SKKN Vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học Vật lý 10 THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"VẬN DỤNG BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH VÀ CÂU HỎI THỰC TẾ
TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 10 THPT"
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn vật lí trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc hình
thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn học là giúp cho học sinh hiểu
đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế giới, con
người thông qua các bài học, giờ thực hành của vật lí. Học vật lí là để hiểu, để giải
thích được các vấn đề của tự nhiên và cuộc sống thông qua việc tìm hiểu các thuyết, các
định luật chi phối các quy luật của tự nhiên. Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy
tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người. Vật lí góp phần
giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người
Để đạt được mục đích của học vật lí trong trường phổ thông thì giáo viên dạy vật lí là
nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy, ngoài những hiểu biết về vật lí, người
giáo viên dạy vật lí còn phải có phương pháp truyền đạt thu hút gây hứng thú khi lĩnh hội
kiến thức vật lí của học sinh. Đó là vấn đề cần quan tâm và nghiên cứu nghiêm túc. Chính
vì vậy trong sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) này, tôi có đề cập đến một khía cạnh “Vận
dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí 10 - THPT”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng một hệ thống các bài tập định tính và hiện tượng vật lí thực tiễn có thể vận
dụng vào bài giảng trong chương trình vật lí 10 THPT.
Vận dụng hệ thống các bài tập định tính và hiện tượng thực tiễn ở trên vào bài giảng
nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh. Để vật lí không
còn mang tính đặc thù khó hiểu như một “thuật ngữ khoa học”.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học bộ môn vật lí tại các lớp: 10A1; 10A2; 10A9 của trường THPT
Bá Thước.

luôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hằng
ngày.
Ví dụ: Tại sao viên bi thép lại có thể nảy lên khi rơi xuống sàn lót gạch nhưng lại
nằm yên khi rơi xuống cát ?
Trả lời: Va chạm giữa hòn bi với sàn nhà mang đặc tính biến dạng đàn hồi nên sinh
ra lực đàn hồi và làm cho viên bi nảy lên. Còn va chạm giữa viên bi và lớp cát là va
3
chạm mềm mang đặc tính biến dạng không đàn hồi nên không có lực đàn hồi xuất hiện
và viên bi không thể nảy lên được.
1.3. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống
giả định bằng các hiện tượng thực tiễn.
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm cho học sinh
nhàm chán. Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép vào nhau, trong đó
hình thức đưa ra các tình huống giả định để học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ
động sáng tạo cho học sinh, vừa tạo môi trường thoải mái để các em trao đổi từ đó giúp
học sinh thêm yêu thích môn học hơn.
Phần 2. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
Trước tình hình học vật lí phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự là yếu tố
quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến
bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường, về tư tưởng vừa mang bản sắc
dân tộc mà không mất đi tính cộng đồng trên toàn thế giới, những vấn đề cũ nhưng không
cũ mà vẫn có tính chất cập nhật và mới mẽ, đảm bảo: tính khoa học – hiện đại, cơ bản;
tính thực tiễn và giáo dục kỹ thuật tổng hợp; tính hệ thống sư phạm.
Tuy nhiên mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội tụ tất cả những quan điểm nêu
trên, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đừng quá lạm dụng khi lượng kiến thức không đồng
nhất .
* Thực tế giảng dạy cho thấy:
Môn vật lí trong trường phổ thông là một trong những môn học khó, nếu không có những
bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ
động trong việc tiếp thu, cảm nhận. Đã có hiện tượng một số bộ phận học sinh không

3.1.3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới thiệu
bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi
rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo
sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.
3.1.4. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua các bài tập
tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh hội
được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được bài toán vật lí đó học sinh phải
hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết
như thế nào?
3.1.5. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ với nội
dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật. Làm cho học sinh không có
cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập theo tính đặc thù của bộ môn
thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực tiễn hàng ngày.
3.2. Các hình thức tổ chức thực hiện:
5
3.2.1. Đặt tình huống vào bài mới: Tiết dạy có gây được sự chú ý của học sinh hay
không là nhờ vào người hướng dẫn. Trong đó phần mở đầu là rất quan trọng, nếu ta biết
đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc giả định rồi yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải
thích.
3.2.2. Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy: Vấn đề môi trường luôn được
nhắc đến hằng ngày như: khói bụi của nhà, nước thải của sinh hoạt, ô nhiễm phóng xạ,…
có liên quan gì đến sự thay đổi của thời tiết hay không. Tùy vào thực trạng của từng địa
phương mà ta lấy ví dụ sao cho gần gũi.
3.2.3. Liên hệ thực tế trong bài dạy: Khi học xong vấn đề gì mà học sinh thấy được ứng
dụng trong thực tiễn thì sẽ chú ý hơn, chủ động tư duy để tìm hiểu. Do đó trong mỗi bài
học giáo viên nên đưa ra được một vài ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của
học sinh hơn.
3.3. HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH VÀ CÂU HỎI THỰC TẾ DÙNG
CHO CÁC BÀI GIẢNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 10 THPT
Chuyển động tròn đều

theo
chiều ngược lại nghĩa là có gió thổi vào ta với vận tốc -
v
r
.
Dựa vào tính chất này muốn nghiên cứu được lực cản của không khí vào máy bay, các
phòng thí nghiệm về máy bay đã đặt mẫu máy bay hoặc máy bay thật trong một đường
ống và thổi một luồng gió mạnh vào phía trước máy bay với vận tốc bằng vận tốc máy
bay trong không khí.
Áp dụng: Giáo viên có thể dùng cho phần đặt vấn đề vào bài mới.
Câu 2: Đi xe máy trong mưa, ta thường có cảm giác các giọt mưa rơi nghiêng ( hắt
vào mặt chúng ta) ngay cả khi trời lặng gió. Lẽ ra khi lặng gió, các giọt nước mưa sẽ
rơi thẳng đứng và không thể hắt vào mặt ta được. Hãy giải thích điều dường như vô lí
đó?
Giải thích: Khi không có gió, những giọt nước mưa rơi theo phương thẳng đứng so với
đất, nhưng lại rơi theo phương xiên với người lái xe máy. Gọi
mñ nñ
v ,v
uur uur
là vận tốc của giọt
mưa và của người so với đất.
mn
v
uur
là vận tốc của giọt mưa so với người đi xe:
mn mñ ñn
v v v= +
uur uur uur
hay
( )

đông khách, lại thấy êm hơn kể cả khi đi qua những chỗ đường xấu. Cảm giác ấy có
đúng không? Hãy giải thích?
Giải thích: Càng đông khách khối lượng xe và người càng lớn gia tốc xe thu được khi
tương tác với đường (chỗ đường xấu xe bị xóc) sẽ nhỏ, sự thay đổi vận tốc theo phương
thẳng đứng của xe rất bé nên người ngồi trên xe có cảm giác êm hơn.
Áp dụng: Đây là hiện tượng xảy ra trong thực tế mà chúng ta có thể cảm nhận được khi
ngồi trên xe ô tô. Giáo viên có thể sử dụng cho phần củng cố về định luật II Niuton.
Câu 2: Con chó săn to khỏe và chạy nhanh hơn con thỏ. Tuy thế nhiều khi con thỏ bị
chó săn rượt đuổi vẫn thoát nạn nhờ vận dụng chiến thuật luôn luôn đột ngột thay đổi
hướng chạy làm chó săn lỡ đà. Điều này trong vật lí được giải thích ra sao?
Giải thích: Sự khá nhau về khối lượng (hay mức quán tính) đã đưa đến sự khác nhau về
mức độ thay đổi trạng thái chuyển động. Con thỏ có khối lượng nhỏ hơn chó săn nên dễ
dàng thay đổi chuyển động hơn về hướng và độ lớn của vận tốc. Do đó khi thỏ đột ngột
thay đổi vận tốc thì chó săn không kịp thay đổi chuyển động và bị lỡ đà.
Áp dụng: Sử dụng cho phần mở đề vào phần quán tính.
Câu 3: Giải thích câu tục ngữ: “ Dao sắc không bằng chắc kê”
Giải thích: Ta biết rằng một vật có khối lượng càng lớn thì quán tính của nó càng lớn.
Mặt khác, vì vật có quán tính nên khi tác dụng một lực vào vật thì vận tốc của nó không
thay đổi ngay tức thì mà phải sau khoảng thời gian nhất định. Nếu vật có quán tính lớn thì
thời gian này càng lớn.
8
Nếu dùng dao chặt cây tre mà tre không kê lên cái gì hoặc kê không chắc chắn thì
vì quán tính của tre nhỏ nên thanh tre sẽ chuyển động theo dao. Do đó dao khó ăn sâu vào
tre.
Nếu ta kê thanh tre đó trên một khúc gỗ lớn thì khi dao chặt khối gỗ chưa kịp
chuyển động( vì khối lượng khúc gỗ lớn và lại tì vào đất), thanh tre đã bị đứt rồi.
Áp dụng: Dùng cho phần tổng kết bài, sau khi học sinh đã có những kiến thức về
các định luật Niuton.
Câu 4: Tại sao diễn viên xiếc ngồi trên yên ngựa đang phi nhanh, nhảy lên cao khi rơi
xuống lại vẫn đúng vào yên ngựa?

Lực hấp dẫn. Định luật vạn vật hấp dẫn.
(Tiết 19 VL10CB- tiết 23 VL10NC)
Câu 1: Hai vật bất kì luôn hút nhau bằng một lực hấp dẫn, tại sao các vật để trong
phòng như bàn, ghế, tủ, giường mặc dù chúng luôn hút nhau nhưng không bao giờ di
chuyển lại gần nhau?
Giải thích: Các vật để trong phòng không chỉ chịu tác dụng của lực hấp dẫn mà còn chịu
tác dụng của trọng lực, phản lực và lực ma sát. Các lực này triệt tiêu lẫn nhau nên các vật
vẫn đứng yên, không hút lại gần nhau.
Áp dụng: Sử dụng cho phần củng cố về lực hấp dẫn.
Câu 2: Lực hút của Mặt Trời lên Mặt Trăng lớn hơn lực hút của Trái Đất lên Mặt
Trăng 2 lần. Nhưng tại sao Mặt Trăng lại là vệ tinh của Trái Đất ( Mặt Trăng quay
quanh Trái Đất ) mà nó không phải là hành tinh quay quanh Mặt Trời?
Giải thích: Người ta tính được rằng Mặt Trời truyền cho Trái Đất và Mặt Trăng ngững
gia tốc như nhau, vì vậy Trái Đất và Mặt trăng tạo thành hệ hai thiên thể quay quanh khối
tâm chung và khối tâm này lại quay quanh Mặt Trời.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần củng cố sau bài học, thông qua câu hỏi học
sinh hiểu rõ hơn về chuyển động của Trái Đất, Mặt Trăng.
Lực ma sát
(Tiết 21 VL10CB – tiết 26 VL 10NC)
Câu 1: Trong bóng đá khi một hậu vệ muốn cản phá tiền đạo đối phương đang mở tốc
độ xuống bóng rất nhanh thì thường dùng vai chèn vào người tiền đạo và lấy sức
nâng người ấy lên. Giải thích xem cách làm ấy có hiệu quả hay không ?
Giải thích: Khi nâng cơ thể tiền đạo đối phương lên, người hậu vệ đã làm giảm bớt lực
tác dụng giữa hai chân đối phương với mặt đất, tức là giảm lực ma sát nghỉ đóng vai trò
10
lực tăng tốc của đối phương. Do đó, sự gia tăng tốc độ của tiền đạo đối phương bị chậm
lại.
Áp dụng: Đây là hiện thường thấy trong các trận đấu bóng đá trên ti vi cũng như ngoài
đời mà các bạn học sinh là những người trực tiếp tham gia nhưng có thể chúng ta chưa có
một lí giải thỏa đáng. Giáo viên có thể sử dụng cho phần củng cố về tác dụng của ma sát

Câu 1: Tại sao khi đi xe đạp hoặc xe máy đến đoạn đường cong chúng ta phải giảm
tốc độ và nghiêng người ?
Giải thích: Mục đích của việc nghiêng người để tạo ra lực hướng tâm khi đi ở những
đoạn đường cong, bởi vì lực ma sát nghỉ không đủ giữ cho xe chuyển động cong. Tuy
nhiên việc nghiêng người và xe chỉ tạo ra lực hướng tâm có giá trị nhất định, cho nên để
đảm bảo xe không bị văng đi theo phương tiếp tuyến với đường cong thì cần phải giảm
tốc độ xe.
Áp dụng: Hiện nay tai nạn giao thông diễn ra phổ biến ở nước ta mà một trong
những nguyên nhân là do người lái xe không làm chủ được tốc độ, nhất là khi qua những
đoạn đường cong. Qua câu hỏi trên đã chỉ cho chúng ta thấy cần phải có ý thức hơn khi
tham gia giao thông, từ đó góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông. Giáo viên có thể sử
dụng câu hỏi cho phần củng cố sau bài học.
Câu 2: Tại sao khi làm các cây cầu người ta thường làm cầu vồng lên?
Giải thích: Khi xe cộ đi qua cầu thì nó sẽ chuyển động cong, lúc đó hợp lực của hai
lực là trọng lực
P
ur
và phản lực
N
ur
của mặt đường tác dụng lên xe sẽ đóng vai trò là lực
hướng tâm:
mv mv
P N N P
r r
− = → = −
2 2
. Điều này dẫn tới là áp lực của xe cầu nhỏ hơn trọng
lượng của xe.
Áp dụng: Hiện nay trong hệ thống giao thông đường bộ thì các cây cầu xuất hiện

trình xuống mặt đất tránh bị lún xuống.
Áp dụng: Đây là hiện tượng hầu như trong chúng ta ai cũng thấy nhưng không phải ai
cũng giải thích được nó một cách kĩ càng và đầy đủ. Giáo viên có thể sử dụng cho phần
củng cố của bài học.
Cân bằng của một vật có trục quay cố định. Quy tắc mômen lực
( Tiết 29 VL10CB – tiết 40 VL10NC )
Câu 1: Tại sao khi gập khuỷu tay ta có thể nâng được vật nặng hơn so với trường hợp
duỗi thẳng tay theo phương ngang ?
Giải thích: Khi gập khuỷu tay, “cánh tay đòn” thu lại ngắn hơn nên có thể giữ được
với lực lớn hơn.
13
Áp dụng: Đây là vấn đề thường ngày chúng ta hay áp dụng trong công việc như là
một bản năng. Tuy nhiên không mấy người giải thích được. Giáo viên có thể dùng để đặt
vấn đề vào bài.
Câu 2: Khi đi xe đạp hay xe máy cần phanh gấp người lái luôn chủ động phanh bánh
sau của xe mà ít dùng phanh trước. Làm như vậy có lợi gì?
Giải thích: Nếu phanh ở bánh trước, theo quán tính sẽ xuất hiện momen lực làm lật
xe rất nguy hiểm.
Áp dụng: Thông qua câu hỏi giáo viên giáo dục học sinh khi tham gia giao thông
cần đi xe với tốc độ vừa phải để còn làm chủ được tình huống tránh gây hậu quả đáng
tiếc và nếu có gặp tình huống bất ngờ thì biết cách xử lí sao cho an toàn. Giáo viên sử
dụng sau khi học song phần mômen.
Định luật bảo toàn động lượng
(Tiết 37,38 VL10CB-tiết 45 VL10NC)
Câu 1: "Không thể tự nắm tóc mình mà nhấc mình lên được". Câu nói đó có cơ sở
khoa học không?
Giải thích: Theo định luật bảo toàn động lượng thì nội lực chỉ làm cho các vật
riêng biệt trong hệ trao đổi xung lượng cho nhau mà không gây gia tốc chuyển động cho
hệ nên câu nói trên là hoàn toàn có cơ sở khoa học.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng cho phần đặt vấn đề vào bài mới.

Giải thích: Nhà du hành ném về một phía một vật nào đó để có thể nhà du hành
chuyển động theo hướng ngược lại.
Áp dụng: Giáo viên dùng câu hỏi để khắc sâu thêm kiến thức về định luật bảo toàn
động lượng.
Cấu tạo chất. Thuyết động học phân tử các chất
(Tiết 47 VL10CB – tiết 62 VL10NC)
Câu 1: Khi pha nước chanh, người ta thường làm cho đường tan trong nước rồi mới
bỏ đá lạnh vào. Vì sao không bỏ đá lạnh vào trước rồi đường bỏ sau?
Giải thích: Nhiệt độ càng cao, các phân tử chuyển động càng nhanh nên dễ hòa tan
hơn. Nếu bỏ đá vào trước, nhiệt độ của nước hạ thấp làm quá trình hòa tan của đường
diễn ra chậm hơn.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần cấu tạo chất.
Câu 2: Việc tách hai tấm ván gỗ úp lên nhau dễ hơn nhiều so với việc tách hai tấm
kính chồng lên nhau. Tại sao vậy?
15
Giải thích: Hai tấm kính đặt úp lên nhau có lực liên kết giữa các phân tử mạnh hơn
do chúng có bề mặt nhẵn, các phân tử ở hai tấm kính ở rất gần nhau đến mức nó có thể
hút nhau. Điều này không xảy ra với hai tấm gỗ.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để dạy phần lực tương tác phân tử.
Câu 3: Khi muốn nối hai thanh thép với nhau, người thợ rèn thường làm như sau:
Nung cho hai thanh thép đến khoảng 900
o
C sau đó đặt thanh nọ gối lên thanh kia rồi
lấy búa đập mạnh. Hãy giải thích cách làm trên?
Giải thích: Làm như vậy các phân tử hai thanh thép xen vào nhau làm xuất hiện lực
liên kết phân tử giúp chúng dính lại nhau.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để củng cố cho phần lực tương tác phân tử
Quá trình đẳng nhiệt
(Tiết 48 VL10CB-tiết 63 VL10NC)
Câu hỏi: Tại sao khi ta dùng phễu rót chất lỏng vào chai, lúc đầu thấy dễ vào nhưng

và nội năng cho búa và đinh. Nhưng khi đinh đã được đóng chặt vào gỗ, công thực hiện
chỉ chuyển thành nội năng, do đó đinh nóng lên nhanh hơn.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để củng cố về phần các cách biến đổi nội năng.
Câu 2: Tại sao các vật nóng khi bỏ vào nước sẽ nguội nhanh hơn khi bỏ ngoài không
khí?
Giải thích: Do nhiệt dung riêng của nước lớn hơn của không khí, nên trong cùng
một khoảng thời gian nước thu nhiệt nhiều hơn.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần truyền nhiệt để làm rõ quá trình truyền nhiệt.
Các nguyên lí của nhiệt động lực học
(Tiết 55,56 VL10CB-tiết 82,83,84,85 Vl10NC)
Câu 1: Tại sao khi dùng bơm tay để bơm xe đạp, thân chiếc bơm lại bị nóng lên và nó
nóng lên càng nhanh khi lốp xe đã gần căng hơi?
Giải thích: Công đã biến thành nội năng làm nóng thân bơm. Khi lốp xe đã căng, phần
lớn công biến thành nội năng nên thân bơm sẽ nóng lên nhanh chóng.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần nguyên lí I NĐLH để học sinh thấy được
ứng dụng của nó.
17
Câu 2: Tại sao buồng đốt của một nồi hơi trong động cơ nhiệt lại không nóng chảy,
mặc dù trong buồng đốt có lúc nhiên liệu cháy ở nhiệt độ cao hơn so với nhiệt độ nóng
chảy của kim loại dùng để chế tạo nó ?
Giải thích: Các thành bên ngoài của buồng đốt được làm lạnh bằng nước, nên nhiệt độ
của chúng không cao hơn nhiệt độ trong nồi hơi nhiều lắm.
Áp dụng: Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh biết về hoạt động của động cơ nhiệt và
thông qua đó giáo viên phân tích cho học sinh vấn đề ô nhiễm môi trường do sử dụng
động cơ nhiệt.
Định luật Béc-nu-li
(Tiết 59,60 VL10NC)
Câu 1: Để nước từ trong ống có thể phun ra xa hơn người ta thường bịt một đầu ống
chỉ để một lỗ nhỏ cho nước phun ra. Hãy giải thích ?
Giải thích: Giảm tiết diện để tăng vận tốc.

Giải thích: Khi đổ nước sôi vào cốc, do tính dẫn nhiệt kém của thủy tinh, lớp bên
trong giãn nở nhiều hơn lớp bên ngoài, lớp ngoài trở thành “vật cản trở”của lớp trong, kết
quả là tạo ra một lực lớn, chính lực này làm nứt cốc.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng sau khi học xong phần sự nở vì nhiệt.
Câu 4: Tại sao khi nóng hay lạnh bêtông vẫn luôn bám chặt vào cốt thép bên trong ?
Giải thích: Vì bê tông và cốt thép có độ dãn nở vì nhiệt như nhau.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để củng cố bài học để nói lên ý nghĩa của hệ số
nở khối của các vật liệu.
Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng
(Tiết 60,61 VL10CB – tiết 73,74 VL10NC )
Câu 1: Người ta thường dùng một loại dầu bóng đặc biệt đánh bóng sườn xe máy, xe
ôtô. Ngoài việc làm cho nước sơn của sườn xe bóng dẹp, nó còn có tác dụng nào khác
không ?
Giải thích: Làm nước mưa không dính ướt sườn xe lâu bị gỉ sét.
Áp dụng: Sử dụng củng cố thêm về phần ứng dụng của hiện tượng dính ướt và
không dính ướt.
Câu 2: Trong nông nghiệp, nông dân thường dùng thuật ngữ “tưới khô” để nói đến
công việc thường xuyên xới đất giữa những hàng cây mới trồng, làm mất lớp đất cứng
trên mặt đi. “Tưới khô” có tác dụng gì?
19
Giải thích: Đất chưa cày xới có nhiều lỗ nhỏ ( như ống mao dẫn) làm cho nước ở
dưới bị “hút lên” và bay hơi và đất sẽ bị khô đi. Việc cày xới làm mất các “ống mao dẫn”
này đi, giữ nước lại trong đất để nuôi cây.
Áp dụng: Đây là hiện tượng gắn liền với người nông dân, giáo viên có thể dùng câu hỏi
này vào phần hiện tượng mao dẫn để học sinh biết thêm về hiện tượng mà các em bắt gặp
trong thực tế cuộc sống.
Câu 3: Vào những đêm nhiều sương, buổi sáng sớm khi quan sát các lá cây ( như lá
sen ), thấy có những giọt sương đọng lại có dạng hình cầu, còn có lá không có hiện
tượng này mà trên nó có một lớp nước mỏng. Hãy giải thích?
Giải thích: Nước không làm dính ướt một số loại lá cây ( như lá sen chẳng hạn) khi

Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi cho phần củng cố bài học
Câu 2: Về mùa thu, sau khi mặt trời mọc, sương mù vẫn còn phủ trên mặt sông khá
lâu. Vì sao vậy?
Giải thích: Vì độ ẩm tuyệt đối trên mặt sông bao giờ cũng lớn hơn độ ẩm tuyệt đối
trên mặt đất.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để dạy phần ảnh ảnh hưởng của độ ẩm không khí.
Câu 3: Tại sao về mùa đông, trong những căn phòng có nhiều người những tấm kính
cửa sổ thường mờ đi và đọng những giọt nước trên đó ?
Giải thích: Nhiều người ở trong phòng, không khí trong phòng có nhiều hơi nước,
độ ẩm cao. Nếu hơi nước đến gần bão hòa thì chỉ cần nhiệt độ của cửa kính hạ xuống một
chút cũng sẽ làm cho hơi nước ngưng tụ lại, đây là nguyên nhân làm cho kính mờ đi và
có thể đọng những giọt nước trên đó.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi để củng cố cho phần điểm sương.
Câu 4: Lấy một lon nước ngọt từ trong tủ lạnh ra một phòng ấm hơn, thấy những giọt
nước lấm tấm ở ngoài thành lon, để một lúc những giọt lấm tấm này biến mất. Hãy
giải thích?
Giải thích: Hơi nước có sẵn trong không khí, gặp thành lon nước đang lạnh, chúng
sẽ trở thành hơi bão hòa và ngưng tụ thành những giọt sương. Khi nước trong lon đã hết
lạnh, các giọt sương này lại bay hơi.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng cho phần đặt vấn đề vào bài mới.
Câu 5: Vào mùa hè trời nóng nực, sống ở nơi khô ráo và những nơi có nhiều đầm lầy,
nơi nào dễ chịu hơn?
21
Giải thích: Sống ở nơi khô dáo dễ chịu hơn. Vì ở nơi nhiều đầm lầy, hơi nước bốc
lên làm cho độ ẩm tương đối lớn, mồ hôi bay hơi chậm và cơ thể người sẽ bị nóng lên
quá mức, gây cảm giác nóng nực một cách khó chịu.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để củng cố cho phần độ ẩm để học sinh thấy
được vai trò của độ ẩm.
Phần 4. KIỂM NGHIỆM
4.1. Kết quả nghiên cứu:

(48,78%)
14
(34,14%)
01
(2,48%)
10A1 Ít áp dụng
01
(2,3%)
10
(23,3%)
30
(69,8%)
02
(4,6%)
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận
Để có những tiết học đạt hiệu quả cao nhất luôn là niềm trăn trở, suy nghĩ là mục
đích hướng tới của từng người giáo viên có lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp, như-
ng đây không phải là điều đạt được dễ dàng. Người giáo viên phải nhận thức rõ vai trò là
người “thắp sáng ngọn lửa” chủ động lĩnh hội tri thức trong từng học sinh . Trong nội
dung đề tài mình, tôi đã đề cập đến một số bài tập định tính và câu hỏi có ý nghĩa thực
tiễn, thậm chí có thể gặp, tiếp xúc hàng ngày. Tôi hi vọng đây là vấn đề gợi mở ra một
quan niệm trong dạy học vật lí, mặc dù trong đề tài này tôi không thể đề cập mọi hiện t-
ượng có liên quan.
Với thực trạng học vật lí và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, có thể coi đây
là một quan điểm của tôi đóng góp ý kiến vào việc nâng cao chất lượng học vật lí trong
thời kỳ mới. Mặc dù đã cố gắng song không thể tránh được các thiếu sót, rất mong được
sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, của các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn.
2. Kiến nghị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status