QUỐC GIA VÀ VĂN HÓA ẢNH
QUỐC GIA VÀ VĂN HÓA ẢNH
HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI VÀ
HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI VÀ
SỰ ĐỔI MỚI CỦA TỔ CHỨC
SỰ ĐỔI MỚI CỦA TỔ CHỨC
GVHD : TS. Nguyễn Hữu Lam
ThS. Trần Hồng Hải
Nhóm 11 :
Huỳnh Gia Xuyên
Trần Phạm Thanh Vân
Trần Quốc Tế
Vũ Thị Bích Vân
Nội dung
Giới thiệu.
Những cơ sở khái niệm của các hình thức thể chế.
Những điều kiện thành lập.
Vai trò của chính phủ.
Hệ thống luật pháp.
Thị trường vốn.
Hệ thống giáo dục.
Văn hóa.
05/22/14 2
05/22/14 5
GIỚI THIỆU
Những nhân tố thuộc về thể chế
- Những điều kiện thành lập
-
Vai trò của chính phủ
-
Hệ thống pháp lý
-
Thị trường vốn
-
Hệ thống giáo dục
-
Văn hóa
Những thực tiễn quản lý
- Cấu trúc của sự cai quản
-
Quyền lực và kiểm soát
-
Mối quan hệ thuê mướn nhân
công
-
Mô hình chiến lược
- Văn hóa
Sự thích nghi, sự thay đổi, và sự
đổi mới thuộc về tổ chức
Hình vẽ 11.1 : Khung những ảnh hưởng của quốc gia đến sự thích nghi của công ty
05/22/14 6
Những cơ sở khái niệm của các hình thức thể chế
Tùy thuộc vào cấp độ của sự phân tích, sự vận hành của những điều
kiện thành lập có lẽ thay đổi.
Chúng ta dựa vào bối cảnh lịch sử liên quan đến những điều kiện
thành lập của một quốc gia, đến những hình thức của tổ chức và
những thực tiễn quản lý.
05/22/14 9
Những điều kiện thành lập
Những thực tiễn quản lý hiện đại của Nhật Bản bắt nguồn từ thời kỳ
sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, một vài khía cạnh quan trọng có
trước kỷ nguyên cũ Tokugawa (1603-1868).
Khổng giáo là nền tảng niềm tin, suy nghĩ, và hành vi của các nhà
quản lý. Bao gồm sự vâng lời không bị nghi ngờ đối với gia đình,
hoàn toàn trung thành đối với cấp trên, tôn trọng những người lớn
tuổi, chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa nhóm.
Vì thế, hệ thống hoạt động kinh doanh của người Nhật Bản đã phát
triển quanh những mạng lưới tương đối nhỏ, những công ty chuyên
môn hóa hợp tác với nhau (Fruin, 1992).
05/22/14 10
Những điều kiện thành lập
Mỹ như là nền kinh tế hàng đầu vào cuối thế kỷ 19 là kết quả của
những nguồn vốn đầu tư mạnh mẽ, tài nguyên thiên nhiên trong đất
phong phú và nhiều khoáng sản, và một thị trường nội địa rộng lớn.
Đạo đức về nghề nghiệp đã ăn sâu vào Thanh giáo đưa ra nền tảng
Những chế độ là “những sự sắp xếp thuộc về chính trị, thể chế để xác
định mối quan hệ giữa những lợi ích xã hội, những tác nhân của bang,
và kinh tế như là những tập đoàn, những công đoàn lao động, và những
hiệp hội nông nghiệp”
Mỹ tiến hóa thông qua bốn loại chế độ, tùy theo tình hình kinh tế và
chính trị.
05/22/14 13
Vai trò của chính phủ
Từ năm 1880 đến năm 1920, khi những tập đoàn có quy mô lớn và các
thị trường nổi lên, chính phủ Mỹ theo một chế độ thị trường.
Trong suốt thời kỳ đại khủng hoảng, một chế độ kết hợp thúc đẩy tính
ổn định của công nghiệp và tái phân phối thu nhập quốc dân.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự phát triển kinh tế và chất lượng của
cuộc sống, chính phủ thực hiện đầy đủ một chế độ thuộc về xã hội qua
hai thập kỷ.
Trong những năm 1970 và 1980, chế độ hiệu quả để quay trở lại những
chính sách mà can thiệp vào cơ chế thị trường hoặc áp đặt những chi
phí lớn.
05/22/14 14
Vai trò của chính phủ
Mức độ can thiệp của chính phủ cũng khác nhau bởi ngành công nghiệp.
Những chính phủ có thể thực hiện kiểm soát trên toàn quốc các ngành công
nghiệp quan trọng như điện năng và phân phối, vận chuyển, hoặc xử lý dầu
trong kinh doanh.
Nếu hệ thống luật pháp minh bạch thì các vấn đề trong kinh doanh
được soạn thảo thành các điều luật.
Ở các quốc gia có chính phủ chỉ đạo, luật không được soạn thảo cụ thể
thành các điều lệ, chính phủ hay các các cơ quan đại diện có thể chuyển
những điều không rõ ràng sang cách hiểu riêng của họ, có những luật lệ
và hướng dẫn riêng cho hoạt động thương mại hoặc họ có thể đặt ra
những luật lệ riêng.
05/22/14 17
Hệ thống luật pháp
Sự rõ ràng và minh bạch trong hệ thống luật pháp của Đức cho phép
các doanh nghiệp dựa vào luật và các thủ tục trong quản lý hoạt động
kinh doanh của họ (Rvà lesome, 1994). Tuy nhiên, luật Đức ít linh
động bởi vì quá trình thay đổi hay ban hành luật cần nhiều thời gian và
nỗ lực.
Hệ thống luật của Nhật đặt những giá trị lớn trong sự hòa giải, nó
không có sự đối đầu và mâu thuẫn, họ tìm kiếm những giải pháp giải
quyết mâu mẫu trước tiên, mà không cần đến kiện cáo hay tòa án.
Ở Mỹ, việc soạn luật được dựa trên việc tăng sự minh bạch trong hoạt
động kinh doanh.
05/22/14 18
Thị trường vốn
Sự phát triển và những đặc điểm của thị trường tài chính của một quốc
gia đóng vai trò quan trọng trong mô hình chiến lược của các doanh
tiêu chuẩn hoá bởi Bộ giáo dục và ngay cả sự xem xét thứ yếu đòi hỏi
sự tỉ mỉ, quá trình tốn nhiều thời gian (Ito, 1994).
Hệ thống giáo dục của Nhật chuộng nhân tài, con đường vào đại học rất
mệt mỏi và dựa trên bài thi đầu vào. Do vậy, hầu hết phụ huynh thúc
giục con cái mình chuẩn bị cho kỳ thi vào những trường đại học hàng
đầu để có thể có 1 công việc tốt nhất cho tương lai.
Phần lớn các hệ thống ở Mỹ tạo ra môi trường mà ở đó việc vào được
những trường đại học lớn không phải là con đường duy nhất để có thể
việc làm tốt.
05/22/14 21
Văn hóa
Văn hóa là gắn liền với lịch sử của 1 đất nước và ảnh hưởng đến hành
động quản lý cũng như diện mạo cấu hình của 1 quốc gia như: chính
phủ, hệ thống pháp luật và hệ thống giáo dục.
Có khoảng 160 khái niệm về văn hóa và có hàng loạt nghiên cứu đã
được công bố trong những năm gần đây.
Mặc dù việc đo lường văn hóa là vấn đề nan giải, nhưng đã có những
nổ lực để phân loại văn hóa của những quốc gia khác nhau.
Hofstede đã khảo sát nhân viên của IBM từ hơn 60 quốc gia về cách đo
lường văn hóa. Bốn đơn vị đo lường văn hóa của Hofstede bao gồm:
(1) chủ nghĩa cá nhân, (2) khoảng cách quyền lực, (3) né tránh bất ổn,
(4) nam tính (Hofstede, 1980).
05/22/14 22
Văn hóa
Cơ cấu quản trị
Cơ cấu quản trị cơ bản là giống nhau giữa các quốc gia khác nhau (ví
dụ như cơ cấu: Ban Giám đốc), nhưng mức độ quan trọng và chức năng
của quản trị lại khác nhau rất nhiều.
Tại Mỹ, quyền quản trị và quyền sở hữu có khuynh hướng được tách
biệt nhau và quyền sở hữu cổ phần quan trọng đặt dưới sự kiểm soát
của thể chế tài chính và của cải thuộc về cá nhân là một phần của các
danh mục đầu tư, tỷ suất lợi nhuận của danh mục này là lớn nhất.
Các công ty Nhật có hai cơ chế chung về kiểm soát quyền sở hữu cổ
phần trong những nhóm này, đó là kiểm soát theo chiều ngang và kiểm
soát theo chiều dọc.
05/22/14 25
Quyền kiểm soát và quyền quyết định
Quyền kiểm soát và quyền quyết định liên quan đến bản chất của mối
quan hệ giữa người làm thuê và nhà quản lý và tới nguồn gốc của sự
ảnh hưởng lên hành vi và thay đổi tổ chức trong quá trình tổ chức.
Những công ty Đức thích cấu trúc tổ chức có phân quyền.
Các công ty Nhật nhấn mạnh nguyên tắc chất lượng toàn diện về trách
nhiệm, trách nhiệm giải trình, sự linh hoạt, và khả năng làm việc nhóm
(Fruin, 1992). Những luật lệ trong khu vực sản xuất là không có ngoại
lệ nhưng được những người lao động chấp nhận.
Kế hoạch của các công ty Nhật có nhiều mức độ quản lý hơn bản sao
Mỹ của họ.