khóa luận tốt nghiệp xây dựng kế hoạch marketing cho sản phẩm gas công nghiệp - công ty cổ phần gas petrolimex - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING CHO SẢN
PHẨM GAS CÔNG NGHIỆP - CÔNG TY CỔ PHẦN
GAS PETROLIMEX
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Vũ Quỳnh Anh
Lớp : Anh 2
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : TS. Lê Thị Thu Thủy

1.4.4. Tình hình phân phối 30
1.4.5. Nghiên cứu và phát triển 30
1.4.6. Quản trị nguồn nhân lực 31
1.4.7. Sản lượng sản phẩm 34
1.4.8. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2004-2008 35
II. Phân tích môi trường bên ngoài 40
2.1. Môi trường vĩ mô 40
2.1.1. Kinh tế 40
2.1.2. Văn hóa – xã hội 42
2.1.3. Chính trị – pháp luật 42
2.1.4. Các điều kiện tự nhiên 43
2.1.5. Công nghệ 44
2.2. Môi trường ngành 45
2.2.1. Đối thủ cạnh tranh hiện tại 45
2.2.2. Khách hàng 49
2.2.3. Đối thủ tiềm ẩn 50
2.2.4. Nhà cung cấp 51 2.2.5. Sản phẩm thay thế 52
III. Phân tích SWOT 53
3.1. Điểm mạnh 53
3.2. Điểm yếu 54
3.3. Cơ hội 55
3.4. Thách thức 55
IV. Thực trạng hoạt động Marketing của công ty 56
4.1. Chính sách sản phẩm 56
4.2. Chính sách giá cả 58
4.3. Chính sách phân phối 60
4.4. Chính sách xúc tiến bán hàng 62

Marketing từ lâu đã không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh
mà đóng vai trò một triết lý dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc
phát hiện ra, đáp ứng và làm thoả mãn cho nhu cầu của khách hàng. Việc xây dựng
kế hoạch Marketing vì vậy cũng thực sự trở nên cần thiết, giúp doanh nghiệp đưa ra
được các chính sách cụ thể về sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến thương mại và đối
phó với những biến động của thị trường.
Trong những năm gần đây, thị trường khí hóa lỏng biến động rất thất thường,
giá gas thế giới liên tục tăng cao đã gây khó khăn lớn cho các doanh nghiệp kinh
doanh gas Việt Nam bởi lượng gas nhập khẩu vẫn chiếm tới hơn 70% sản lượng
tiêu thụ. Đứng trước thách thức này, nhiều doanh nghiệp kinh doanh gas đã chú
trọng phát triển hoạt động Marketing nhằm thỏa mãn ngày một tốt hơn nhu cầu của
khách hàng và giảm thiểu những tác động bất lợi từ môi trường kinh doanh.
Công ty cổ phần Gas Petrolimex là đơn vị đầu ngành trong lĩnh vực khí hóa
lỏng, đi tiên phong trong lĩnh vực cung cấp sản phẩm gas công nghiệp cho các
doanh nghiệp, nhà máy trong cả nước. Tuy nhiên, do sự cạnh tranh khốc liệt của
các công ty nước ngoài cũng như các doanh nghiệp trong nước và thị phần của công
ty đang có chiều hướng suy giảm. Cộng thêm vào đó, việc điều chỉnh kế hoạch kinh
doanh không theo kịp những thay đổi của thị trường đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
nhuận của công ty. Những khó khăn và thách thức đó đòi hỏi Công ty cổ phần Gas
Petrolimex phải có những thay đổi trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt cần quan
tâm đến hoạt động Marketing – vấn đề mà công ty chưa thực sự coi trọng.
Với những lý do trên, tôi xin chọn “Xây dựng kế hoạch Marketing cho sản
phẩm gas công nghiệp – Công ty cổ phần Gas Petrolimex” làm đề tài Khóa luận
tốt nghiệp để nghiên cứu. 2


3
Đồng thời sử dụng phương pháp SWOT để tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu
bên trong doanh nghiệp, các cơ hội và nguy cơ bên ngoài doanh nghiệp.
V. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bản
khóa luận gồm có 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về kế hoạch Marketing
Chương II: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm gas công nghiệp
của Công ty cổ phần Gas Petrolimex
Chương III: Các giải pháp xây dựng kế hoạch Marketing cho sản phẩm gas
công nghiệp

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sĩ Lê Thị Thu Thủy,
người đã tận tình hướng dẫn tôi trong việc hoàn thành khóa luận này. Tôi cũng xin
được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, bạn bè, các anh chị, cô chú công tác tại
Công ty cổ phần Gas Petrolimex và Thư viện trường Đại học Ngoại thương đã giúp
đỡ, tạo điều kiện để khóa luận được hoàn thành. Tuy nhiên, do thời gian và trình độ
có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót hạn chế. Tôi rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô nhằm rút ra những kinh nghiệm quý báu
phục vụ cho việc hoàn thiện đề tài này cũng như việc học tập và nghiên cứ sau này. 4
Chương I: Lý luận chung về kế hoạch Marketing
I. Tổng quan về kế hoạch Marketing
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm Marketing
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm Marketing được đưa ra bởi các tác giả khác
nhau. Tuy nhiên, chưa có một khái niệm nào được coi là duy nhất đúng bởi sự khác
5
1.1.2. Khái niệm kế hoạch Marketing
Kế hoạch Marketing là một khái niệm được các nhà nghiên cứu và các doanh
nghiệp hiểu với nhiều các khác nhau.
Theo Philip Kotler thì kế hoạch Marketing là một phần trong quá trình quản
trị Marketing. Trong phần kế hoạch Marketing người quản trị Marketing phải thông
qua các quyết định về thị trường mục tiêu, xác định vị trí trên thị trường, phát triển
sản phẩm, định giá, các kênh phân phối, thông tin liên lạc và khuyến mãi.
4
Bên cạnh đó, cũng có cách hiểu “kế hoạch Marketing là hình thức văn bản
chính thức của chiến lược Marketing, nó được sáng tạo ra từ một loạt các kế hoạch
năng, như kế hoạch sản phẩm, kế hoạch bán, kế hoạch, quảng cáo, kế hoạch kênh
tiêu thụ”.
5
Như vậy, có thể thấy một kế hoạch Marketing sẽ được soạn thảo trên cơ sở
các thông tin đã nắm bắt được về tình hình môi trường kinh doanh và bao gồm 4 nội
dung chính về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến bán hàng.
1.2. Vai trò của kế hoạch Marketing
Kế hoạch Marketing cho phép doanh nghiệp nhận biết nhanh chóng và tận
dụng các cơ hội kinh doanh, giảm thiểu những thay đổi và tác động bất lợi của môi
trường kinh doanh. Một bản kế hoạch Marketing sẽ giúp doanh nghiệp không bị
động trước các tác động bất ngờ của tình hình thị trường mà còn thấy hoặc dự báo
được cơ may và hiểm họa đến từ môi trường, từ đó chủ động đưa ra các quyết định
kịp thời, làm tăng khả năng thành công trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt
trên thương trường.
Việc xây dựng một bản kế hoạch Marketing cụ thể cũng tạo thuận lợi doanh
nghiệp phân bổ có hiệu quả các nguồn lực (thời gian, tài chính, nhân lực) cho các
mục tiêu đã xác định và phối hợp hành động giữ các bộ phận chức năng trong doanh

sản phẩm, những phương phân phối dùng đến hay các biện pháp quảng cáo và
truyền thông mà doanh nghiệp sẽ sử dụng.
Kế hoạch Marketing chỉ là một phần của kế hoạch thị trường kiêm chiến
lược của công ty, như những phần khác là kế hoạch tài chính, kế hoạch sản xuất.
Tuy nhiên, nó thực sự cần thiết trong hoạt động của mỗi doanh nghiệp khi liên kết
các hoạt động từ nghiên cứu thị trường đến quyết định về sản phẩm, giá cả cho đến
việc thực hiện các chính sách phân phối và xúc tiến thương mại. Nếu không có một
kế hoạch Marketing hoàn chỉnh, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn lớn khi thực hiện
các mục tiêu đề ra đối với từng loại sản phẩm hay dịch vụ, và nhất là đối phó với 7
những thay đổi của thị trường. Việc lập ra và hoàn thành kế hoạch Marketing cho
phép doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi đã được dự đoán hoặc không, phù
hợp với những mục tiêu đã được xác định kỹ lưỡng cho từng giai đoạn cụ thể 1
năm, 3 năm, thậm chí 5 năm.
II. Nội dung của kế hoạch Marketing
Nội dung của kế hoạch Marketing là tập hợp bốn chính sách chính về sản
phẩm, giá, phân phối và xúc tiến bán hàng. Bốn chính sách này tác động tương hỗ,
quyết định về chính sách này sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện của ba chính sách
còn lại.
2.1. Chính sách sản phẩm
Chính sách về sản phẩm là nền tảng của kế hoạch Marketing, được xác định
dựa trên kế hoạch kinh doanh và chiến lược Marketing tổng thể cho mọi sản phẩm
đang có của doanh nghiệp. Khi xem xét chính sách sản phẩm, doanh nghiệp cần
quan tâm đến những vấn đề sau:
Chủng loại và danh mục sản phẩm: Doanh nghiệp phải đưa ra được danh
mục tập hợp tất cả các chủng loại hàng hóa cụ thể có thể đem chào bán cho khách
hàng. Chủng loại hàng hóa là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ với nhau do
giống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng một nhóm khách hàng, thông

lượng… Hay doanh nghiệp có thể dùng giá để phục vụ cho một số mục tiêu cụ thể
hơn. Doanh nghiệp có thể đặt giá ở mức thấp để ngăn chăn cạnh tranh hay đặt giá
bằng giá của đối thủ cạnh tranh để giữ ổn định thị trường. Giá có thể được quyết
định ở mức giữ uy tín cũng như hỗ trợ các hãng buôn hay để tránh sự can thiệp của
Chính phủ.
2.3. Chính sách phân phối
Chính sách phân phối liên quan đến tất cả các quyết định về hoạt động phân
phối như lựa chọn kênh phân phối, phương thức phân phối, lựa chọn trung gian…
Chính sách phân phối sẽ chỉ rõ chỉ rõ các loại kênh phân phối (chẳng hạn như: bán
trực tiếp, gián tiếp, cá nhân, số lượng và loại hình trung gian nhà buôn lẻ, nhà buôn 9
sỉ, nhà phân phối, đại lý) và vai trò của các kênh này trong hệ thống phân phối
chung.
Hoạt động phân phối sẽ quyết định vấn đề hàng hóa, dịch vụ được đưa đến
người tiêu dùng như thế nào. Vì vậy, mục đích của chính sách phân phối là đảm bảo
đưa hàng hóa dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng: đúng mặt hàng, đúng
địa điểm, đúng thời gian và với chi phí nhỏ nhất. Hệ thống kênh phân phối còn là
kênh thông tin giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, cung cấp các thông tin về
hàng hóa dịch tới khách hàng đồng thời tiếp nhận các phản hồi theo chiều ngược lại.
Hoạt động phân phối còn góp phần xây dựng và củng cố hình ảnh của doanh nghiệp
và các nhãn hiệu hàng hóa thông qua mối quan hệ trực tiếp với khách hàng hoặc
thông qua trung gian.
2.4. Chính sách xúc tiến bán hàng
Doanh nghiệp phải chỉ rõ sẽ lựa chọn các công cụ để thực hiện chính sách
xúc tiến. Tùy vào đặc điểm của mỗi sản phẩm, tình hình tài chính của công ty mà
việc lựa chọn công cụ sẽ khác nhau. Các công cụ để thực hiện chính sách này được
chia làm 5 nhóm chính. Đó là quảng cáo, quan hệ công chúng, hội chợ triển lãm
thương mại, bán hàng cá nhân và văn minh thương mại.

nghiệp từ đó xác định được các cơ hội và thách thức (đe dọa) mà doanh nghiệp sẽ
gặp phải.
Môi trường vĩ mô là các yếu tố nằm bên ngoài doanh nghiệp, có ảnh hưởng
đến môi trường ngành và môi trường vi mô, đồng thời tạo ra cơ hội và thách thức
đối với doanh nghiệp. Các yếu tố của môi trường vĩ mô bao gồm:
- Các yếu tố kinh tế:
Thu nhập quốc nội tác động đến nhu cầu của từng gia đình, doanh nghiệp và
nhà nước. Vì vậy một quốc gia có thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ kéo theo sự
tăng lên của nhu cầu có khả năng thanh toán, về số lượng, chất lượng và chủng loại
sản phẩm hàng hóa và dịch vụ…
Yếu tố về lạm phát cũng ảnh hưởng đến quá trình lập và thực hiện kế hoạch.
Lạm phát ở mức cao sẽ dẫn đến tăng giá các yếu tố đầu vào của sản xuất, tăng giá 11
bán làm cho sản phẩm của doanh nghiệp khó cạnh tranh và làm cho nhiều kế hoạch
về tài chính trở nên không sát thực. Ngược với lạm phát, tình trạng thiểu phát (lạm
phát ở mức rất thấp) hay thậm chí giảm phát (lạm phát âm) của nền kinh tế cũng
gây tác hai không nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp vì nó gây đình trệ sản xuất
và tiêu dùng. Vì vậy, việc dự báo yếu tố lạm phát là rất quan trọng để kế hoạch
Marketing đạt hiệu quả.
Yếu tố lãi suất cho vay của ngân hàng cũng có ảnh hưởng đáng kể, vì mức
lãi suất cao hay thấp đề ảnh hưởng đến giá thành, giá bán cũng như sức mua thực tế
đối với hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp cũng ứng, tức là tác động đến việc
soạn thảo và thực hiện kế hoạch.
Ngoài ra, các chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ cũng là yếu tố quan
trọng cần xem xét về nó tác động mạnh đến quá trình kế hoạch hóa của công ty về
mặt thu chi tài chính để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh, ví dụ như chính
sách quản lý ngoại hối, quản lý tiền mặt, các quy định về cho vay, hỗ trợ tài chính…


sản xuất với chất lượng ngày càng cao và có thêm nhiều tính năng mới giúp tăng
sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, doanh
nghiệp biết tìm ra và áp dụng các kỹ thuật và công nghệ mới có thể tạo ra một thị
trường mới cho sản phẩm và dịch vụ của mình.
Tuy nhiên, môi trường kỹ thuật công nghệ phát triển từng ngày từng giờ
cũng mang lại cho các doanh nghiệp nhiều thách thức. Nếu không bắt kịp đà phát
triển của công nghệ, các sản phẩm của doanh nghiệp không được đổi mới và cải tiến
kịp thời có thể bị canh tranh gay gắt bởi các sản phẩm sử dụng công nghệ mới hơn.
Áp lực này cũng khiến doanh nghiệp phải đầu tư nguồn lực và tài chính để đổi mới
công nghệ nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh. Cũng chính bởi sự thay đổi mau
lẹ của khoa học công nghệ khiến cho thời gian khấu hao công nghệ ngày càng ngắn
hơn so với trước, do đó doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ liên tục để không tụt
hậu so với các đối thủ cạnh tranh.

- Tự nhiên:
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố như tài nguyên, vấn đề ô nhiễm môi
trường… là những vấn đề có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, có ảnh 13
hưởng đến các sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, liên quan đến giá
thành và lợi nhuận do vậy mà doanh nghiệp không thể coi thường ảnh hưởng của
những yếu tố thuộc môi trường này được.

Phân tích môi trường ngành cần chú ý đến khách hàng, đối thủ cạnh tranh
hiện tại và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, nhà cung cấp cùng các sản phẩm thay thế.

- Đối thủ cạnh tranh hiện tại:
Mức độ cạnh tranh hiện tại trong nội bộ một ngành sản xuất tùy thuộc vào:
mức độ tăng trưởng của ngành, quy mô thị trường, số lượng các đối thủ cạnh tranh

Khách hàng của một ngành sản xuất (bao gồm cả những người phân phối) có
thể làm ảnh hưởng đến giảm phần lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là
khi trong ngành sản xuất có tương đối nhiều đối thủ cạnh tranh. Khách hàng có thể
tìm cách gây sức ép khi đàm phán để được hưởng những ưu đãi giảm giá, yêu cầu
chất lượng cao, bao bì chuyên biệt, đòi hỏi các điều kiện thanh toán ưu đãi… Quyền
lực của khách hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ tập trung của họ, sự
khác biệt của các sản phẩm, các chi phí phát sinh khi thay đổi người cung cấp…

- Nhà cung cấp:
Khi mối quan hệ cung cầu có lợi cho người cung cấp thị họ sẵn sàng gây áp
lực để ra điều kiện đối với khách hàng của mình là các doanh nghiệp trong ngành
sản xuất. Khi không có nhiều người cung cấp, nhất là nếu họ có thể thỏa hiệp và
liên kết với nhau, khi chuyển sang mua sản phẩm thay thế đòi hỏi nhiều thời gian và
chi phí… thì nhà cung cấp thường có xu hướng tùy tiện nâng giá, hạ chất lượng sản
phẩm, tự động cắt xén lượng bán đã thỏa thuận. Để chủ động tránh những bất ổn có
thể xảy ra đối với ngành sản xuất, các doanh nghiệp trong ngành nên chủ động tìm
kiếm nhiều nguồn hàng và giữ quan hệ tốt với các nhà cung cấp hiện tại.

b. Phân tích môi trường bên trong:
Môi trường bên trong doanh nghiệp là bối cảnh thuộc nội bộ doanh nghiệp, ở
đây chứa đựng những yếu tố có thể kiểm soát được hay cũng có thể nói môi trường
bên trong chứa đựng những yếu tố chủ quan mà công ty có thể kiểm soát được để 15
quản lý hoạt động kinh doanh của mình. Các nhân tố có thể kiểm soát được thuộc
môi trường bên trong có thể kể ra là:
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ quyết định trực tiếp nguồn kinh phí
giành cho hoạt động quảng cáo, khuyến mãi cũng như mức lương thưởng giành cho
nhân viên. Nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi, nguồn lợi nhuận tái đầu tư lớn thì việc

Bước 3: Lựa chọn phương án
Trên cơ sở phân tích môi trường kinh doanh và định hướng phát triển của
doanh nghiệp, nhà quản trị Marketing sẽ tiến hành xây dựng nội dung của bản kế
hoạch Marketing. Nội dung này xoay quanh các chính sách sản phẩm, giá, phân
phối và xúc tiến bán hàng của doanh nghiệp.

Bước 4: Tổ chức thực hiện
Sau khi đã xây dựng được kế hoạch Marketing với các mục tiêu và nội dung
triển khai hoạt động cụ thể, doanh nghiệp phải tổ chức thực hiện các kế hoạch đã đề
ra. Có nghĩa là phải phân bổ nguồn lực của doanh nghiệp một cách tối ưu, tạo sự
phối hợp đồng bộ hoạt động trong doanh nghiệp, thực hiện các chính sách đề ra
trong kế hoạch để tạo ra ảnh hưởng tốt nhất vè các mặt sản phẩm (chủng loại, chất
lượng, mẫu mã thiết kế, đặc tính kỹ thuật, nhãn hiệu, bao bì, kích cỡ, dịch vụ kèm
theo, bảo hành…); giá cả (bảng giá, chiết khấu và giảm giá, điều kiện và phương
thức thanh toán…); phân phối (vận tải, kênh luồng phân phối, mức độ bao phủ thị
trường, địa điểm bán hàng, bày biện và sắp xếp hàng hóa, hàng lưu kho và dự
trữ…); xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh (quảng cáo, khuyến mại, quan hệ với công
chúng, Marketing trực tiếp, đội ngũ nhân viên bán hàng…) lên khu vực thị trường
mục tiêu và các trọng điểm kinh doanh đã lựa chọn. Trong suốt quá trình thực hiện
các kế hoạch Marketing nói trên cần phải theo dõi liên tục tiến độ thực hiện kế
hoạch và theo sát những diễn biến trên thị trường để có căn cứ điều chỉnh kịp thời.

Bước 5: Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch
Nhìn chung, bước kiểm tra hoạt động kế hoạch hóa là việc đánh giá các tình
huống thực sự diễn ra trên thị trường, so sánh những kết quả đã đạt được trên thực
tế với những kết quả mà doanh nghiệp mong muốn trong kế hoạch của mình, từ đó
có những điều chỉnh cho thích hợp. Sở dĩ phải tiến hành kiểm tra như vậy vì trong 17
18
việc đã đề ra, từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp. Thông thường, các chỉ tiêu
dùng để đánh giá các mục tiêu và mức độ hoàn thành kế hoạch là các chỉ tiêu về tài
chính (doanh số, chi phí, lợi nhuận…) nhưng doanh nghiệp cũng đánh giá cả các
khía cạnh khác của công việc kinh doanh (phân bổ nguồn lực, sự gắn bó của khách
hàng, tương quan cạnh tranh trên thị trường…). Nếu xét thấy các mục tiêu đã đề ra
trong kế hoạch không còn phù hợp nữa thì doanh nghiệp phải sửa đổi lại, vì nếu các
mục tiêu đặt ra quá cao so với thực tế thì sẽ làm cho doanh nghiệp luôn trong tình
trạng không hoàn thành kế hoạch, luôn ở thế rượt đuổi với thị trường và làm cho đội
ngũ cán bộ kinh doanh mệt mỏi, chán nản và không gắn bó với doanh nghiệp, đồng
thời cũng làm giảm phần nào danh tiếng và uy tín của doanh nghiệp trước khách
hàng, trước công chúng, trước những nhà đầu tư vốn vào doanh nghiệp. Ngược lại ,
nếu diễn biến tình hình thị trường thay đổi theo chiều hướng có lợi mà doanh
nghiệp không chỉnh sửa lại các mục tiêu kinh doanh của mình, vẫn giữ các mục tiêu
ở mức thấp thì các cán bộ nhân viên sẽ không phải nỗ lực cố gắng nhiều để hoàn
thành kế hoạch, và do vậy sẽ không phát huy được tính chủ động, sáng tạo, ý chí
vươn lên – những phẩm chất không thể thiếu khi doanh nghiệp hoạt động trong nền
kinh tế thị trường. Trong nhiều trường hợp, sức ỳ do chủ quan sẽ làm doanh nghiệp
tụt hậu trong cạnh tranh, thậm chí bị loại bỏ khỏi thương trường vì không thích nghi
kịp và không đối phó được với các đối thủ cạnh tranh truyền thống cũng như các
đối thủ mới xuất hiện những đã khéo léo tận dụng được các cơ may và vận hội mới
xuất hiện từ môi trường kinh doanh. 19
Chương II: Thực trạng kế hoạch Marketing cho gas công
nghiệp – Công ty cổ phần Gas Petrolimex
I. Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần Gas Petrolimex

PGC được đánh giá là một trong những thương hiệu uy tín nhất trên thị
trường Việt Nam với thị phần 20% và là một trong 3 công ty dẫn đầu về sản lượng
bán trên tổng số 20 thương hiệu đã được xác lập trên thị trường. Mạng lưới phân
phối của công ty rộng khắp trên 64 tỉnh thành cả nước, bao gồm trên 40 công ty, chi
nhánh xăng dầu thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam và các Tổng đại lý, đại lý
ngoài ngành xăng dầu.
Cùng với sự lớn mạnh của đất nước, Công ty cổ phần Gas Petrolimex cũng
không ngừng lớn mạnh, đầu tư và đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ
bán hàng và sau bàn hàng, để đáng ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Trụ sở chính của công ty đặt tại 775 Đường Giải phóng, Hà Nội, các Công ty thành
viên đặt tại các thành phố lớn là: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và TP Hồ Chí
Minh. Hiện nay, công ty là một trong những đơn vị có hệ thống kho dầu mới có sức
chứa lớn, công nghệ đóng nạp và tồn trữ hiện đại ngang tầm các nước trong khu .
Hệ thống kho tồn trữ và dây truyền đóng nạp hiện đại được bố trí tại các thị
trường trọng điểm đã tạo cho công ty có được lợi thế cạnh tranh so với nhiều công
ty cùng kinh doanh ngành hàng trên thị trường.
Bên cạnh ngành hàng kinh doanh chính, công ty đã thực hiện đa dạng hóa
ngành hàng và đa dạng hoá sở hữu, công ty đã tham gia thành lập Công ty TNHH
Taxi Gas và Nhà máy sản xuất vỏ bình gas dân dụng.
1.2. Ngành nghề kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty cổ phần Gas Petrolimex là xuất
nhập khẩu và kinh doanh khí đốt hóa lỏng (gas). Đi kèm với các mặt hàng này, công
ty cung cấp các trang thiết bị, phụ kiện chuyên dùng. Đó là các mặt hàng van an 21
toàn, van điều lượng, đồng hồ đo mức gas, đồng hồ đo áp suất, hệ thống cảnh rò rỉ
gas…cùng các loại bình chứa, bồn bể đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Bên cạnh đó,
công ty còn nhận tư vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ, bảo dưỡng, sửa chữa, lắp
đặt các thiết bị và cung cấp các dịch vụ có liên quan đến phục vụ kinh doanh gas

qua các báo cáo tài chính hàng năm của công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp
theo.
-Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ
những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị có
trách nhiệm giám sát Tổng giám đốc điều hành và những người quản lý khác.
Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị do luật pháp và điều lệ công ty, các quy
chế nội bộ của công ty và Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông quy định.
- Ban kiểm soát: là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội
đồng cổ đông bầu ra. Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp
trong điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của công ty. Ban kiểm soát
hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Tổng Giám đốc.
- Ban Tổng Giám đốc: Tổng Giám đốc điều hành là người đại diện theo pháp
luật của công ty, quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày
của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các
quyền và nhiệm vụ được giao. Các Phó tổng giám đốc là người giúp việc cho Tổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status