Vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong chương trình vật lý 10 trường THPT quan sơn - Pdf 44

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi một môn học trong chương trình phổ thông nói chung và môn Vật lí
nói riêng thì môn Vật lí cũng đóng vai trò hết sức rất quan trọng trong việc hình
thành và phát triển tư duy nhân cách của học sinh.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải luôn phải đặt ra mục đích đó là
nhằm giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, hình thành phương pháp, kĩ
năng, kĩ xảo, tạo thái độ và động cơ học tập một cách đúng đắn để học sinh có
khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh những nội dung kiến thức mới theo xu thế phát
triển của thời đại.
Môn Vật lý là môn khoa học nghiên cứu về những sự vật, hiện tượng xảy ra
trong cuộc sống hàng ngày, có tính ứng dụng thực tiễn cao, cần vận dụng những
kiến thức toán học. Học sinh phải có một thái độ học tập thật sự nghiêm túc, có
tư duy sáng tạo về những vấn đề mới nảy sinh để tìm ra hướng giải quyết để phù
hợp.
Học môn Vật lí là để hiểu, để giải thích được các hiện tượng tự nhiên trong
cuộc sống hàng ngày thông qua việc tìm hiểu các lí thuyết, các định luật chi phối
các quy luật của tự nhiên. Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng
tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người và góp phần giải
tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm ảnh hưởng đến đời sống, tinh thần của con
người.
Để đạt được những yêu cầu sự ham học và tìm đòi được mục đích của
môn Vật lí trong trường phổ thông thì điều quan trọng giáo viên giảng dạy phải
là nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy, ngoài những hiểu biết về Vật
lí, người giáo viên cần phải có phương pháp truyền đạt dễ hiểu để thu hút sự chú
ý cho học sinh. Đó là vấn đề đáng được quan tâm và nghiên cứu. Chính vì vậy
trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đưa ra đề tài “Vận dụng bài tập định tính
và câu hỏi thực tế trong dạy học Vật lí 10 – THPT Quan sơn”
2. Mục đích nghiên cứu
Giáo viên cần xây dựng được một hệ thống các bài tập định tính và các
hiện tượng Vật lí trong thực tiễn có thể vận dụng vào bài giảng trong chương

học sinh vận dụng được kiến thức khoa học vào cuộc sống, mang tính giáo dục,
nhưng cao hơn vẫn là giáo dục hướng thiện khoa học cho các em.
+ Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp
Khi dạy kiến thức Vật lí trong bất kì lĩnh vực nào: chuyển động cơ học,
các lực cơ học, công cơ học, năng lượng… đều liên quan đến các hiện tượng Vật
lí mà diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, nên khi sử dụng những
câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp làm cho học sinh có sự hứng thú và chủ
động tìm tòi câu trả lời, từ đó đồng thời cho thấy được mối liên hệ tương quan
giữa các môn học với nhau.
2. Thực trạng vấn đề
Trong quá trình dạy môn Vật lí phải luôn đổi mới những phương pháp dạy
học qua từng tiết dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến
bộ là phải phát huy tính thực tế cao, giáo dục về môi trường, lối sống, đảm bảo
tính khoa học – hiện đại, cơ bản; tính thực tiễn tính hệ thống sư phạm.
Tuy nhiên mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội tụ tất cả những quan
điểm nêu trên, bên cạnh đó cũng cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đừng quá lạm
dụng khi lượng kiến thức không đồng nhất .
+ Thực tế giảng dạy cho thấy
Môn Vật lí là một môn học tương đối khó, nếu giáo viên không có những
bài giảng và phương pháp phù hợp với từng học sinh thì dễ làm cho học sinh thụ
động trong việc tiếp thu, Đã có hiện tượng một số học sinh không muốn học
môn Vật lí, vì cho rằng môn học này khó hiểu, khó tiếp thu.
Cũng nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức và đi sát vào từng đối
tượng học sinh: Chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm cao để tìm hiểu,
nghiên cứu, hiện tượng, còn áp dụng một bài giảng cho nhiều lớp. Do phương
pháp ít có tiến bộ, mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ
tri thức một chiều. Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong
quá trình lĩnh hội tri thức môn Vật lí.
3. Các giải pháp và hình thức tổ chức thực hiện
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học, tôi đã thấy rằng: “Vận dụng bài tập

Làm cho học sinh không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều lý thuyết, nếu đề cập
theo tính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó vào thực
tiễn hàng ngày.
+ Các hình thức tổ chức thực hiện
+ Đặt tình huống vào bài mới:
Một tiết dạy mà người giáo viên muốn gây được sự chú ý đến học sinh hay
không là nhờ đặt vấn đề vào bài mới. Trong đó phần mở đầu là rất quan trọng,
nếu ta biết đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc giả định rồi yêu cầu học sinh
cùng tìm hiểu và giải thích.
+ Lồng ghép tích hợp môi trường vào trong bài dạy
Môn vật lý có thể tích hợp với những môn học khác, như chúng ta đã biết
vấn đề môi trường luôn được quan tâm hằng đầu như: khói bụi của nhà,nước
thải của sinh hoạt, ô nhiễm phóng xạ...có liên quan gì đến sự thay đổi của thời
tiết haykhông. Tùy vào thực trạng của từng địa phương mà ta lấy ví dụ sao cho
phù hợp, gần gũi và dễ hiểu.
4


+ Liên hệ thực tế trong bài dạy
Khi học xong một vấn đề gì mà học sinh thấy được ứng dụng trong thực
tiễn thì sẽ chú ý hơn, chủ động tư duy để tìm hiểu. Do đó trong mỗi bài học giáo
viên nên đưa ra được một vài ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của
học sinh nhiều hơn.
HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH VÀ CÂU HỎI THỰC TẾ DÙNG
CHO CÁC BÀI GIẢNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 10 THPT
QUAN SƠN.
BÀI 2: CHUYỂN ĐỘNG THẲNG ĐỀU - (Tiết 2 Vật lí 10 cơ bản)
Câu 1: Một ô tô đang chuyển động. Hãy cho biết bộ phận nào chuyển động
bộ phận nào đứng yên đối với. [1]
a) Mặt đường

điểm
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để đặt vấn đề vào bài.

5


Câu 2: Để các tia nước từ cái bánh xe đạp không thể bắn vào người đi xe,
phía trên bánh xe người ta gắn những cái chắn bùn. Khi đó phải gắn những
cái chắn bùn như thế nào?[1]
Giải thích: Phải gắn những cài chắn bùn sao cho mép dưới cắt đường tiếp
tuyến đi qua điểm thấp nhất của bàn đạp với mép trước của bánh xe.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần học về đặc điểm của vận tốc
trong chuyển động tròn đều.
BÀI 6: TÍNH TƯƠNG ĐỐI CỦA CHUYỂN ĐỘNG. CỘNG THỨC CỘNG
VẬN TỐC - (Tiết 10Vật lí 10 cơ bản)
Câu 1: Người ngồi trên xe sẽ thấy đầu van chuyển động theo quỹ đạo như thế
nào quanh trục bánh xe? [2]
Giải thích: Người ngồi trên xe đạp sẽ thấy đầu van chuyển động tròn đều
quanh trục bánh xe.
Áp dụng: Giáo viên dùng câu hỏi này cho phần bài tập.
Câu 2: Khi đi xe máy trong mưa, ta thường có cảm giác các giọt nước mưa
rơi nghiêng (hắt vào mặt ta) ngay cả khi trời lặng gió. Lẽ ra khi lặng gió các
giọt mưa sẽ rơi thẳng đứng và không thể hắt vào mặt ta được. Hãy giải thích
điều dương như vô lí đó. [1]
Giải thích: Khi không có gió, những giọt mưa roi theo phương thẳng đứng
so với đất, nhưng lại rơi theo phương xiên đối với người lái xe máy.
Áp dụng: Giáo viên có thể dùng cho phần đặt vấn đề vào bài.
BÀI 10: BA ĐỊNH LUẬT NIU- TƠN - ( Tiết 17,18 Vật lí 10 cơ bản, nâng
cao)
Câu 1: Một đoàn tàu đang chuyển động trên đường sắt nằm ngang với một

BÀI 11: LỰC HẤP DẪN. ĐỊNH LUẬT VẠN VẬT HẤP - (Tiết 19 Vật lí 10
cơ bản)
Câu 1: Hai vật bất kì luôn hút nhau bằng một lực hấp dẫn, tại sao các vật để
trong phòng như bàn, ghế, tủ, giường mặc dù chúng luôn hút nhau nhưng
không bao giờ di chuyển lại gần nhau? [1]
Giải thích: Các vật để trong phòng không chỉ chịu tác dụng của lực hấp
dẫn mà còn chịu tác dụng của trọng lực, phản lực và lực ma sát. Các lực này triệt
tiêu lẫn nhau nên các vật vẫn đứng yên, không hút lại gần nhau.
Áp dụng: Sử dụng cho phần củng cố về lực hấp dẫn.
Câu 2: Lực hấp dẫn giữa hai vật có thay đổi không nếu ta đặt xen vào giữa
hai vật một tấm kính dày. [1]
Giải thích: Không tay đổi. Vì lực hấp dẫn giữa hai vật không phụ thuộc
vào sự có mặt hay không có mặt của vật thứ ba.
Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng phần câu hỏi này ở phần củng cố bài
tập.
BÀI 13: LỰC MA SÁT - (Tiết 21 Vật lí 10 cơ bản)
Câu 1: Bôi dầu mỡ có tác dụng làm giảm ma sát. Nhưng tại sao người ta
không bôi dầu cho các thanh ray đường sắt? [1]
Giải thích: Nếu đường ray được bôi dầu thì sảy ra sự quay tại chỗ của bánh
ở đầu tàu, đầu tàu không làm cho đoàn tàu chuyển động được.
Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng phần câu hỏi này để đặt vấn đề vào bài.
Câu 2: Vì sao trong các cuộc đua maratông hay đua xe đạp ta thường thấy có
một số vận động viên thường bám sát sau đối thủ của mình, chỉ khi gần tới
đích họ mới cố vượt lên phía trước ? [1]
7


Giải thích: Mục đích là làm giảm sức cản của không khí.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng vào phần củng cố sau bài học.
Câu 3: Lấy một hòn đá, đập vụn ra thành những hạt nhỏ và thả rơi xuống.

Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần đặt vấn đề vào phần mức vững vàng
của cân bằng.
Câu 3: Tại sao khi xây dựng các công trình lớn các kiến trúc sư thường thiết
kế móng của công trình to và vững chắc? [1]
8


Giải thích: Có hai nguyên nhân chính: Tạo mặt chân đế lớn và giảm áp
suất của công trình xuống mặt đất tránh bị lún xuống.
Áp dụng: Đây là hiện tượng hầu như trong chúng ta ai cũng thấy nhưng
không phải ai cũng giải thích được nó một cách kĩ càng và đầy đủ. Giáo viên có
thể sử dụng cho phần củng cố của bài học.
BÀI 21: CÂN BẰNG CỦA MỘT VẬT CÓ TRỤC QUAY CỐ ĐỊNH. QUY
TẮC MÔMEN LỰC - (Tiết 29 Vật lí 10 cơ bản)
Câu 1: Tại sao khi gập khuỷu tay ta có thể nâng được vật nặng hơn so với
trường hợp duỗi thẳng tay theo phương ngang ? [1]
Giải thích: Khi gập khuỷu tay, “cánh tay đòn” thu lại ngắn hơn nên có thể
giữ được với lực lớn hơn.
Áp dụng: Đây là vấn đề thường ngày chúng ta hay áp dụng trong công
việc như là một bản năng. Tuy nhiên không mấy người giải thích được. Giáo
viên có thể dùng để đặt vấn đề vào bài.
Câu 2: Hai học sinh khiêng một xô nước treo ở giữa phần đòn gánh. Học
sinh nào chịu lực lớn hơn nếu điểm treo xô nước bị lệch hẳn về một phía so
với điểm chính giữa? [1]
Giải thích: Xô nước ở gần học sinh nào hơn thì học sinh đó chịu tác lực lớn hơn
và theo quy tắc hợp lực xong xong.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng sau khi học song phần mômen.
Câu 3: Khi đi xe đạp, xe máy cần phanh gấp người lái xe luôn chủ động
phanh bánh sau cuả xe mà ít dùng phanh trước. Làm như vậy có lợi gì?[1]
Giải thích: Nếu phanh ở bánh trước, theo quán tính sẽ xuất hiện mômen

Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi để làm rõ tính chất “độ biến thiên
động lượng của vật phụ thuộc vào thời gian xảy ra va chạm”
BÀI 28: CẤU TẠO CHẤT. THUYẾT ĐỘNG HỌC PHÂN TỬ CÁC CHẤT
(Tiết 47 Vật lí 10 cơ bản)
Câu 1: Mùi thơm của nước hoa thoảng bay trong không khí dần tan biến
mất. Hãy giải thích tại sao lại có hiện tượng trên? [1]
Giải thích: Các phân tử chuyển động hỗn loạn không ngừng. trong quá
trình chuyển động, phân tử của các chất tự hòa lẫn vào nhau gây ra hiên tượng
khuếch tán. Nước hao thoảng bay là kết quả của hiện tượng khuếch tán
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần cấu tạo chất.
Câu 2: Việc tách hai tấm ván gỗ úp lên nhau dễ hơn nhiều so với việc tách
hai tấm kính chồng lên nhau. Tại sao vậy?[1]
Giải thích: Hai tấm kính đặt úp lên nhau có lực liên kết giữa các phân tử
mạnh hơn do chúng có bề mặt nhẵn, các phân tử ở hai tấm kính ở rất gần nhau
đến mức nó có thể hút nhau. Điều này không xảy ra với hai tấm gỗ.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để dạy phần lực tương tác phân tử.
BÀI 29: QUÁ TRÌNH ĐẲNG NHIÊT - (Tiết 48 Vật lí 10 cơ bản)
Câu hỏi: Tại sao khi ta dùng phễu rót chất lỏng vào chai, lúc đầu thấy dễ vào
nhưng càng về sau càng khó khăn nếu như ta không nâng phễu lên? [2]
Giải thích: Cuống phễu ép sát cổ chai, chất lỏng đổ vào phễu liên tục vô
tình trở thành cái nút nhốt chặt không khí trong chai. Khi chất lỏng chảy vào
chai, không khí bị dần chiếm chỗ, thể tích khí giảm làm áp suất trong luôn bằng
áp suất khí quyển, nước sẽ chảy vào chai khó hơn.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho việc đặt vấn đề vào bài mới.
BÀI 30: QUÁ TRÌNH ĐẰNG TÍCH - (Tiết 49 Vật lí 10 cơ bản)
Câu 1: Tại sao ngồi gần những chiếc bếp than đang cháy, ta thường nghe
những tiếng lách tách cùng với những tia lửa bắn ra? [1]
10



truyền nhiệt.
BÀI 33: CÁC NGUYÊN LÍ CỦA NHIỆT ĐỘNG LỰC HỌC - (Tiết 55,56
Vật lí 10 cơ bản)
Câu hỏi: Tại sao khi dùng bơm tay để bơm xe đạp, thân chiếc bơm lại bị nóng
lên và nó nóng lên càng nhanh khi lốp xe đã gần căng hơi? [1]
11


Giải thích: Công đã biến thành nội năng làm nóng thân bơm. Khi lốp xe đã
căng, phần lớn công biến thành nội năng nên thân bơm sẽ nóng lên nhanh
chóng.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần nguyên lí I nhiệt động lực học để
học sinh thấy được ứng dụng của nó.
BÀI 36: SỰ NỞ VÌ NHIỆT CỦA VẬT RẮN - (tiết 59 Vật lí 10 cơ bản)
Câu 1: Tại sao khi làm đường ray xe lửa, làm cầu, người ta thường để giữa
hai thanh ray hoặc hai nhịp cầu một khoảng cách nhỏ. Khoảng cách ấy có
lợi gì? [2]
Giải thích: Khoảng cách ấy làm cho hai thanh ray hay hai nhịp cầu không
đội lên nhau khi giãn nở vì nhiệt.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để đặt vấn đề vào bài mới.
Câu 2: Tại sao cốc thủy tinh dày thường dễ nứt vỡ hơn so với cốc thủy tinh có
thành mỏng nếu đổ nước sôi vào cốc? [2]
Giải thích: Khi đổ nước sôi vào cốc, do tính dẫn nhiệt kém của thủy tinh,
lớp bên trong giãn nở nhiều hơn lớp bên ngoài, lớp ngoài trở thành “vật cản trở”
của lớp trong, kết quả là tạo ra một lực lớn, chính lực này làm nứt cốc.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng sau khi học xong phần sự nở vì nhiệt.
Câu 3: Không nên ăn thức ăn đang quá nóng hoặc quá lạnh. Lời khuyên này
xuất phát từ cơ sở vật lí nào? [2]
Giải thích: Men răng giãn nở không đều khi nóng hoặc lạnh đột ngột, khi
đó men răng sẽ bị rạn nứt.

viên dạy cần phải linh hoạt và thật sự khéo léo. Bất cứ một vấn đề gì nếu chúng
ta quá lạm dụng thì đều không tốt. Vì thế tôi vẫn luôn nghĩ: Dạy như thế nào cho
tốt là một điều không dễ.
+ Kết quả đối chứng
Qua thực tế giảng dạy cho thấy lớp áp dụng và không áp dụng có sự khác
nhau rõ rệt.
Qua năm học từ 2016-2017 giảng dạy ở trường, tôi đã có số liệu cụ thể theo
bảng sau:
Kết quả
Lớp

Mức độ

10A2

Áp dụng

10A3

Không áp dụng

Giỏi

Khá

Trung
bình

Yếu-Kém


(8%)

Với kết quả tôi thu được như trên, tôi nhận thấy cả 2 lớp tôi giảng dạy đều
có sự chênh lệch về mức độ nhận biết của các em, tuy rằng cả 2 lớp đều nghiêng
về khối C, nhưng khi học về môn tự nhiên như môn Vật lí các em cũng có sự
thay đổi, từ khi áp dụng theo phương pháp đổi mới cách dạy này của tôi, với
thực nghiệm cho thấy mức độ thông hiểu qua từng lớp cũng có sự so sánh rất rõ
13


ràng. Như vậy, qua bảng đánh giá cho ta thấy, mặc dù các em không có nhiều
sách tham khảo, nhưng có sự đầu tư thích đáng, sự nghiêm túc trong giảng dạy
học sinh sẽ hứng thú học và yêu thích môn Vật lí này nhiều hơn.

14


PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong nội dung đề tài, tôi đã đề cập đến một số bài tập định tính và câu hỏi
có ý nghĩa thực tiễn bám sát vào cuộc sống hàng ngày. Tôi hi vọng đây là vấn đề
gợi mở ra một quan niệm trong dạy học vật lí, mặc dù trong đề tài này, tôi không
thể đề cập hết mọi hiện tượng có liên quan trong thực tiễn.
Với thực trạng học vật lí và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, có thể
coi đây là một quan điểm của tôi đóng góp và ý kiến vào việc nâng cao chất
lượng dạy và học vật lí ở trường THPT Quan sơn. Mặc dù tôi cũng đã cố gắng
rất nhiều trong việc tìm hiểu để đưa ra đề tài này, song không thể tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp, ý kiến của các cấp lãnh đạo,
và các đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành
cảm ơn.

1. Cơ sở lý luận..............................................................................................................................3
2. Thực trạng vấn đề.....................................................................................................................3
3. Các giải pháp và hình thức tổ chức thực hiện......................................................................3
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm...................................................................................13

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................15
1. Kết luận....................................................................................................................................15
2. Kiến nghị..................................................................................................................................15

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status