Vận dụng thước đo EVA trong việc đánh giá thành
quả hoạt động
Có nhiều chỉ tiêu đo lường (thước đo) đánh giá kết quả về mặt kinh tế và hiệu
quả gọi chung là thành quả (performance)(1) của một doanh nghiệp kinh doanh
trong một thời kỳ nhất định.
Mỗi thước đo được sử dụng đều cung cấp những thông tin trên các khía cạnh khác
nhau về mức độ đóng góp của các nguồn lực tài chính và phi tài chính vào kết quả đạt
được. Đặc biệt là các thước đo phản ánh hiệu quả đầu tư thường xuyên được sử dụng cho
việc lập dự án đầu tư, thẩm định và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong các
doanh nghiệp như: ROI (Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư), ROA ( tỷ suất sinh lời của tài sản), ROE
(tỷ suất sinh lời trên vốn chủ) và một thước đo gần đây nhất thường xuyên được các học
giả trên thế giới ca ngợi như là một “thước đo vạn năng” phù hợp nhất cho việc sử dụng
đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp và có thể thay thế được cho các thước đo
khác. Đó chính là thước đo EVA (Economic Value Added ) giá trị kinh tế tăng thêm.
Thuật ngữ EVA xuất hiện từ sớm năm 1989 (Finegan, 1989). Tuy nhiên, nó nhận
được ít sự quan tâm cho đến tháng 9/2003 khi bài báo trong tạp chí Fortune (Tully, 1993)
cung cấp một mô tả chi tiết khái niệm EVA, do Stern Stewart thực hiện, và những áp
dụng EVA thành công của các tập đoàn lớn ở Mỹ. Sau danh tiếng của bài báo viết về
EVA như là một thước đo cải tiến hiệu quả hoạt động thì hàng loạt nghiên cứu liên quan
đến thuật ngữ này ra đời và những ứng dụng rộng khắp của nó trong việc: đánh giá thành
quả hoạt động của doanh nghiệp; lựa chọn dự án đầu tư; thiết kế chính sách khen thưởng;
hay đánh giá thành công cả trong các lĩnh vực, ngành rộng lớn như nông nghiệp…Ý
tưởng ban đầu là cố gắng tìm kiếm cách thức đo lường mức lợi nhuận kinh tế (economic
profit) thật sự mà một doanh nghiệp nào đó có thể tạo ra, định lượng nó một cách cụ thể.
Nhờ đó mà chúng ta có thể xác định được mức độ thành công cũng như thua lỗ của doanh
nghiệp trong một khoảng thời gian nào đó một cách chính xác hơn và đơn giản hơn. Bên
cạnh đó, EVA cũng là một thước đo hữu ích đối với nhà đầu tư khi muốn định lượng giá
trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư cũng có thể dùng thước đo
EVA để so sánh doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác cùng ngành một cách
nhanh chóng.
Theo định nghĩa của Công ty stern stewart: “Giá trị kinh tế tăng thêm là thước đo
Đơn vị: 1.000.000đ
STT
Chỉ tiêu
Số tiền
1
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
130.752
2
Gía vốn hàng bán
115.203
3
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
15.549
4
Chi phí bán hàng
2.453
5
Chi phí quản lý doanh nghiệp
4.051
6
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
9.045
7
Chi phí lãi vay
3.250
8
Lợi nhuận trước thuế
5.795
9
CP thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất thuế TNDN
I- Nợ ngắn hạn
42.475
1. Tiền mặt
1.210
1. Vay ngắn hạn
34.000
2. Tiền gửi ngân hàng
5.600
2. Phải trả người bán
8.132
II- Các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn
2.300
3. Chi phí phải trả
343
III- Các khoản phải thu ngắn hạn
18.870
II- Nợ dài hạn
12.346
1. Phải thu khách hàng
19.720
1. Vay dài hạn
9.396
2. Dự phòng phải thu khó đòi
-850
2. Thuế thu nhập hoãn lại
phải trả
2.950
IV- Hàng tồn kho
18.670
Theo báo cáo kế toán của Công ty Cp X lãi suất sử dụng nợ vay là 10%, lãi suất sử
dụng nợ vay sau thuế được xác định theo công thức: Lãi suất sau thuế = lãi suất x ( 1-
thuế suất thuế TNDN) là 10%x (1-32%) = 6,8%.
Lãi suất sử dụng vốn chủ có nhiều cách xác định để minh hoạ có thể dựa vào lãi
suất trái phiếu của chính phủ có thời giai đáo hạn 2 năm được coi là lãi suất không có rủi
ro, hệ số Beta ( ) của Công ty CP X vào cuối năm 2008 là 1,2. Ta có lãi suất sử dụng
vốn chủ = 5% + ( 1,2 x 5%) = 11%.
Qua đó ta có thể tính được lãi suất sử dụng vốn bình quân WACC theo bảng dưới.
Bảng 3. Lãi suất sử dụng vốn bình quân của Công ty CP X
Đơn vị 1.000.000
đồng
STT
Chỉ tiêu
Giá trị
Tỷ trọng
nguồn vốn
Lãi suất sử
dụng vốn
1
Vốn chủ sở hữu
46.080
0,46
12,00%
2
Nợ phải trả
6.151
2
Vốn đầu tư ( bảng cân đối kế toán)
100.901
3
Lãi suất sử dụng vốn bình quân (WACC) %
9,2%
4
Chi phí sử dụng vốn bình quân
4 = 2x3
9.257
5
EVA
5 = 1-4
-3.107
6
EVA trên vốn đầu tư (%)
6 = 5:1
-3,1%
7
ROI (%)
7 = 1:2
6,1%
Bảng 4 cho thấy lợi nhuận ròng của Công ty CP X năm 2008 khá cao là 3,941 tỷ
đồng, tuy nhiên sau khi tính EVA chúng ta thu được kết quả là -3,107 tỷ đồng. Điều này có
thể khẳng định mặc dù có lợi nhuận nhưng trong năm 2008, công ty cổ phần X không những
đổi các chính sách đầu tư, tài chính, chính sách bán hàng phục vụ cho lợi ích cá nhân, bộ
phận hơn là lợi ích chung của tổ chức.
Để khắc phục những hạn chế vốn có trên, cần phải giảm sự khác biệt bằng cách điều chỉnh
số liệu theo cơ sở dồn tích sang cơ sở cơ sở tiền mặt để thấy được thu nhập, chi phí thực tế
phát sinh.
ii/. Vốn đầu tư: là số tiền nhà đầu tư chi tiêu để hình thành nên tài sản phục vụ cho hoạt
động đầu tư hoặc sản xuất kinh doanh. Có hai quan điểm tiếp cận vốn đầu tư dưới góc độ tài
chính doanh nghiệp. Một là: vốn đầu tư xác đinh ở giai đoạn trước khi tái đầu tư theo cách
này vốn đầu tư bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài. Hai là: vốn đầu tư được xác định tại từng
thời điểm sau giai đoạn đầu tư ban đầu được gọi là giai đoạn “sau khi có hoạt động tái đầu
tư” trong trường hợp này vốn đầu tư bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu.
Tuy nhiên, để thuận tiện trong việc tính toán các chuyên gia phân tích thường sử dụng Tổng
tài sản trên bảng cân đối kế toán là số vốn đầu tư. Vì vậy khi tính EVA cũng cần phải điều
chỉnh lại số vốn đầu tư cho phù hợp.
iii/. Lãi suất sử dụng vốn bình quân – WACC (%): phụ thuộc vào lãi suất từng loại vốn
và cấu trúc vốn của doanh nghiệp cũng như chính sách tài chính mà doanh nghiệp lựa chọn.
Khi xác định chi phí sử dụng vốn cần dựa vào giá thị trường để xác định giá trị từng nguồn
vốn. Tuy nhiên, do thị trường chứng khoán Việt Nam mới hình thành và phát triển một số
năm gần đây và có những diễn biến bất thường chưa phản ánh đúng quy luật. Vì vậy, lựa
chọn cấu trúc vốn theo giá trị sổ sách kế toán để tính toán EVA phù hợp hơn cho giai đoạn
này.
Nguyên tắc thực hiện điều chỉnh:
Việc điều chỉnh cũng phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo
kết quả kinh doanh: Tài sản giảm hoặc nợ tăng thì chi phí tăng, lợi nhuận giảm hoặc ngược
lại.
Mục tiêu điều chỉnh:
- Hạn chế sự khác biệt giữa quan điểm kế toán và quan điểm kinh tế, cung cấp kết quả đo
mới được chi trả cổ tức hoặc giữ lại sử dụng tái đầu tư. Vì vậy, số dư khoản mục các quỹ dự
trữ này là số tiền chưa được sử dụng để tái đầu tư, chưa tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp.
Do đó, khi xác định vốn đầu tư thì các quỹ dự trữ này cũng phải được loại trừ.
Bước2. Một số khoản mục chi phí cần được vốn hoá ngược lại vào vốn đầu tư
đồng thời phải điều chỉnh tăng lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh
- Điều chỉnh các khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán: Các khoản nợ tương đương
tài sản cần được vốn hoá thay vì ghi nhận tất cả vào chi phí trong kỳ, mục tiêu của chúng ta
là biết được những khoản đầu tư hay những khoản nợ mà nó không thể hiện trên Bảng cân
đối kế toán hiện hành (tiền thuê hoạt động, chi phí nghiên cứu phát triển).
+ Chi phí nghiên cứu phát triển: Theo Chuẩn mực 04 “Tài sản cố định vô hình” thì
toàn bộ chi phí nghiên cứu không được ghi nhận là TSCĐ vô hình mà được ghi nhận là chi
phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Vì vậy, chúng ta cần phải vốn hoá những chi phí này và
coi nó như những khoản đầu tư. Khi đó NOPAT sẽ tăng do phải điều chỉnh giảm khoản chi
phí nghiên cứu đã ghi nhận.
+ Chi phí thuê hoạt động: Theo Chuẩn mực số 06 “Thuê tài sản” thì những tài sản
thuê hoạt động được theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán tại đơn vị đi thuê và khoản thanh
toán tiền thuê hoạt động sẽ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong suốt thời hạn
thuê tài sản. Nhưng quan điểm kinh tế cho rằng, thuê hoạt động như đầu tư một tài sản, đi
kèm với nghĩa vụ nợ. Nói cách khác, cần phải hạch toán kế toán thuê hoạt động như thuê tài
chính và phản ánh tài sản đi thuê trên bảng cân đối kế toán giống như một khoản đầu tư. Khi
đó chúng ta cần điều chỉnh:
NOPAT: Điều chỉnh tăng lên đúng bằng giá trị điều chỉnh giảm phần tiền lãi thuê hoạt
động ( tính trên số tiền thuê phải trả cho từng kỳ nhân với chi phí sử dụng vốn bình quân) ra
khỏi chi phí thuê hoạt động đã ghi nhận trong kỳ.
Vốn đầu tư: Điều chỉnh tăng vốn đầu tư bằng với giá trị tiền thuê mà đơn vị đi thuê
ước tính phải trả được chiết khấu về tại thời điểm thuê. Đối với đơn vị cho thuê thu nhập từ
việc cho thuê gồm hai phần: phần bù đắp khấu hao và phần lợi nhuận thu được hàng năm
được xác định bằng tỷ lệ sinh lời đòi hỏi nhân với giá trị đầu tư. Vì vậy, đối với đơn vị đi
thuê cần phải phản ánh giá trị đầu tư tài sản cho thuê trên bảng cân đối kế toán và phần lợi
nhuận của bên cho thuê cần đươc coi là tiền lãi thuê hoạt động.
KQKD
Bảng
CĐKT
Điều chỉnh
Doanh
thu
Chi
phí
Tài
sản
nguồn
vốn
Lợi
nhuận
Vốn
đầu
tư
1
Các quỹ dự trữ
Không
được coi là
vốn đầu tư
cần phải
trừ ra khỏi
bảng cân
đối kế toán
khi tính
vốn đầu tư
+
+
4
Chi phí nghiên cứu
phát triển
Là vốn đầu
tư phải
được vốn
hoá
ghi nhận
trên bảng
cân đối kế
toán
+
-
+
+
5
Chi phí thuê hoạt động
Tài sản
ngoài bảng
là vốn đầu
tư ghi
nhận trên
bảng cân
đối kế toán
+
+
+ Vốn đầu tư (TC) = Tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán – Số dư các khoản
nợ không phát sinh lãi – Các quỹ dự trữ + Vốn hoá (chi phí nghiên cứu,
phát triển; tổng tiền thuê hoạt động) + số dư khoản dự phòng.
NOPAT = Lợi nhuận sau thuế + lãi vay x ( 1- thuế suất thuế TNDN) + dự
phòng + chi phí trích trước + chi phí R& D + tiền lãi thuê hoạt động + thuế
thu nhập hoãn lại phải nộp trong kỳ
Tính EVA sau khi điều chỉnh số liệu kế toán:
Để minh hoạ cho phương pháp tính EVA sau khi thực hiện điều chỉnh số liệu kế
toán chúng ta xem xét tiếp tục ví dụ 1 bên trên bổ xung thêm một số thông tin nhằm làm
rõ hơn lý do tại sao chúng ta cần thiết phải điều chỉnh
- Cuối năm 2008 Công ty CP X lập dự phòng nợ phải thu khó đòi 850 triệu đồng.
- Trong năm Công ty cũng thuê hoạt động một tài sản có thời gian thuê dự kiến 6
năm, số tiền thuê công ty phải thanh toán tại thời điểm cuối năm như sau:
Bảng 6 - Tiền thuê hoạt động của Công ty CP X
đơn vi:1000.000 đ
STT
Năm
Tiền thuê
hoạt động thanh toán
cuối mỗi năm
308
Tổng cộng
7.680
5.447 Bảng 7: Điều chỉnh vốn đầu tư và lợi nhuận.
Chỉ tiêu
Vốn đầu tư
(TC)
Lợi nhuận
(NOPAT)
Vốn đầu tư ( bảng cân đối kế toán)
100.901
Lợi nhuận trước lãi vay sau thuế (NOPAT)
6.151
Trừ các khoản không phải là vốn đầu tư
13.872
0
1. Các quỹ
5.740
2. Các khoản vay không phát sinh lãi
8.132
Cộng các khoản
6.640
STT
Chỉ tiêu
Cách
tính
Lợi nhuận
(NOPAT)
1
Lợi nhuận trước lãi vay sau thuế sau khi điều
chỉnh
8.293
2
Vốn đầu tư sau khi điều chỉnh
93.669
3
Lãi suất sử dụng vốn bình quân (WACC) %
9,2%
4
Chi phí sử dụng vốn bình quân
4 = 2x3
8.594
(1): Thành quả hoạt động bao gồm thành quả hoạt động kinh doanh, thành quả hoạt động
tài chính, thành quả quản lý.
(2): Công thức tính WACC (%):
Lãi suất sử
dụng vốn
bình quân
WACC
=
Lãi suất sử
dụng nợ
vay sau
thuế
X
Tỷ trọng
nợ trong
tổng vốn
đầu tư
+
Lãi suất
sử dụng
vốn chủ
x
Tỷ trọng
vốn chủ
trong tổng
vốn đầu tư
(3): Lợi nhuận trước lãi vay sau thuế = lợi nhuận sau thuế + lãi vay x ( 1- thuế suất thuế
TNDN).
(4) Thuê hoạt động: Điều chỉnh cộng 5.447 triệu đồng vào vốn đầu tư, vì đây là hiện giá