Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ: - Pdf 13

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
DANH SÁCH NHÓM 4
DANH SÁCH NHÓM 4
LỚP CAO HỌC NGÀY 3- KHÓA 21
LỚP CAO HỌC NGÀY 3- KHÓA 21
STT HỌ VÀ TÊN
ĐÁNH GIÁ MỨC
ĐỘ ĐÓNG GÓP &
HOÀN THÀNH
CHỮ KÝ
1 Đào thân Chinh Hoàn thành: 85%
2
3 Trần Thị Trà My
Tích cực : 100%
4 Bùi Đăng Khoa
Hoàn thành : 90%
5 Nguyễn Thi Khánh Linh
Tích cực : 95%
6 Trần Đức Phương
Tích cực : 95%
7 Nguyễn Thành Phi
Hoàn thành: 90%
8 Nguyễn Viết Quý
Hoàn thành : 90%
9 Nguyễn Hữu Ttrường
Hoàn thành : 85%
10 Nguyễn Du Thuần
Tích cực : 95%
11 Lê thị Vịnh (Trưởng nhóm)
Tích cực : 100%
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 1 SVTH: NHÓM 04

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 3 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyt Ti Chớnh Tin T K21- Lp Ngy 03
MUẽC LUẽC
Trang
LễỉI Mễ ẹAU 5

chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Tuy tác dụng chưa thể xác định được
ngay nhưng có một điều khá rõ ràng là nhìn nhận có sự mạnh tay hơn trong xử lý
ngân hàng yếu kém.
Ở góc độ và khả năng phân tích và thu thập thông tin, nhận định, đánh
giá vấn đề của một nhóm với các thành viên đang là sinh viên, những người
tham gia thực hiện cho rằng bài viết vẫn có ít nhiều hạn chế. Do đó, nhóm xin
chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm của thầy T.S Diệp Gia
Luật cùng mong muốn ghi nhận các ý kiến đóng góp của thầy và các anh (chị)
đề bài viết hoàn thiện hơn.
Tp.HCM, tháng04/2012.
I. CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN DỤNG
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 5 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
1. Khái niệm kiểm soát lãi suất tín dụng
Kiểm soát lãi suất tín dụng các hành động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
thông qua các chính sách lãi suất để điều tiết lãi suất tín dụng ở một mức hợp lý tùy
theo bối cảnh kinh tế nhằm duy trì sự ổn định của thị trường tiền tệ.
Chính sách lãi suất là một bộ phận của Chính sách tiền tệ (CSTT), bao gồm các
nội dung chủ yếu: Mục tiêu hoạt động là kiểm soát được biến động của lãi suất thị
trường; các quan điểm và định hướng điều hành; cơ chế kiểm soát lãi suất thị
trường tiền tệ (TTTT) phù hợp với mức độ phát triển của TTTT, khả năng điều tiết
tiền tệ và mức độ độc lập của Ngân hàng nhà nước (NHNN); các giải pháp hỗ trợ
khác.
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách lãi suất là bộ phận của chính sách tiền
tệ, tác động đến cung- cầu vốn và hiệu quả phân bổ các nguồn lực tài chính trong
nền kinh tế.
Ở Việt Nam, sau hơn 10 năm đổi mới, ngành ngân hàng đã đạt được
những thành tựu nhất định, góp phần không nhỏ vào những thành quả chung của
nền kinh tế. Trong nhiệm vụ xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng
Nhà nước đã rất chú trọng đến việc đổi mới các công cụ điều tiết như hạn mức tín

Để lãi suất tín dụng trở thành đòn bẩy kích thích và mở rộng các quan hệ tín
dụng trong nền kinh tế thì phải đảm bảo lãi suất tín dụng được kiểm soát trong
khung giới hạn sau đây:
Tỷ lệ lạm phát => lãi suất tín dụng => tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Nếu vượt quá giới hạn trên, lãi suất tín dụng sẽ gây ra tác động tiêu cực đối với
nền kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bất ổn, rối loạn.
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHNN sẽ căn
cứ vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất áp dụng trong
toàn hệ thống ngân hàng. Thông thường, người ta thường quy định hai chỉ tiêu cơ
bản là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản.
- Lãi suất cơ bản: Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các
loại lãi suất khác hình thành trong nền kinh tế thị trường. Đó là loại lãi suất chiếm
vị trí quan trọng trong cơ chế thị trường. Lãi suất cơ bản do NHNN xác định và
công bố trên cơ sở tình hình thực tế của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền
tệ quốc gia.
• Lãi suất cơ bản là lãi suất tái chiết khấu: Đây là phương pháp phổ
biến được NHNN các nước áp dụng. Do lãi suất này được chủ động
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 7 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
công bố và được xem xét, tính toán tương đối thường xuyên nên thực
sự đóng vai trò quyết định đối với các mức lãi suất kinh doanh cũng
như cung cầu vốn của các TCTD. Nhưng lãi suất chiết khấu lại mang
nặng tính chất để điều hành chính sách tiền tệ.
• Lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa: Thực chất của lãi suất cơ
bản loại này là NHNN công bố và kiểm soát lãi suất tiền gửi tối đa và
tự do hoá lãi suất cho vay. Các TCTD sẽ ấn định các mức lãi suất tiền
gửi trong phạm vi khống chế lãi suất tiền gửi tối đa và ấn định các
mức lãi suất cho vay cụ thể phù hợp với cung cầu về vốn.
• Lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay tối đa: NHNN công bố một mức
lãi suất trần nhưng có thể quy định một số mức biên độ phù hợp với

ấn định luôn mức lãi suất đi vay của Nhà nước.
3. Vai trò kiểm soát lãi suất tín dụng
Giữ vai trò là công cụ để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Qua lãi suất
cơ bản, NHNN tác động vào thị trường tiền tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín
dụng, giữ mức tương quan cần thiết giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ. Mặt khác,
lãi suất cơ bản là giá cả sử dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cở sở hình thành
lãi suất thị trường, tức là lãi suất kinh doanh tiền tệ. Nó là điểm dung hoà một cách
tự nhiên lợi ích của người gửi tiền, của người vay tiền và của TCTD. Lãi suất cơ
bản được xác định một cách trực tiếp dưới nhiều góc độ. Nếu đứng trên giác độ bảo
vệ lợi ích của khách hàng ( người gửi tiền và người vay vốn) người ta quy định lãi
suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa. Điều này có nghĩa là, vì lợi ích của
người gửi tiền, các TCTD không được hạ lãi suất một cách tuỳ tiện và vì yêu cầu
phát triển sản xuất, các tổ chức tín dụng không được tăng lãi suất cho vay quá mức.
Nếu đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của các TCTD, tạo khuôn khổ cạnh tranh lành
mạnh, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, người ta quy định lãi suất cơ bản theo
chiều hướng ngược lại đó là quy định lãi suất tiền gửi tối đa và lãi suất cho vay tối
thiểu. Điều này làm cho các TCTD không được vì muốn tạo lợi thế trong cạnh
tranh mà nâng lãi suất huy động quá cao hoặc cho vay theo lãi suất quá thấp, gây
thiệt hại chung cho toàn hệ thống các TCTD. Khi xác định lãi suất cơ bản phải tính
đến tổng thể quan hệ cung cầu vốn thông qua một loạt các yếu tố trong hoạt động
kinh doanh tiền tệ thông thường. Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân, mức tăng
trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát dự báo hàng quý, hàng năm, lãi suất thực dương cho
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 9 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
người gửi tiền, bù đắp chi phí và có lãi cho TCTD, yêu cầu điều hành chính sách
tiền tệ từng thời kỳ, rủi ro trong hoạt động tín dụng, mức độ dự trữ bắt buộc, lãi
suất hình thành trên thị trường tiền tệ nói chung, mối tương quan giữa lãi suất nội tệ
và lãi suất ngoại tệ, mối tương quan giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái Có rất nhiều
cách hiểu khác nhau về lãi suất cơ bản, cách thức xác định và điều hành lãi suất cơ
bản. Có thể lấy lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa, lãi suất cho vay tối đa, lãi

thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi NSNN
nhằm thực hiện mục tiêu ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, bảo đảm an sinh xã hội (năm 2011).
Đỉnh điểm của năm 2008, do chịu ảnh hưởng chung của sự biến động lớn
của nền kinh tế trong nước, thị trường ngân hàng cũng phải cùng đi chung con
thuyền biến động về lãi suất và tỷ giá, Từ đó, các chính sách kích cầu, chính sách
hỗ trợ lãi suất được thực hiện trong các năm 2008, 2009 và dần kết thúc. Từ năm
2010, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phải đi theo quỹ đạo thực sự của nó, các doanh
nghiệp Việt Nam theo đó cũng phải chứing minh được năng lực và tự chủ động
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thay cho sự trông chờ vào những
chính sách hỗ trợ của Nhà nước.Ngân hàng NN rơi vào tình trạng khăn về thực thi
các chính sách Tiền tệ và cũng xuất hiện dày đặc tần suất điềi chỉnh lãi suất trong
điều hành hoạt động ngân hàng.
Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước đạt mức 6,78%, vượt chỉ tiêu kế
hoạch đặt ra là 6,5%. Tốc độ tăng trưởng này có thể khẳng định Việt Nam đã vượt
qua được suy thoái do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới và lấy lại được
tốc độ tăng trưởng cao gần bằng các mức tăng trưởng của các năm trước đó.
Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng không cao do tính hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế còn thấp. Tăng trưởng kinh tế chưa thực sự dựa trên cơ sở năng
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 11 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
suất lao động và nâng cao hiệu quả mà chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng,
tăng khối lượng các nguồn lực, nhất là tăng vốn đầu tư. Năm 2010, tổng vốn đầu tư
toàn xã hội theo giá thực tế đạt 830,3 ngàn tỉ đồng, tăng 17,1% so với năm 2009.
Với kết quả này, tỉ lệ đầu tư so với GDP đã giảm từ mức 42,8% năm 2009 xuống
còn 41,9% vào năm 2010, nhưng vẫn cao hơn mức 41,3% của năm 2008. Đặc biệt,
trong tổng vốn đầu tư thì vốn đầu tư Nhà nước, bộ phận có hiệu quả thấp nhất, vẫn
chiếm tỷ trọng lớn nhất là 38,1% (Báo cáo thường niên, Chỉ số tín nhiệm Việt
Nam).
Bên cạnh đó, tỷ lệ lạm phát cao gây bất ổn kinh tế vĩ mô. Trong năm 2010, chỉ

Thị trường tài chính cũng có những chuyển biến tích cực. Về tín dụng, với việc
triển khai quyết liệt chính sách thắt chặt tiền tệ đã kiểm soát được tăng trưởng tín
dụng và tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp. Cả năm 2011, tổng phương tiện
thanh toán tăng khoảng 10% (mục tiêu đề ra 16%). Vốn tín dụng được ưu tiên cho
sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ. Giảm tỷ trọng vốn vay của
khu vực phi sản xuất. Lãi suất tín dụng đã có xu hướng giảm. Về nguồn vốn từ nước
ngoài như ODA, kiều hối trong năm vừa qua đều có tăng trưởng nhẹ. Hiệu quả sử
dụng vốn ODA của Việt Nam được nhiều nhà đầu tư tin tưởng.
• Chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của NHNN 2010 - 2011.
Quyết định số 2619/QĐ-NHNN ngày 05/11/2010 và Quyết định số 2868/QĐ-
NHNN ngày 01/12/2010 về việc quy định lãi suất cơ bản bằng đồng VND là 9%.
Theo đó, mức lãi suất cao nhất trong các giao dịch không vượt quá 150% lãi suất cơ
bản mà Ngân hàng nhà nước đưa ra, kể cả lãi suất tín dụng.
Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 02 năm 2011: Về
những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo
đảm an sinh xã hội: Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; Thực hiện
chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, phối hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và
chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát; điều hành và kiểm soát để bảo đảm tốc
độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng
15 - 16%; tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh,
nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa;
giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực
bất động sản, chứng khoán.Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư
công, giảm bội chi ngân sách nhà nước.
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 13 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
Thông tư số 14/2011/TT-NHNN ngày 1/6/2011; quy định mức trần huy động
vốn bằng Đô la Mỹ của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng. Giảm mức trần lãi
suất huy động USD của cá nhân từ mức 3% xuống 2%, của tổ chức từ 1% xuống
0,5%.

Quyết định 407/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất
tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử
liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hang.
Thông tư số 05/2012/TT-NHNN ngày 12 tháng 3 năm 2012 Sửa đổi, bổ sung
một số điều của Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28 tháng 9 năm 2011 quy
định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng
là 5%/năm. Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là
13%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với
tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 13,5%/năm.
Thông tư số 08/2012/TT-NHNN quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền
gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 4%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối
với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân
cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là
12,5%/năm. Lãi suất huy động đầu vào giảm cũng kéo theo một loạt mức lãi suất
chủ chốt khác giảm theo. Cụ thể, lãi suất tái cấp vốn là 13%/năm; lãi suất tái chiết
khấu là 11%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng
và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các
ngân hàng là 14%/năm.
Ta có thể tóm lược các chính sách và tác động của nó qua biểu đồ sau:
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 15 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 16 SVTH: NHÓM 04
Thông tư 30/2011/TT-NHNN ngày
28/09/2011
Bổ sung: Lãi suất tối đa không kỳ hạn và có
kỳ hạn dưới 1 tháng là 6%/năm
=> nhằm đối phó tình trạng một số ngân
hàng huy động kỳ hạn rất ngắn (24 giờ, 2
ngày, 1 tuần, 2 tuần) với mức lãi suất tối đa

Lãi suất
tín dụng
Các Ngân hàng
thương mại
Các Ngân hàng
thương mại
Người dân /
tổ chức có
vốn nhàn rỗi
Người dân /
tổ chức có
vốn nhàn rỗi
Người dân /
tổ chức
cần vốn
Người dân /
tổ chức
cần vốn
Ngân Hàng
Nhà
Nước
Ngân Hàng
Nhà
Nước
Thị trường liên
ngân hàng
Thị trường liên
ngân hàng
Kiểm soát trần lãi suất tiền gửi
Kiểm soát trần lãi suất tín dụng

qua tiết kiệm lại khá thấp khiến các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào vốn vay.
Nguồn vốn khan hiếm và LS cao đẩy nhiều DN rơi vào tình trạng khó khăn và đứng
trước nguy cơ phá sản. Cùng với đó, nợ xấu của ngân hàng cũng có chiều hướng
tăng lên do không thu hồi được nợ. Tóm lại, nguyên nhân khiến Lãi suất tại VN
đang ở mức quá cao chính là do cầu tiền lớn, trong khi cơ cấu nền kinh tế lại kém
hiệu quả.
Ngoài ra, việc lạm phát cùng kỳ 12 tháng đã vượt qua đỉnh có thể nói là hệ quả
trực tiếp của chính sách thắt chặt tiền tệ trong năm 2011. Khác với các ngân hàng
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 18 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
trung ương khác, NHNN thắt chặt tiền tệ thông qua ba kênh: tăng lãi suất chính
sách, bóp nghẹt thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, và áp đặt hành chính trần tín
dụng. Đây là liều thuốc đắng Việt Nam cần phải uống sau nhiều năm quá say sưa
với tăng trưởng nóng. Chính sách thắt chặt tiền tệ hà khắc đã đẩy nhiều doanh
nghiệp vào tình trạng khó khăn, nhất là những doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều
vào vốn vay. Con số hơn 50.000 doanh nghiệp đóng cửa hoặc ngừng hoạt động
trong năm 2011 là bằng chứng chính sách tiền tệ đã phát huy tác dụng, dù không ai
mong muốn như vậy. Khi doanh nghiệp khó khăn và chậm trả nợ trong lúc thanh
khoản của hệ thống bị NHNN siết chặt, nợ xấu trong khối ngân hàng gia tăng nhanh
chóng, nhất là những ngân hàng không có tiềm lực mạnh. Nhu cầu cải tổ hệ thống
ngân hàng vốn đã yếu kém là điều tất yếu và NHNN đang ráo riết triển khai một kế
hoạch cải tổ như vậy. Việc thanh lọc những doanh nghiệp và ngân hàng yếu kém
trong năm qua và sắp tới, xét trên khía cạnh hiệu quả kinh tế, là điều cần thiết cho
mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững của Việt Nam. Nới lỏng tiền tệ quá sớm có
thể làm công cuộc tái cấu trúc này không đi đến đích.
Lãi suất cao là những khó khăn thanh khoản cục bộ, riêng lẻ tại một số ngân
hàng, biểu hiện thông qua việc lách trần Lãi suất huy động, gây áp lực thanh khoản
cho hệ thống, khiến mặt bằng Lãi suất không thể giảm như mong muốn. Căng thẳng
thanh khoản không chỉ vì các ngân hàng khó huy động vốn của các tổ chức, dân cư
mà còn do các ngân hàng này không vay được vốn của các ngân hàng khác trên thị

việc thực hiện chính sách lãi suất; chưa có cơ chế thích hợp để kiểm soát các nhân
tố cung - cầu vốn thị trường; tín dụng ưu đãi của chính phủ ngày càng mở rộng; các
doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chậm được sắp xếp lại.
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 20 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
III. NHẬN ĐỊNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN
DỤNG VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG NĂM 2012.
 6 Tháng cuối năm 2011, doanh nghiệp thật sự đương đầu với khó khăn
toàn diện.
Từ cuối quý 1/2011, sau khi Chính Phủ ban hành nghị quyết 11 thắt chặt tiền tệ,
giảm tỷ lệ cho vay phi sản xuất để kiềm chế lạm phát và ổn định nền kinh tế. Khi
đó, nhiều doanh nghiệp cảm nhận đây là sức ép nhất thời, và sẽ nới lỏng tiền tệ để
thúc đẩy kinh tế vào các tháng cuối năm. Tuy nhiên, mặc cho nhiều doanh nghiệp
kêu rên sắp phá sản sau mấy tháng bị khan vốn và lãi suất cao, Chính phủ vẫn tiếp
tục thực hiện kiểm soát tiền tệ chặt trong quý 4/2011 và năm 2012. Với tỷ lệ tăng
trưởng cung tiền và tín dụng năm 2011 giảm mạnh đạt chưa tới 50% so với các năm
trước, làm cho các doanh nghiệp bị khó khăn vừa không vay được vốn, không chỉ
các doanh nghiệp BĐS và xây dựng mà cả các doanh nghiệp ngành khác. Thống kê
một số công ty SXKD hàng đầu trên TTCK cho thấy tỷ suất sinh lời 2011 giảm
30% so với 2010 và giảm phân nửa so với 2009. Trong nghiên cứu gần đây của
VCCI cũng chỉ ra lợi nhuận bình quân quý 4/2011 của các doanh nghiệp SME đã
giảm 18% so với quý 3.
ROE của một số công ty SXKD hàng đầu
ROE các doanh nghiệp năm 2011 giảm mạnh so với các năm trước cho thấy
tình cảnh khó khăn của doanh nghiệp hiện nay
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 21 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
 Năm 2012 là năm của quản trị tài chính – kinh doanh trong giai đoạn
đầu của tái cấu trúc nền kinh tế.
Thông điệp mới nhất của Chính Phủ cho thấy vẫn tiếp tục kiểm soát tiền tệ để

• Tinh gọn SX để giảm vốn: quyết liệt cắt giảm những hoạt động,
sản phẩm không chủ lực, sinh lợi thấp để giảm nhu cầu vốn lưu
động và vốn đầu tư.
 Các giải pháp chiến lược quản trị dài hạn : Các giải pháp này đòi hỏi
quyết liệt trong nhận thức, kiên trì trong triển khai để cấu trúc doanh nghiệp
lên một tầm cao mới, đủ khả năng cạnh tranh và phát triển trong giai đoạn
mới, bao gồm:
• Quản trị Minh bạch để tăng sức mạnh tài chính và tăng hình ảnh
thương hiệu: Từng bước áp dụng mô hình quản lý minh bạch của
công ty cổ phần đại chúng để phát huy nguồn lực nội tại và nguồn
lực bên ngoài. Tiến tới cổ phần hóa để tăng nguồn lực tài chính,
đồng thời tạo sự tin tưởng cho khách hàng, tăng giá trị thương
hiệu và thị phần
• Áp dụng quản trị - công nghệ để tăng năng suất lao động: Thời
kỳ đầu tư chiều rộng từ thâm dụng vốn đã không còn hiệu quả.
Doanh nghiệp phải tập trung đầu tư chiều sâu, tái lập quy trình
sản xuất theo hướng nâng cao năng suất lao động trong khâu sản
xuất dựa trên công nghệ mới và quy trình sản xuất thân thiện với
môi trường.
• Khách hàng là mục tiêu phục vụ : Để đảm bảo thị trường bền
vững trong môi trường cạnh tranh, thì sự hài lòng của khách hàng
là tiêu chí số 1. Cần tập trung khâu dịch vụ chăm sóc khách hàng
theo hướng “một cửa - một dấu” , giảm thủ tục và các khâu trung
gian.
Bên cạnh các giải pháp nâng cao tính độc lập, khả năng hoạt động của NHNN:
Từng bước phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ
và NHNN trong quá trình hoạch định và thực thi CSTT; cấu trúc lại NHNN theo mô
hình quản lý tập trung, hiệu quả, phù hợp với chức năng của NHNN; củng cố các
thiết chế TTTT có quy mô đủ lớn; ban hành các quy định mới về an toàn hệ thống
TCTD, kế toán và kiểm toán ngân hàng; xây dựng hệ thống các biện pháp kiểm soát

quan truyền thông để thông tin hành vi vi phạm và kết quả xử lý đối với TCTD;
Xây dựng đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng để nâng cao chất lượng, hiệu quả
và an toàn hệ thống.
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 24 SVTH: NHÓM 04
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
Nghiên cứu, sớm ban hành một số văn bản hướng dẫn nghiệp vụ tín dụng như:
vay vốn giữa các TCTD, đầu tư tài chính, trong đó có hoạt động đầu tư trái phiếu
doanh nghiệp, ủy thác, nhận ủy thác đầu tư…
Điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo kiểm
soát lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiểm soát tổng phương tiện thanh
toán 14-16% và tín dụng tăng trưởng 15-17%.
Kiểm soát tăng trưởng tín dụng và dư nợ mua trái phiếu doanh nghiệp phát
hành lần đầu. Giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với các nhóm TCTD trên cơ sở
xếp loại TCTD của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và theo nguyên tắc
TCTD hoạt động tốt thì mức tăng trưởng tín dụng cao hơn nhóm TCTD hoạt động
chất lượng thấp hơn. Tập trung vốn phục vụ lĩnh vực sản xuất và các dự án, phương
án có hiệu quả, kiểm soát dư nợ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích ở mức
hợp lý. Thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ cho vay bằng ngoại tệ để đảm
bảo tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ phù hợp khả năng huy động vốn, chủ trương
hạn chế đô la hóa trong nền kinh tế.
Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt theo tín hiệu thị trường,
phù hợp với quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, diễn biến cán cân thanh
toán quốc tế và các cân đối vĩ mô; tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý
ngoại hối, khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, thu hút các nguồn tiền đầu tư,
kiều hối, từ nước ngoài về nước, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối nhà nước.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát thị trường tiền tệ và hoạt
động ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ chất lượng hoạt động của các TCTD.
Triển khai đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại hoạt động ngân hàng theo Đề án
được Chính phủ phê duyệt với nguyên tắc không để xảy ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm
soát, từng bước nâng cao tính an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status