BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
LƯỢC SỬ VĂN HỌC HÀN QUỐC:
NHỮNG CỘT MỐC DẪN ĐẾN THỜI HIỆN ĐẠI
Mở đầu
Mặc dù người Hàn Quốc có ngôn ngữ riêng từ hàng ngàn năm nay nhưng phải
đến giữa thế kỉ XV họ mới sáng tạo được chữ viết của mình, đó là chữ Hangul. Vì thế,
cũng như ở Việt Nam, mới đầu các sáng tác văn học ở Hàn Quốc cũng được viết bằng
chữ Hán. (Các học giả Hàn Quốc bắt đầu làm thơ theo lối thơ cổ điển Trung Quốc ít
nhất là vào khoảng thế kỉ thứ IV.) Và cũng như tất cả các nền văn học khác, văn học
Hàn Quốc bắt đầu bằng các truyền thống văn học dân gian truyền miệng, trong đó vai
trò đặc biệt thuộc về các bài dân ca và cổ tích mà các vị tiền bối của các bộ lạc kể lại
cho con cháu. Chúng được trình bày ở các hội hè, các lễ lạt tôn giáo, các lễ tế thần và
các cuộc họp chính trị. Những tác phẩm dân gian này chứa đựng những bài học đạo
đức và cả những quy định và tập tục trong xã hội. Như tấm gương phản ánh những
ước mơ, khát vọng của nhân dân, trong văn học Hàn Quốc cổ, cái tốt luôn chiến thắng,
còn cái xấu thì bị trừng trị. Văn học thời kì này còn ca ngợi những phẩm chất cao quí
của con người theo tiêu chuẩn đạo đức đương thời như lòng trung thành với Vua, lòng
nhân đạo, sự tôn kính người trên, tình bạn chân thành và sự trong trắng của phụ nữ.
Khoảng thế kỉ thứ VII, một hệ thống chữ viết, có tên là Idu, được sáng tạo ra cho
phép người Hàn Quốc thực hiện những bản lược dịch các loại sách Trung Hoa. Một số
chữ Hán phù hợp về mặt ngữ âm được sử dụng để biểu hiện những thành tố ngữ âm và
các hậu tố biến đổi trong tiếng Hàn Quốc. Sau đó ít lâu, xuất hiện một hệ thống ghi âm
đầy đủ hơn, gọi là hyangch'al, cho phép ghi lại trọn vẹn những câu văn Hàn Quốc
bằng chữ Hán. Trong một hệ thống khác, kugyol, các chữ Hán giản lược được sử dụng
để biểu thị các yếu tố ngữ pháp và được thêm vào các văn bản. Dù vậy, các tác phẩm
văn học còn lại cho thấy phần lớn văn học Hàn Quốc được viết bằng chữ Hán, chứ
không phải bằng chữ Hàn Quốc, ngay cả sau khi phát minh ra chữ Hangul.
Những t¸c phÈm v¨n häc viết đầu tiên của Hàn Quốc xuất hiện ở Vương quốc
Shilla vào thế kỉ thứ VIII, khi một hệ thống chữ viết được tạo ra một phần từ tiếng
Trung Quốc, dựa theo cách phát âm, gọi là Idu. Chỉ còn 25 tác phẩm thơ, gọi là
hyangga, viết bằng thứ chữ này sót lại đến giờ.
coi là tác phẩm của Vua Yuri, có lẽ là trích từ một bản tình ca. Bài Kong mudoha ka
có nhân vật được coi là một tín đồ Shaman chết đuối trong một cơn mê sảng. Có lẽ nó
phản ánh sự suy tàn của đạo Shaman khi xã hội Hàn Quốc cổ bước vào thời đại có nhà
nước. Tác phẩm còn có một số nhân vật khác như chàng thuỷ thủ, vợ và bạn anh ta.
Một bài ca khác, Tosol ka (năm 28), được nhắc đến trong bộ Samguk sagi như là tác
phẩm mở đầu cho loại thơ thế tục, nhưng đáng tiếc là văn bản của nó không còn giữ
được.
2. Văn học Hàn Quốc thời Ba Vương quốc (từ năm 57 Tr. CN đến năm 668)
Trái với văn học thời thượng cổ được đặc trưng bởi tính chất tập thể trong hoạt
động sáng tạo, văn học thời đại sau đó thể hiện rõ nét tác động mạnh mẽ của những
thay đổi về chính trị, kinh tế và văn hoá trên bán đảo Hàn Quốc. Lúc đó, các vương
quốc trên bán đảo Hàn Quốc ngày càng trở nên thịnh vượng và không ngừng mở rộng
các mối quan hệ nhiều mặt với thế giới bên ngoài. Sự thâm nhập của Phật giáo và chữ
Hán đã làm giàu có hơn đời sống văn hoá tinh thần của cả ba vương quốc, đồng thời
dẫn đến những biến đổi hết sức to lớn. Chính nhờ nó mà người Hàn Quốc đã mở rộng
được tầm nhìn về thế giới. Một trong những hậu quả trực tiếp của những biến đổi này
là hoạt động nghệ thuật đã vượt xa trạng thái của những sinh hoạt cộng đồng mang
tính tự phát, chủ yếu là múa hát, để trở thành phương thức biểu đạt trực tiếp những
trạng thái tình cảm cá nhân. Văn học đã mang tính thế tục hơn. Các nhân vật văn học
bây giờ là những con người trong đời thực thay cho những vị thần hay những vị anh
hùng của bộ lạc thời xưa.
Ba vương quốc thời đó là Koguryo ở miền Bắc, Paekche ở miền Tây Nam và
Silla ở miền Đông Nam. Cả ba vương quốc đều xây dựng quốc gia theo mô hình của
Khổng giáo, theo đó, một trong những căn cứ để khẳng định nền độc lập là có sử kí. Vì
thế, bộ sử đầu tiên của Koguryo và của Paekche xuất hiện vào thế kỉ thứ IV, còn bộ sử
đầu tiên của Silla ra đời vào thế kỉ thứ VI. Tiếc thay, những bộ sử này, cũng như các
bộ sử sau đó không còn giữ được đến ngày nay. Bộ sử cổ nhất còn giữ lại được là bộ
Samguk sagi (Tam Quốc sử kí, 1146) của Kim Pusik.
Các văn sĩ của Vương quốc Koguryo, nơi có vị trí địa lí sát với Trung Hoa, đã có
thể giữ gìn được một số nét độc đáo trong đời sống tinh thần của những người Hàn
Thể loại hyangga xứng đáng được coi là chiếc vương miện của văn học Silla.
Mặc dù người ta hay sử dụng thuật ngữ hyangga để phân biệt dân ca Hàn Quốc với thơ
cổ Trung Quốc, nhưng đúng hơn, nó chỉ 25 tác phẩm thơ hiện còn lại, được ghi bằng
chữ hyangch'al mới được tạo ra thời Vương quốc Silla thống nhất và đầu thời Koryo.
Trong số đó, 14 bài được ghi lại trong bộ Samguk yusa của Iryon, và 11 bài khác
mang tính tôn giáo do một nhà sư tên là Kyunyo ở Kyunyo chon sáng tác (1075, Cuộc
đời Kyunyo). Sử sách cho biết còn có một tuyển tập lớn, Samdaemok, do hai nhà sư là
Taegu và Wi Hong soạn năm 888. Thật đáng tiếc là tác phẩm này đã thất truyền. Tuy
vậy, chỉ cần những bài thơ còn lại cũng cho ta thấy một phong cách thơ độc đáo, vừa
tinh tế vừa tao nhã. Hai tác phẩm tiêu biểu được sáng tác vào thế kỉ thứ VIII là Ch'an
Kip'arang ka (Khúc ngợi ca hiệp sĩ Kip'a), ca ngợi một thành viên của Hwarangdo, và
Che mangmae ka (Bài hát dâng tặng người chị quá cố), một khúc tang lễ.
Cũng trong thời gian này, một số lượng tác phẩm tự sự văn xuôi bằng chữ Hán
xuất hiện. Trong đó trước hết phải kể đến hàng trăm tác phẩm chú giải kinh sách đạo
Phật của các nhà sư như Wonhyo, Uisang, Wonch'uk, Taehyon và Kyonghung. Bên
cạnh đó là những truyện về phép mầu của những nhà sư lỗi lạc, truyện về sự linh
thiêng của những pho tượng Phật, truyền thuyết về các đền chùa, truyện về những
chiến binh dũng cảm của tầng lớp Hwarangdo; ngoài ra còn phải nhắc đến những
truyện kể theo lối truyền kì (ch'uanch'i) chịu ảnh hưởng cả về phong cách lẫn đề tài
của truyện truyền kì Trung Quốc. Chính ba loại văn tự sự vừa kể sau này trở thành nền
tảng của văn xuôi cổ điển Hàn Quốc.
4. Văn học Hàn Quốc thời Koryo (Cao Ly, 935-1392)
Văn học thời Koryo được đặc trưng bởi sự phổ biến ngày càng rộng rãi của chữ
Hán trong sáng tác, sự suy vong của hyangga, và sự bùng nổ của Koryo kayo (Ca khúc
Koryo), một thứ văn học truyền miệng cho đến thời Choson.
Thực ra, sự truyền bá hyangga ở Shilla vẫn tiếp tục cho đến đầu thời Koryo
nhưng đó chủ yếu là những câu cầu nguyện, không còn mang tính thế tục hay nghệ
thuật.
Bậc thầy cuối cùng của hyangga là nhà sư Kyunyo, người đã viết rất nhiều sách
bình chú đồng thời có công lao to lớn trong việc truyền bá đạo Phật. Ông làm thơ bằng
Thế hệ trí thức mới nổi lên khoảng cuối triều đại bắt đầu tiếp nhận tư tưởng của Khổng
Tử và Lão Tử như là triết học của mình. Họ không còn bằng lòng với pyolgok và phải
tìm kiếm một hình thức thơ mới. Đó chính là lí do ra đời của sijo, loại thơ trở nên
thịnh hành dưới Vương triều Yi.
Văn xuôi tự sự cũng đạt được nhiều thành tựu dưới thời Koryo. Nó bao gồm
nhiều thể loại : thần thoại, huyền thoại, cổ tích, liệt truyện - truyện kể về cuộc đời đức
Phật, những vị chân sư và các vị minh quân - và các loại tạp bút. Có một loại truyện
đáng chú ý trong đó nhân vật là những đồ vật và loài vật được nhân cách hoá, như
rượu, giấy, chiếc gậy, đồng tiền, cục nước đá, cây tre hay những con rùa Điển hình
của loại truyện này là Kongbang chon (Chuyện đồng tiền lỗ vuông) của Im Ch'un.
Một mảng văn học quan trọng khác là truyện thơ anh hùng với những kiệt tác như
Tongmyong wang p'yon (Bài ca về Vua Tongmyong, 1193) của Yi Kyubo, viết theo
thể thơ năm âm cổ. Một tác phẩm khác cũng nằm chung mạch cảm hứng này là
Chewang ungi (Lịch sử diễn ca về các nhà Vua và Hoàng đế, 1287) của Yi Sunghyu,
viết theo một thể thơ đặc biệt, mỗi dòng có năm hoặc bảy âm tiết. Một ví dụ điển hình
của thể loại liệt truyện là Haedong kosung chon (Cuộc đời những vị chân sư của Hàn
Quốc, 1215) của Kakhun. Tập phê bình đầu tiên ở Hàn Quốc - viết về thơ và những
vấn đề khác đương thời - là tập P'ahan chip (Những ghi chép ngắn lúc nhàn rỗi,
1260) của Yi Inno (hay Yi Illo). Ngoài phê bình thơ, tập tuỳ bút của Yi Inno còn chứa
đựng những thông tin về tiểu sử của tác giả dưới dạng nhật kí, các nhận xét về các
phong cách và trào lưu văn học đương thời . Ngoài ra, trong đó còn có cả một số ghi
chú về tiểu sử bạn bè và đồng nghiệp của Yi Inno cùng lối sống và thị hiếu văn học
của họ. Cuốn P'ahan chip được coi là cuốn mở đầu cho một loạt những tác phẩm loại
này được sáng tác cuối thời Koryo và trong thời Vương triều Yi.
Hai bộ sử lớn của Hàn Quốc, Samguk sagi (Tam Quốc sử kí, 1146) của Kim
Pusik và Samguk yusa (Tam Quốc lưu sử, thế kỉ thứ XIII) của Iryon cũng đóng một
vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển văn xuôi Hàn Quốc. Điều đó
thực ra không có gì lạ. Tại những quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Việt Nam,
ngày xưa không có sự phân biệt rạch ròi giữa văn học, sử học và triết học. Bộ Sử kí
của Tư Mã Thiên chẳng hạn, được coi là một kiệt tác của văn học Trung Hoa.
Pusik là sử quan trong triều. Khi thực hiện công trình, ông luôn luôn tuân theo những
nguyên tắc của Khổng giáo, coi việc chép sử như là công cụ tốt nhất để loại trừ hay
chống lại những cách cai trị tồi, ca ngợi những cách cai trị tốt. Quan điểm này cuối
cùng dẫn đến việc lịch sử hoá các thần thoại và huyền thoại, trong khi đó lại lược bỏ
những yếu tố siêu nhiên và kì ảo, thứ đóng vai trò linh hồn thần thoại và tạo nên vẻ
đẹp thẩm mĩ cho các thế hệ độc giả sau này. Iryon hiểu rõ điều đó.
Iryon là một nhà sư. Đạo Phật, thứ tôn giáo phát sinh ở ấn Độ xa xôi, coi cuộc
sống trần gian chẳng qua là hư ảo, phù du, hoàn toàn xa lạ đối với cái mà chúng ta
thường gọi là thế giới quan lịch sử. Các nhà sư nói họ không bao giờ chép sử, trừ
trường hợp họ chép lịch sử truyền bá đạo Phật, như ở Tây Tạng. ở Trung Quốc, với
truyền thống sử học đạt đến trình độ hiếm có trên thế giới, trong số hàng ngàn sử gia,
hình như không hề có ai là Phật tử. Trường hợp Iryon có lẽ phải được giải thích bởi
chi tiết là từ nhỏ ông đã được học và thấm nhuần kinh sách của Khổng Tử, vốn được
coi như nền tảng của mọi học vấn trong hàng ngàn năm tại các nước trong vùng.
Trái với bộ sách của Kim Pusik, thuộc loại chính sử, nghĩa là được soạn ra theo
lệnh vua, bộ sách của Iryon thuộc loại dã sử. Trong bộ sách của mình, ông chép rất
nhiều truyện ma quả, thần linh những thứ rất không đáng khuyến khích theo quan
điểm Nho giáo. Vì lẽ đó, trong suốt thời trung cổ, nó ít nổi tiếng hơn nhiều so với bộ
sách của Kim. Mãi đến thế kỉ XIX, Lee Guryon, một nhà nho Hàn Quốc nổi tiếng
đương thời, vẫn còn gọi một cách khinh miệt Samguk yusa là “mớ truyện hoang
đường man rợ”. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà trong suốt thời trung cổ, ở một
nước Hàn Quốc có nghề in phát triển, cuốn sách tuyệt vời này chỉ được tái bản vài lần,
và kể từ năm 1512 cho đến thập kỉ 1920, không đuợc tái bản thêm một lần nào nữa.
Nhưng cuối cùng lịch sử đã trả lại vị trí xứng đáng cho Samguk yusa. Ngày nay,
nó được coi là một kiệt tác của văn học Hàn Quốc.
5. Văn học Hàn Quốc giai đoạn đầu thời Choson (1392 - 1598)
Một cách tự nhiên, văn học thời Vương triều Yi có thể chia làm hai giai đoạn, với
mốc phân chia là thời điểm kết thúc cuộc chiến tranh với Nhật Bản (1597). Giai đoạn
đầu là giai đoạn thịnh vượng của thơ ca, còn giai đoạn thứ hai là thời của văn xuôi. Kế
thừa truyền thống văn học của Silla và Koryo, các nhà văn đầu thời Vương triều Yi đã
Cuối thời Choson, sasol sijo ("thời điệu kể chuyện") phát triển mạnh, cho phép
thể hiện những sắc thái tình cảm lãnh đạm của giới bình dân lúc đó. Sasol shijo bắt
nguồn từ p'yong ("bằng") shijo, trong đó khổ giữa và khổ cuối được cấu trúc dưới
dạng bốn chân, và có độ dài đáng kể. Vì lẽ đó, sasol shijo cũng được gọi là
changhyong ("dạng dài") shijo.
Kasa được viết bằng tiếng Trung Quốc nhưng vẫn được coi là một thể thơ trữ
tình truyền thống của Hàn Quốc và qua nó, các nhà văn thổ lộ tình yêu của mình đối
với vẻ đẹp của thiên nhiên. Người ta thường đánh giá kasa và sijo là hai loại vĩ đại của
thơ Hàn Quốc thời Choson.
Kasa là một loại thơ có hình thức đơn giản, với những “cặp” thơ, mỗi câu gồm ba
hoặc bốn âm tiết, lặp lại bốn lần. Vì nội dung của nó rất phong phú, một số nhà nghiên
cứu nhìn nhận kasa như là một lối văn nghị luận, với những ví dụ tiêu biểu đầu thời
Choson như Sangch'ungok (Khúc ca ngợi mùa xuân) của Chong Kukin;
Myonangjongga (Khúc hát lầu Myonangjong) của Song Sun; và Kwandong pyolgok
(Bài hát của Kwandong), Samiingok (Khúc tưởng nhớ một mĩ nhân) và Songsan
pyolgok (Bài ca núi Songsan) của Chong Ch'iol, v.v. Chủ đề chính của những bài kasa
này là: ngắm cảnh để ngẫm sự đời; gương của các thánh nhân biết kết hợp anbin nakto
(vui với cảnh thanh bần để giữ Đạo); và tình yêu nam nữ như là ẩn dụ của lòng trung
thành của thần dân với Hoàng đế.
Về sau, nối tiếp Pak Illo với Sonsangt'an (Khúc bi ca trên boong tàu) và
Nuhangsa (Lời đường phố), chúng ta gặp trong kasa cuối thời Koryo chủ đề "xuất
ngoại" như trong Iltong chang-yuga (Khúc ca về cuộc Đông du oanh liệt) của Kim
Ingyom và Yonhaengga của Hong Sunhak. Ngoài ra, chúng ta còn thấy một loại kasa
do phụ nữ viết rất phổ biến, naebang kasa (kasa của xóm đàn bà). Càng về sau kasa
càng có nhiều thay đổi, cả về độ dài lẫn về tính thông tục.
Trong số những nhà thơ viết kasa, Chong Ch'iol và Ho Nansorhon được coi là
những tác giả lớn nhất.
Ngay cả sau khi có chữ Hangul, nhiều tác phẩm văn xuôi vẫn tiếp tục được sáng
tác bằng chữ Hán. Tập truyện Kumo sinwha (Những truyện mới từ núi Rùa Vàng) của
Kim Sisup (1435 - 1493) chẳng hạn, là một tác phẩm điển hình cho thể loại truyện
nhiều hơn, đồng thời số người đọc loại truyện này cũng tăng đáng kể. Đặc biệt phổ
biến là p'ansori (truyện hát), một loại văn học xuất hiện cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ
XVIII. Là một nghệ thuật trình diễn. P'ansori kết hợp rất hài hoà với âm nhạc. Do nội
dung đã được "truyện hoá", nó có vai trò rất lớn trong sự phát triển của truyện hư cấu
cổ điển. Trong hai thế kỉ XVII và XIX, loại truyện cổ điển này ngày một nhiều và
phong phú. Lúc bấy giờ nghề cho thuê sách cũng rất phát đạt cùng với sự thịnh vượng
của ngành xuất bản.
Các nhân vật xuất hiện trong Kumo shinhwa là hiện thân của quan niệm về
chaejagain ("trai tài gái sắc"). Tác phẩm cũng vận dụng đến mức triệt để phong cách
biểu hiện thẩm mĩ trong truyền thống văn học chữ Hán. Cùng với những đặc điểm này,
Kumo shinhwa còn mang nhiều yếu tố của truyện thần bí (chongisosol), trong đó nội
dung truyện ít nhiều kì ảo và không lệ thực.
Giữa thời Choson, nhiều truyện kiểu ngụ ngôn xuất hiện, như Susongji (Bài kí về
nỗi đau buồn) của Im Je và Talch'on mongnyurok (Bài kí về chuyến mộng du tới
Talch'on) của Yun Kyeson. Nhưng đến cuối thời Choson, các tác giả như Pak Chiwon
và Yi Eok đã viết những tác phẩm hiện thực bằng chữ Hán. Các tác phẩm như
Hosaengjon (Truyện nhà Nho Ho), Yangbanjon (Một truyện Yangban) và Hojil
(Tiếng hổ gầm) của Pak Chi-won và Shimsaengjon (Truyện nhà Nho Shim) của Yi
chẳng hạn, đều tuân thủ những qui ước chính thống của lí luận văn học cổ điển Trung
Hoa. Nhân vật trong các tác phẩm này khá đa dạng, từ thương nhân, nhà giàu đến kẻ
trộm và kisaeng (kĩ nữ). Nội dung chính của các tác phẩm này là sự phê phán sâu cay
những tệ nạn xã hội và những chuyện nực cười trong đời sống thường ngày. Cùng với
truyện viết bằng chữ Hangul cuối thời Choson, truyện chữ Hán mở ra những con
đường mới của văn xuôi Hàn Quốc.
Sự ra đời của loại truyện tiểu thuyết viết bằng ngôn ngữ Hàn Quốc là hệ quả trực
tiếp của việc sáng tạo ra chữ Hangul. Nối tiếp Hong Kiltong chon của Ho Kyun, cuốn
tiểu thuyết đầu tiên bằng ngôn ngữ Hàn Quốc, viết vào thế kỉ XVII, là hàng loạt tác
phẩm khác như Kuunmong (Giấc mơ chín tầng mây) và Sassi namjonggi (Ghi chép
của bà Sa về chuyến du hành về phương Nam) của Kim Manjung. Hong Kiltong chon
đả phá kịch liệt thái độ phân biệt đối xử của giai cấp cầm quyền đối với nguồn gốc của
trực tiếp và mạnh mẽ của hệ thống giáo dục mới và phong trào văn học và ngôn ngữ
Hàn Quốc (Korean Language and Literature movement). Sau những cải cách Kabo
năm 1894, nhất là từ khi có chiếu Vua ban về giáo dục 1895, hàng loạt trường học
theo kiểu phương Tây được thành lập, sử dụng loại sách giáo khoa mới có tác dụng
truyền bá những kiến thức phương Tây. Nhiều nhóm trí thức cũng được thành lập và
sau đó không lâu là các phong trào Khai Sáng. Đồng thời, sự thành lập Viện Nghiên
cứu Ngôn ngữ Hàn Quốc cùng với những nghiên cứu khoa học cho phép củng cố và
hệ thống hoá ngữ pháp tiếng Hàn. Tất cả những hoạt động này góp phần đáng kể vào
quá trình hiện đại hoá văn học Hàn Quốc. Quan niệm cho rằng tất cả mọi người đều
bình đẳng đã trở thành chủ đề quen thuộc và tấn công mạnh mẽ vào xã hội truyền
thống vốn không bình đẳng.
Văn học thời kì Khai Sáng thu hút được một số lượng độc giả ngày càng lớn nhờ
những phương tiện thông tin đại chúng mới mẻ như báo và tạp chí, trong đó phải kể
đến những tờ báo và tạp chí bằng tiếng Hàn ra đời, như Tongnip sinmun (Độc lập) và
Cheguk sinmun (Điện báo Hoàng gia) Phần lớn các tờ thời đó có in sijo, kasa và cả
tiểu thuyết dài kì. Cũng chính vào thời gian này, tầng lớp nhà văn chuyên nghiệp dần
dần được hình thành. Ngành kinh doanh xuất bản xuất hiện và có thể đứng vững được
nhờ có kỹ nghệ in ấn. Những công ti xuất bản đầu tiên của Hàn Quốc xuất hiện.
Những thể loại văn học đầu tiên nổi bật trong đời sống văn học sau những cải
cách năm 1894 là shinsosol (tân tiểu thuyết) và ch'angga (bài hát theo lối mới). Những
hình thức văn học truyền thống được làm sống dậy bằng cách phóng tác các tác phẩm
văn học nước ngoài hoặc bằng cách viết lại các tác phẩm cổ điển bằng tiếng mẹ đẻ.
Lúc bấy giờ, ch'angga (bài hát lối mới) và shinch'eshi (thơ mới) được chào đón
nhiệt liệt như là những hình thức thơ tân tiến. Chúng có vai trò rất lớn trong việc hình
thành và phát triển chayushi (thơ tự do) hiện đại sau này. Tiếp nhận những ảnh hưởng
của thơ phương Tây, shinch'eshi từ bỏ những niêm luật cứng nhắc của thơ truyền
thống, mở đường cho những phong cách mới trong tác phẩm của các nhà thơ như
Ch'oe Namson với Hae egeso sonyon ege (Từ Biển đến Trẻ thơ - 1908), Kkot tugo
(Đặt hoa xuống) và T'aebaeksan shi (Những bài thơ về núi T'aebaeksan) Cùng với
hình thức mới mẻ, có rất nhiều ví dụ cho thấy trong đó tiếng thơ bị chính trị hoá, điều
ngoài, truyền bá khoa học kĩ thuật và bài trừ mê tín dị đoan và những tập tục lạc hậu.
Đến thời gian trước khi Nhật xâm chiếm Hàn Quốc năm 1910, shinsosol bắt đầu
biến đổi đáng kể. Các tác phẩm về sau thường chú trọng đến thân phận của nhân vật
với những chuyện tình phần lớn là cũ và khuôn sáo. Tiểu thuyết hiện đại của Hàn
Quốc được coi là bắt đầu vài năm sau khi Nhật xâm chiếm Hàn Quốc với tác phẩm của
Yi Kwangsu.
Ch'oe Namson cũng như Yi Kwangsu và các nhà văn cùng thời với họ đều chưa
thoát khỏi hoàn toàn những chuẩn mực của văn học truyền thống. Họ chưa thể hiện đại
hoá hoàn toàn cách diễn đạt cũng như lối sử dụng điển tích đã trở nên nặng nề và mòn
sáo.
Giai đoạn này cũng là giai đoạn phát triển mạnh của truyện tiểu sử, loại truyện
được sáng tác dựa trên thị hiếu của trào lưu Khai Sáng, nhằm mục đích hun đúc tinh
thần yêu nước và khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Những tác phẩm điển hình của thể loại
này là Aeguk puinjon (Truyện một phụ nữ yêu nước, 1907) của Chang Jiyon, và Elchi
Mundok của Shin Ch'ae-ho, 1908. Những truyện tiểu sử này dựng lên hình ảnh những
anh hùng với những phẩm chất mà thời đại lúc đó đòi hỏi. Cuốn Kumsu hoeuirok
(Ghi chú về cuộc gặp gỡ của chim và thú, 1908) của An Kukson là một ví dụ khác:
thông qua lời nói của loài vật, nó phê phán những thói đồi bại về luân lí trong thế giới
con người.
Sau thời kỳ này, văn học Hàn Quốc bước vào thời kỳ hiện đại, với ba mốc lớn là
văn học thời kỳ Nhật thuộc (thời kỳ bị Nhật chiếm đóng), thời kỳ đất nước bắt đầu bị
chia cắt và thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao độ./.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Trung tâm Dịch vụ thông tin hải ngoại Hàn Quốc. Hàn Quốc (Đất nước - con ng-
ười). Seoul, 1993.
2. Jeannie .J. Park, Edward J. Park, Sylvia R. Chwe, Beckhee và một số người khác.
Hàn Quốc xin chào bạn. Cục Thông tin Hàn Quốc. Seoul, 1999.
3. Nguyễn Vĩnh Sơn. Tìm hiểu Hàn Quốc. Viện Nghiên cứu và Phổ biến tri thức
bách khoa - Trung tâm Quốc gia biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam. Hà Nội,