TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾVÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế tới ngành dịch vụ du lịch của Việt Nam
Sinh viên thực hiện Trần Thị hà Vân
Lớp : Pháp 2
Khoá : K 43
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Thị Mơ Hà Nội, tháng 05/2008
i
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 0
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 3
I. KHÁI NIỆM VỀ DỊCH VỤ, DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT
2.2. ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM 54
2.3. ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ DU LỊCH
CỦA VIỆT NAM 57
2.4. CÁC ẢNH HƢỞNG TIÊU CỰC TỚI NGƢỜI DÂN 62
3. NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC ẢNH HƢỞNG TIÊU CỰC 65
3.1. VỀ PHÍA NHÀ NƢỚC 65
3.2. VỀ PHÍA NGÀNH DU LỊCH 69
3.3. VỀ PHÍA DOANH NGHIỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ DU LỊCH 71
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT
NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG
THỜI GIAN TỚI 74
I. DỰ BÁO XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN TỚI 74
II. TÌM HIỂU KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRONG VIỆC PHÁT
TRIỂN DỊCH VỤ DU LỊCH 80
1. KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 80
2. KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE 85
III. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ 86
1. NHÓM GIẢI PHÁP VỀ PHÍA NHÀ NƢỚC 86
1.1. HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, CHÍNH SÁCH VỀ DU LỊCH
NHẰM TẠO ĐIỀU KIỆN CHO DU LỊCH PHÁT TRIỂN 86
1.2. XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC CẠNH TRANH DU LỊCH QUỐC GIA
NHẰM TẠO THƢƠNG HIỆU CHO DU LỊCH 91
1.3. HOÀN THIỆN VIỆC PHÂN CẤP QUẢN LÍ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH
Ở TRUNG ƢƠNG VÀ ĐỊA PHƢƠNG 92
iii
2. NHÓM GIẢI PHÁP VỀ PHÍA NGÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH 93
2.1. TỔ CHỨC CÔNG TÁC LỮ HÀNH, COI TRỌNG DU LỊCH TRONG
NƢỚC 93
Hiệp định chung về thƣơng
mại dịch vụ
GNP
National
Tổng sản phẩm quốc gia
HNKTQT
Hội nhập kinh tế quốc tế
MICE
Meeting, Incentive,
Convention, Exhibition
Hội họp, Khen thƣởng, Hội
nghị và Triển lãm
PATA
Pacific Asia Travel
Association
Hiệp hội Du lịch Châu á -
Thái Bình Dƣơng
UNWTO
World Tourism Organisation
Tổ chức Du lịch thế giới
USD
USD Dollar
Đôla Mĩ
WTO
World Trade Organisation
Tổ chức Thƣơng mại thế
giới
tăng trƣởng nhanh và con ngƣời nơi đây hiền hoà, hiếu khách.
Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của du lịch, sự vận động và phát
triển của các Tổ chức du lịch quốc tế và khu vực là một tất yếu khách quan. Xu
hƣớng này làm tăng khả năng liên kết của ngành du lịch trên toàn thế giới. Ngành
dịch vụ du lịch của Việt Nam cũng đang trên con đƣờng hội nhập với du lịch thế
giới. Sự phát triển thành công của ngành du lịch Việt Nam sẽ đóng góp quan trọng
vào tốc độ tăng trƣởng của Việt Nam. Tuy nhiên, những gì ngành du lịch đạt đƣợc
vẫn còn hết sức khiêm tốn, chƣa thực sự tƣơng xứng với tiềm năng du lịch của đất
nƣớc. Thực tế cho thấy tác động của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tới
ngành dịch vụ du lịch Việt Nam rất phức tạp, có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực,
mang lại những cơ hội lớn, đồng thời đặt ra những thách thức lớn đối với ngành
dịch vụ du lịch Việt Nam.
Để có giải pháp vƣợt qua thách thức và tận dụng cơ hội cho ngành du lịch,
cần phải có sự nghiên cứu cụ thể về những tác động của quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế đối với ngành dịch vụ này. Đó là lí do để vấn đề “Tác động của quá trình
1
hội nhập kinh tế quốc tế tới ngành dịch vụ du lịch của Việt Nam” đƣợc lựa chọn
làm đề tài cho khoá luận này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khoá luận là nghiên cứu tác động của quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế đến ngành dịch vụ du lịch để đề ra các giải pháp thúc đẩy ngành dịch vụ du
lịch phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khoá luận có nhiệm vụ tìm hiểu các cam kết quốc về dịch vụ du lịch mà Việt
Nam đã kí kết, nghiên cứu các tác động của mở cửa dịch vụ du lịch do việc thực
hiện các cam kết đó, dự báo xu hƣớng phát triển của ngành dịch vụ du lịch của Việt
Nam, đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm phát triển du lịch trong quá trình hội nhập
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH VIỆT
NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
I. KHÁI NIỆM VỀ DỊCH VỤ, DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ NGÀNH DỊCH VỤ
VIỆT NAM
1. Khái niệm về dịch vụ và ngành dịch vụ
1.1. Dịch vụ
Cho đến nay, chƣa có một định nghĩa thống nhất về địch vụ. Tính vô hình và
khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của các loại hình địch vụ làm cho
việc nêu ra một một định nghĩa trở nên khó khăn.
Theo lí thuyết kinh tế học, dịch vụ là một loại sản phẩm kinh tế, không phải là
vật phẩm, mà là công việc của con ngƣời dƣới hình thái lao động thể lực, kiến thức và
kĩ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thƣơng mại. Theo cách chung nhất có hai
cách hiểu về dịch vụ. Theo nghĩa rộng, dịch vụ đƣợc coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba
trong nền kinh tế quốc dân. Theo cách hiểu này, các hoạt động kinh tế nằm ngoài 2
ngành công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ
là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh, bao gồm các hỗ trợ trƣớc, trong và
sau khi bán, là phần mềm của sản phẩm đƣợc cung ứng cho khách hàng.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1, dịch vụ là “những hoạt động phục
vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”
1
. Các hoạt
động phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh nhƣ nghiên cứu thị trƣờng, quảng
cáo tiếp thị sản phẩm, vận chuyển hàng hoá, thanh toán qua ngân hàng đều là các
dịch vụ. Các hoạt động phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt nhƣ vui chơi, giải trí, thể
thao, y tế, giáo dục, du lịch cũng là dịch vụ.
- Tính vô hình: Sản phẩm dịch vụ về cơ bản là sản phẩm phi vật chất, sản
phẩm vô hình, không nhìn thấy đƣợc, không thể nhận biết đƣợc bằng thị giác, khứu
giác, vị giác, xúc giác. Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thƣờng
khác để cung cấp dịch vụ.
1.2. Ngành dịch vụ
Tổ chức thƣơng mại thế giới phân loại dịch vụ dựa trên CPC (Central
Products Classification - Phân loại các sản phẩm chủ yếu). WTO phân loại dịch vụ
dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế. Việc phân loại dịch vụ theo WTO rất thích hợp
cho việc xúc tiến đàm phán về mở cửa thị trƣờng dịch vụ quốc tế. Theo phân loại
5
của WTO, dịch vụ đƣợc phân thành 12 ngành, trong mỗi ngành lại đƣợc phân thành
các phân ngành (hay còn gọi là các tiểu ngành), tổng cộng có 155 phân ngành.
Hệ thống phân loại của WTO phân chia dịch vụ thành 12 ngành bao gồm:
- Các dịch vụ kinh doanh: dịch vụ chuyên ngành, dịch vụ liên quan đến máy
tính, dịch vụ nghiên cứu và triển khai (R&D), các dịch vụ bất động sản, các dịch vụ
cho thuê không qua môi giới, các dịch vụ kinh doanh khác.
- Các dịch vụ truyền thông: các dịch vụ bƣu điện, các dịch vụ đƣa thƣ, các
dịch vụ viễn thông, các dịch vụ nghe nhìn, các dịch vụ truyền thông khác.
- Các dịch vụ xây dựng và kĩ sƣ công trình: Tổng công trình xây dựng nhà cao
ốc, tổng công trình xây dựng cho các công trình dân sự, công việc lắp đặt và lắp ráp,
công việc hoàn thiện và kết thúc xây dựng, các dịch vụ xây dựng và kĩ sƣ công trình
khác.
- Các dịch vụ phân phối: các dịch vụ của đại lí ăn hoa hồng, các dịch vụ
thƣơng mại bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ cấp quyền kinh doanh, các dịch vụ
phân phối khác.
- Các dịch vụ giáo dục: dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ giáo dục trung học,
dịch vụ giáo dục đại học, dịch vụ giáo dục ngƣời lớn, các dịch vụ giáo dục khác.
- Các dịch vụ môi trƣờng: dịch vụ thoát nƣớc, dịch vụ thu gom rác, dịch vụ vệ
sinh, các dịch vụ môi trƣờng khác.
- Các dịch vụ tài chính: tất cả các dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo
hiểm, các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (không kể bảo hiểm), các
dịch vụ tài chính khác.
niệm khác nhau đi từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, dịch vụ du lịch là việc cung cấp các
dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lƣu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hƣớng
dẫn và những dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
2
.
Ngoài ra, “dịch vụ du lịch là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tƣơng tác
giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động
2
Quốc Hội nƣớc Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Du lịch Việt Nam, Điều 4, khoản 11
7
tƣơng tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức
cung ứng du lịch”
3
.
Nhắc đến dịch vụ du lịch, chúng ta có thể nghĩ ngay đến một số khái niệm
nhƣ là: ngành du lịch, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và khách du lịch.
Ngành du lịch, đƣợc định nghĩa theo nghĩa rộng, là khu kinh tế bao gồm tất
cả các ngành phục vụ khách du lịch. Ngành du lịch đƣợc định nghĩa một cách đơn
giản là một bộ phận của nền kinh tế, có chung một chức năng, đó là phục vụ nhu
cầu của khách du lịch. Do đó, ngành công nghiệp này đƣợc định nghĩa gắng lion với
thị trƣờng riêng biệt của nó và bao gồm tất cả cá nhà cung cấp dịch vụ du lịch,
những ngƣời có nguồn thu từ khách du lịch. Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó để định
nghĩa ngành du lịch chính xác là bao gồm những cái gì, những doanh nghiệp mà
nghiệp vụ kinh doanh của họ hoàn toàn, hay chủ yếu phụ thuộc vào khách du lịch,
chúng ta cũng có thể thấy còn tồn tại rất nhiều doanh nghiệp du lịch gián tiếp (nhƣ
2.2.1. Xét theo hình thái vật chất
Dịch vụ du lịch đƣợc phân thành 2 loại: dịch vụ du lịch hàng hoá (thức ăn,
quà lƣu niệm, vận chuyển ) và dịch vụ du lịch phi hàng hoá (hƣớng dẫn tham
quan, tổ chức trò chơi, tƣ vấn tiêu dùng ). Trong dịch vụ phi hàng hoá, dịch vụ du
lịch đƣợc hiểu theo nghĩa thuần tuý, không có hình thái vật chất. Dịch vụ du lịch
thuần tuý thƣờng chiếm từ 2/3 đến 3/4 sản phẩm dịch vụ du lịch.
2.2.2. Xét theo cơ cấu tiêu dùng
Dịch vụ du lịch đƣợc chia thành 2 loại: dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung.
- Dịch vụ du lịch cơ bản bao gồm: ăn uống, lƣu trú và vận chuyển. đó là
những nhu cầu cơ bản, không thể thiếu đƣợc với khách hàng trong thời gian du lịch.
- Dịch vụ du lịch bổ sung bao gồm: tham quan, giải trí, mua sắm hàng hoá.
Đó là những nhu cầu phải có nhƣng không thật cần thiết lắm so với loại hình số
lƣợng trên và nó không định lƣợng đƣợc.
Quan hệ tỉ lệ giữa 2 loại này rất quan trọng để phân tích chi tiêu của khách,
chuẩn bị phục vụ của ngành du lịch, đặc biệt là để phân biệt hiệu quả tỷ trọng giữa
dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung. Tỷ trọng này càng nhỏ thì hiệu quả tổng hợp của
kinh doanh du lịch ngày càng cao. Tức là tỉ lệ nhu yếu phần ngày càng nhỏ, khách
du lịch ngày càng giàu, du lịch càng phát triển vag kinh doanh nhiều lãi.
2.2.3. Xét theo tính chất tham gia vào dịch vụ du lịch
Dịch vụ du lịch chia làm dịch vụ trực tiếp và dịch vụ gián tiếp:
- Dịch vụ trực tiếp là dịch vụ du lịch do đơn vị kinh doanh du lịch trực tiếp
làm, ví dụ nhƣ dịch vụ tại các nhà hàng, khu nghỉ biển, bể tắm hơi,
- Dịch vụ gián tiếp là dịch vụ du lịch không do đơn vị kinh doanh du lịch
trực tiếp làm, mà chỉ thực hiện chức năng môi giới. đơn vị thực hiện dịch vụ gián
tiếp thƣờng là các đạo lí du lịch. Tuy không trực tiếp phục vụ khách hàng nhƣng đại
9
lí du lịch đóng vai trò rất quan trọng nhƣ: nghiên cứu thị trƣờng du lịch, tổ chức
hình thành , xác định hiệu quả của tuyên truyền quảng cáo Trong các công ty du
lịch thì trung tâm điều hành hƣớng dẫn du lịch thực hiện nhiệm vụ dịch vụ gián tiếp
quan nhƣ giao thông vận tải, giải trí, kinh doanh khách sạn, nhà hàng Vì thế, vấn
đề hợp tác trong du lịch là rất cần thiết.
- Nhu cầu du lịch của du khách thuộc loại nhu cầu không cơ bản nên rất dễ bị
thay đổi do đó dịch vụ du lịch có đặc tính linh động cao.
- Khác với các loại dịch vụ khác, thông thƣờng mỗi loại dịch vụ du lịch đƣợc
sử dụng nhiều lần và kéo theo suốt hành trình của khách (hƣớng dẫn viên, dịch vụ
cung cấp thông tin, dịch vụ tƣ vấn ). Đối với các loại dịch vụ khác, thời gian tiếp
xúc giữa ngƣời mua và ngƣời bán chỉ một lần (khách hàng cắt tóc, gọi điện thoại, )
- Dịch vụ du lịch có khả năng cung cấp việc làm rất cao, có chuyên gia cho rằng
đó là công việc của cả xã hội. Theo tài liệu của hội đồng du lịch thế giới, lực lƣợng lao
động phục vụ du lịch chiếm 1/40 trong tổng số việc làm của thế giới. Nhiều thông tin
đáng tin cậy lại cho rằng tỉ lệ này là 1/16 mà không phải 1/40 việc làm.
- Điều kiện để tự động hóa các dịch vụ du lịch là không thể có.
2.4. Các ngành nghề kinh doanh chính trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
Theo Điều 38 của Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 thì kinh doanh du lịch là
kinh doanh dịch vụ, bao gồm các ngành, nghề sau:
2.4.1. Khách sạn và nhà hàng
Kinh doanh khách sạn là công đoạn phục vụ khách du lịch để họ hoàn tất
chƣơng trình du lịch đã lựa chọn.
Thuật ngữ “kinh doanh khách sạn” đƣợc hiểu là “làm nhiệm vụ đón tiếp,
phục vụ việc lƣu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, bán hàng cho khách du lịch ”
Hiện nay trên thế giới tất cả các quốc gia đều có khách sạn và kinh doanh
khách sạn, đặc biệt là ở những quốc gia có nền kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hoá
nghệ thuật, thể thao, du lịch phát triển
2.4.2. Kinh doanh lữ hành
Khi nói đến hoạt động kinh doanh lữ hành nói chung, các chuyên gia về du
lịch muốn đề cập đến các hoạt động chính nhƣ “làm nhiệm vụ giao dịch, kí kết với
các tổ chức kinh doanh du lịch trong nƣớc, nƣớc ngoài để xây dựng và thực hiện
các chƣơng trình du lịch đã bán cho khách du lịch”. Tuy nhiên, trên thực tế, khi nói
2.4.5. Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác
12
Trƣớc đây, kinh doanh du lịch chỉ quan tâm khai thác lĩnh vực lƣu trú và ăn
uống, dịch vụ bổ sung chỉ là thứ yếu nhằm đáp ứng phần nào những yêu cầu phát
sinh của khách trong chuyến đi. Tuy nhiên hiện nay loại hình kinh doanh dịch vụ bổ
sung đã đƣợc coi nhƣ phần không thể thiếu trong hoạt động du lịch và góp phần
đáng kể trong doanh thu của các doanh nghiệp du lịch, không những thế nó còn tạo
ra sự hìa lòng và tin tƣởng của khách, vì những yêu cầu của họ đƣợc đáp ứng ở mức
cao nhất và chất lƣợng đảm bảo.
Ngoài những hoạt động kinh doanh đã nêu ở trên, trong lĩnh vực hoạt động kinh
doanh du lịch còn có một số hoạt động kinh doanh bổ trợ, nhƣ kinh doanh các loại hình
dịch vụ vui chơi, giải trí, tuyên truyền, quảng cáo du lịch, tƣ vấn đầu tƣ du lịch.
Cùng với xu hƣớng phát triển ngày càng đa dạng những nhu cầu của khách du
lịch, sự tiến bộ của khoa học- kĩ thuật và sự gia tăng mạnh của các doanh nghiệp du
lịch, dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng tăng ngày càng có xu hƣớng phát triển mạnh.
3. Ngành dịch vụ du lịch Việt Nam
3.1. Ngành dịch vụ du lịch Việt Nam trước thời kì đổi mới
Giai đoạn đất nƣớc còn tạm bị chia cắt, trong hoàn cảnh chiến tranh khốc
liệt, từ năm 1960 đến 1975, Du lịch ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ các đoàn
khách của Đảng và Nhà nƣớc, khách du lịch vào nƣớc ta theo các Nghị định thƣ. Để
thực hiện mục tiêu này, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/CP, ngày
09/07/1960, thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại Thƣơng.
Trong điều kiện rất khó khăn của chiến tranh và qua nhiều cơ quan quản lí, ngành
Du lịch đã nỗ lực phấn đấu, vƣợt qua thử thách, từng bƣớc mở rộng nhiều cơ sở ở
Hà Nội, Hải Phòng, Tam Đảo, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, ngành Du lịch đã
hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, phục vụ an toàn có chất lƣợng một lƣợng lớn
khách của Đảng và Nhà nƣớc và đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ mát của cán bộ,
bộ đội và nhân dân.
Từ năm 1975 đến 1990, ngành Du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo toàn
góp lớn vào GDP
5
.
5
Tổng Cục Du lịch Việt Nam (2005), Báo cáo tóm tắt thành tích 45 năm xây dựng và trƣởng thành của Ngành Du lịch
Việt Nam,
14
Giai đoạn 1990-2000 có thể khẳng định là giai đoạn bứt phá trong tăng
trƣởng kháchvà thu nhập. Khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 250.000 lƣợt (năm
1990) lên 2,05 triệu lƣợt (năm 2000); khách nội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lƣợt lên
11 triệu lƣợt; thu nhập du lịch tăng gần 13 lần từ 1.350 tỷ đồng lên 17.400 tỷ đồng.
5 năm gần đây (2000-2005), tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn nhƣ chiến
tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhƣng do áp dụng các biện pháp táo
bạo tháo gỡ kịp thời, nên lƣợng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục
tăng trƣởng 2 con số. Khách quốc tế năm 2001 đạt 2,33 triệu lƣợt, năm 2005 đạt gần
3,47 triệu lƣợt, khách nội địa năm 2001 đạt 11,7 triệu lƣợt, năm 2005 đạt 16,1 triệu;
ngƣời Việt Nam đi du lịch nƣớc ngoài năm 2005 khoảng 900.000 lƣợt. Du lịch phát
triển đã góp phần tăng tỷ trọng ngành dịch vụ (riêng GDP du lịch chiếm khoảng 4%
GDP cả nƣớc, theo cách tính của UNWTO thì con số này khoảng 10%). Du lịch là
một trong ít ngành kinh tế ở nƣớc ta mang lại nguồn thu trên 2 tỷ USD/năm. Hơn 10
năm trƣớc, du lịch Việt Nam đứng hàng thấp nhất khu vực, nhƣng đến nay khoảng
cách này đã đƣợc rút ngắn, đã đuổi kịp và vƣợt Philippin, chỉ còn đứng sau
Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia. Theo UNWTO, hiện nay Việt Nam là
một trong những nƣớc có tốc độ tăng trƣởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới.
Năm 2006, du lịch Việt Nam đƣợc Hội đồng du lịch và Lữ hành thế giới xếp thứ 7
thế giới về tăng trƣởng khách trong số 174 nƣớc; Việt Nam đƣợc xếp vào nhóm 10
hòa bình, góp phần hình thành, củng cố môi trƣờng cho nền kinh tế mở, đẩy mạnh
phát triển kinh tế- xã hội và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Du lịch Việt Nam đã vƣơn lên, tham gia chủ động dần trong hội nhập du lịch
quốc tế; thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác du lịch nhiều mặt với các nƣớc làng
giềng, các nƣớc trong khu vực và thế giới; kí 29 Hiệp định hợp tác du lịch song
phƣơng với những nƣớc là thị trƣờng du lịch trọng điểm và đầu mối giao lƣu quốc
tế và hợp tác du lịch đa phƣơng 10 nƣớc ASEAN; đã có quan hệ bạn hàng với trên
1.000 hãng, trong đó có nhiều hãng lớn, của hơn 60 nƣớc và vùng lãnh thổ
7
. Du lịch
nƣớc ta là thành viên của Tổ chức Du lịch thế giới, của Hiệp hội Du lịch Châu Á-
Thái Bình Dƣơng, của Hiệp hội du lịch Đông Nam Á và phát huy đƣợc vai trò, khai
thác tốt quyền lợi hội viên. tham gia chủ động hơn trong hợp tác du lịch tiểu vùng,
khu vực, liên khu vực và thế giới. Nhờ thế đã tranh thủ đƣợc vốn, kinh nghiệm,
công nghệ, nguồn khách để phát triển, chủ động gắn kết với du lịch khu vực và trên
7
Võ Thị Thắng, Tổng Cục Trƣởng Tổng Cục Du lịch Việt Nam, APEC - Cơ hội vàng của du lịch Việt Nam, 4:24:01 PM 13/06/2006,
http://mfo.mquiz.net/WTO/?function=NEF&file=448
16
thế giới. Tính chủ động hội nhập cũng đƣợc thể hiện rõ trong việc thực hiện chủ
trƣơng dựa vào lợi thế so sánh (nhƣ văn hóa, ẩm thực, nguyên liệu, lao động rẻ )
đầu tƣ ra nƣớc ngoài, chủ yếu là kinh doanh ăn uống ở các nƣớc láng giềng, Nhật
Bản, Đức và Hoa Kì.
Tuy nhiên, nếu xét về giá trị tuyệt đối, quy mô ngành du lịch Việt Nam còn
nhỏ. Tốc độ tăng trƣởng việc làm trong ngành vẫn tiếp tục ở mức thấp hơn so với
viễn thông ) trong hỗ trợ phát triển du lịch. Bên cạnh đó, hệ thống thống kê áp dụng
trong ngành du lịch Việt Nam cũng chƣa đƣợc cải tiến nhiều.
Vấn đề cảnh quan môi trƣờng du lịch chƣa đƣợc chú trọng đúng mức: Với
nguồn tài nguyên du lịch phong phú bao gồm các di sản thế giới, truyền thông lịch
sử phong phú, các làng nghề và các lễ hội truyền thống, những cảnh đẹp thiên nhiên
phong phú và sự đa dạng của các nền ch dân tộc, thời gian gần đây Việt Nam đã nổi
lên và trở thành một điểm đến hấp dẫn, an toàn cho du khách quốc tế. Tuy nhiên sự
gia tăng lớn về khách du lịch, trong khu việc giữ gìn cảnh quan, môi trƣờng tại các
khu, điểm du lịch lại chƣa đƣợc chú trọng đúng mức đã và đang gây ra các tác động
không tốt tới môi trƣờng du lịch.
II. NGÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
1. Khái niệm. đặc điểm và yêu cầu của HNKTQT đối với ngành dịch vụ du lịch
1.1. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là tiến trình mà chủ thể là các quốc gia, các doanh
nghiệp tham gia vào môi trƣờng kinh doanh mang tính chất toàn cầu, khu vực với
các quy luật chung (luật chơi) mang và có yếu tố cạnh tranh.
Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ thực chất là quá trình gắn kết
ngành dịch vụ Việt Nam với dịch vụ thế giới với mục tiêu giành thị trƣờng, tranh
thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm của các nƣớc và các tổ chức quốc tế, tham gia
phân công lao động quốc tế để khai thác tiềm năng bên ngoài, kết hợp và phát huy
tối đa nội lực nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh và vị thế của nền kinh tế Việt
Nam.
Đây cũng là quá trình mở cửa ngành dịch vụ của Việt Nam, điều chỉnh các
chính sách, luật lệ của Việt Nam cho hợp với thông lệ quốc tế và các hiệp ƣớc, hiệp
định mà Việt Nam đã kí kết và cam kết với các nƣớc, các tổ chức quốc tế. Quá trình
18
hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, và hội nhập trong lĩnh vực dịch vụ phải đảm bảo
nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có
lựo, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ƣớc quốc tế mà