vật nóng khi bỏ vào nước sẽ nguội nhanh hơn khi bỏ
ngoài không khí?
Giải thích: Do nhiệt dung riêng của nước lớn hơn của không khí, nên
trong cùng một khoảng thời gian nước thu nhiệt nhiều hơn.
14
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần truyền nhiệt để làm rõ quá trình
truyền nhiệt.
Các nguyên lí của nhiệt động lực học
(Tiết 55,56 VL10CB-tiết 82,83,84,85 Vl10NC)
Câu 1: Tại sao khi dùng bơm tay để bơm xe đạp, thân chiếc bơm lại bị
nóng lên và nó nóng lên càng nhanh khi lốp xe đã gần căng hơi?
Giải thích: Công đã biến thành nội năng làm nóng thân bơm. Khi lốp
xe đã căng, phần lớn công biến thành nội năng nên thân bơm sẽ nóng lên
nhanh chóng.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần nguyên lí I NĐLH để học sinh
thấy được ứng dụng của nó.
Câu 2: Tại sao buồng đốt của một nồi hơi trong động cơ nhiệt lại không
nóng chảy, mặc dù trong buồng đốt có lúc nhiên liệu cháy ở nhiệt độ cao
hơn so với nhiệt độ nóng chảy của kim loại dùng để chế tạo nó ?
Giải thích: Các thành bên ngoài của buồng đốt được làm lạnh bằng
nước, nên nhiệt độ của chúng không cao hơn nhiệt độ trong nồi hơi nhiều lắm.
Áp dụng: Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh biết về hoạt động của
động cơ nhiệt và thông qua đó giáo viên phân tích cho học sinh vấn đề ô
nhiễm môi trường do sử dụng động cơ nhiệt.
Định luật Béc-nu-li
(Tiết 59,60 VL10NC)
Câu 1: Để nước từ trong ống có thể phun ra xa hơn người ta thường bịt
một đầu ống chỉ để một lỗ nhỏ cho nước phun ra. Hãy giải thích ?
Giải thích: Giảm tiết diện để tăng vận tốc.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần: Lưu lượng chất lỏng.

Câu 3: Tại sao cốc thủy tinh dày thường dễ nứt vỡ hơn so với cốc thủy tinh
có thành mỏng nếu đổ nước sôi vào cốc ?
Giải thích: Khi đổ nước sôi vào cốc, do tính dẫn nhiệt kém của thủy
tinh, lớp bên trong giãn nở nhiều hơn lớp bên ngoài, lớp ngoài trở thành “vật
cản trở”của lớp trong, kết quả là tạo ra một lực lớn, chính lực này làm nứt
cốc.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng sau khi học xong phần sự nở vì
nhiệt.
Câu 4: Tại sao khi nóng hay lạnh bêtông vẫn luôn bám chặt vào cốt thép
bên trong ?
Giải thích: Vì bê tông và cốt thép có độ dãn nở vì nhiệt như nhau.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để củng cố bài học để nói lên ý
nghĩa của hệ số nở khối của các vật liệu.
Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng
(Tiết 60,61 VL10CB – tiết 73,74 VL10NC )
Câu 1: Người ta thường dùng một loại dầu bóng đặc biệt đánh bóng sườn
xe máy, xe ôtô. Ngoài việc làm cho nước sơn của sườn xe bóng dẹp, nó còn
có tác dụng nào khác không ?
Giải thích: Làm nước mưa không dính ướt sườn xe lâu bị gỉ sét.
Áp dụng: Sử dụng củng cố thêm về phần ứng dụng của hiện tượng dính
ướt và không dính ướt.
Câu 2: Trong nông nghiệp, nông dân thường dùng thuật ngữ “tưới khô”
để nói đến công việc thường xuyên xới đất giữa những hàng cây mới trồng,
làm mất lớp đất cứng trên mặt đi. “Tưới khô” có tác dụng gì?
Giải thích: Đất chưa cày xới có nhiều lỗ nhỏ ( như ống mao dẫn) làm
cho nước ở dưới bị “hút lên” và bay hơi và đất sẽ bị khô đi. Việc cày xới làm
mất các “ống mao dẫn” này đi, giữ nước lại trong đất để nuôi cây.
16
Áp dụng: Đây là hiện tượng gắn liền với người nông dân, giáo viên có
thể dùng câu hỏi này vào phần hiện tượng mao dẫn để học sinh biết thêm về

Độ ẩm của không khí + Sự hóa hơi và ngưng tụ
(Tiết 65 VL10CB và tiết 76,77 VL10NC )
Câu 1: Buổi sáng sớm ta thường thấy nhiều sương, nhưng những ngày trời
nóng nực thì buổi sáng hôm sau sẽ có nhiều sương hơn. Vì sao vậy?
Những đêm trời đầy mây, sáng hôm sau có nhiều sương không? Tại sao?
Giải thích: Trong những ngày nóng hơi nước bay lên từ mặt sông, hồ,
… nhiều hơn, độ ẩm tuyệt đối tăng lên.
Sương được tạo thành khi mặt đất bị lạnh đi do sự bức xạ nhiệt. Nếu
không có mây thì sự bức xạ nhiệt dễ dàng và sương sẽ có nhiều. Còn nếu có
17
nhiều mây thì chúng sẽ ngăn cản bức xạ nhiệt của mặt đất nên việc tạo thành
sương sẽ khó thực hiện.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi cho phần củng cố bài học
Câu 2: Về mùa thu, sau khi mặt trời mọc, sương mù vẫn còn phủ trên mặt
sông khá lâu. Vì sao vậy?
Giải thích: Vì độ ẩm tuyệt đối trên mặt sông bao giờ cũng lớn hơn độ
ẩm tuyệt đối trên mặt đất.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để dạy phần ảnh ảnh hưởng của độ ẩm
không khí.
Câu 3: Tại sao về mùa đông, trong những căn phòng có nhiều người
những tấm kính cửa sổ thường mờ đi và đọng những giọt nước trên đó ?
Giải thích: Nhiều người ở trong phòng, không khí trong phòng có
nhiều hơi nước, độ ẩm cao. Nếu hơi nước đến gần bão hòa thì chỉ cần nhiệt độ
của cửa kính hạ xuống một chút cũng sẽ làm cho hơi nước ngưng tụ lại, đây là
nguyên nhân làm cho kính mờ đi và có thể đọng những giọt nước trên đó.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi để củng cố cho phần điểm sương.
Câu 4: Lấy một lon nước ngọt từ trong tủ lạnh ra một phòng ấm hơn, thấy
những giọt nước lấm tấm ở ngoài thành lon, để một lúc những giọt lấm
tấm này biến mất. Hãy giải thích?
Giải thích: Hơi nước có sẵn trong không khí, gặp thành lon nước đang

Lớp Mức độ
Kết quả
Giỏi Khá
Trung
bình
Yếu-Kém
10A9
Thường xuyên
áp dụng
04
(16,0%)
15
(60,0%)
05
(20,0%)
01
(4%)
10A2 Có áp dụng
06
(14,6%)
20
(48,78%)
14
(34,14%)
01
(2,48%)
10A1 Ít áp dụng
01
(2,3%)
10

tập chuyên môn - nghiệp vụ.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 30 tháng 04 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác
Người viết sáng kiến
Đỗ Văn Hải
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[ ]
1
. Vũ Thanh Khiết – Nguyễn Thanh Hải ( 2002), Bài tập định tính và câu
hỏi thực tế vật lí 10, NXB Giáo Dục.
[ ]
2
. Vũ Thanh Khiết – Nguyễn Thanh Hải ( 2002), Bài tập định tính và câu
hỏi thực tế vật lí 11, NXB Giáo Dục.
[ ]
3
. David Halliday – Robert Resnick – Jearl Waalker, Cơ Sở Vật Lí ( tập 1 –
cơ học – I ), NXB Giáo Dục.
[ ]
4
. Các bài báo vật lí tuổi trẻ.
[ ]
5
. Các tài liệu trên mạng internet.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status