giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương chương dương - Pdf 13

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua nền kinh tế VN liên tục tăng trưởng và tăng
trưởng ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân 8%/năm. Đặc biệt năm 2007
tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 8,5% . Với thành tựu đạt được VN trở thành 1
trong 2 nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trên Thế giới chỉ đứng sau Trung
Quốc. Đạt được thành tựu như vậy là do sự tăng trưởng mạnh mẽ của các
doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước. Đặc biệt phải kể tới
sự tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực Ngân hàng - Tài chính
nói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng. Nếu ở các nước có nền kinh
tế phát triển như Mỹ, Anh… lĩnh vực cho vay tiêu dùng không có gì là xa lạ
và nó chiếm khoảng 60% trên tổng dư nợ tín dụng thì ở Việt nam tỷ lệ này chỉ
là xấp xỉ 20% và nó vẫn còn khá mới mẻ không chỉ với người dân mà ngay cả
với các TCTD.
Việt nam là nước có dân số trẻ, năng động, mức thu nhập của người lao
động ngày càng được nâng cao, đời sống nhân dân đựơc cải thiện đáng kể, từ
đó phát sinh những nhu cầu chi tiêu mới như: mua nhà, ôtô, trang thiết bị đồ
gia dụng đắt tiền, đi du lịch hay du học… Bên cạnh đó sau hơn 1 năm VN là
thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO đã mở ra cơ hội
cho người tiêu dùng được tiếp cận và sử dụng những mặt hàng nhập ngoại
phong phú về chủng loại, có chất lượng cao với mức giá mà một bộ phận
không nhỏ người dân VN có thể đáp ứng được và sẵn sàng móc hầu bao của
mình để được sở hữu món đồ mà họ yêu thích và cần thiết cho gia đình họ.
Vấn đề đặt ra là để mua được một ngôi nhà hay một chiếc ôtô sang trọng với
giá hàng trăm triệu – nhiều tỷ đồng, với một số người không thể tích luỹ đủ
ngay số tiền lớn như vậy trong khi họ thực sự cần có nhà để lập gia đình, sống
tự lập hay cần có phương tiện đi lại…Để gom đủ số tiền lớn như vậy họ có
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
thể đi vay bạn bè, vay người thân, nhưng có lẽ đi vay ngân hàng là phương án

Chương 3: Giải pháp mở rộng TD tiêu dùng tại Chi nhánh NHNT
Chương Dương
Xin cảm ơn tập thể Ban Giám đốc, cán bộ nhân viên Chi nhánh NHNT
CD đã chỉ bảo tận tình cung cấp những thông tin, tài liệu phong phú giúp em
hoàn thành chuyên đề của mình.
Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Nguyuễn Thị Thu Thảo
cùng các các Thầy Cô trong khoa Ngân hàng - Tài chính đã dành nhiều tâm
huyết tận tình chỉ bảo truyền đạt những kinh nghiệm quý báu giúp đỡ em
trong thời gian em thực tập và viết chuyên đề.
Em xin trân thành cảm ơn!
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
CHƯƠNG1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
1.1. Giới thiệu chung về Tín dụng tiêu dùng
Nếu như ở Việt nam hoạt động cho vay tiêu dùng còn khá mới mẻ và
mới chỉ thực sự phát triển trong vài năm trở lại đây thì ở các nước có nền kinh
tế phát triển khái niệm về cho vay tiêu dùng đã qúa quên thuộc và phát triển
sôi động từ rất lâu rồi. Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 hoạt động cho vay
tiêu dùng thực sự phát triển bùng nổ, nó không chỉ xuất hiện trong danh sách
sản phẩm, dich vụ của các Ngân hàng mà nó còn xuất hiện ở các TCTD khác
như: công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, ngân hàng tiết kiệm bưu điện…
Vì vậy sự cạnh tranh trong lĩnh vực này ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn bao
giờ hết. Tuy nhiên trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng các ngân hàng luôn chiếm
được vị trí hàng đầu. Theo con số thống kê trong thời gian gần đây tín dụng
tiêu dùng là khoản mục tài sản mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng
do đó các ngân hàng đang ngày càng tập chung nguồn vốn vào lĩnh vực này
chủ yếu thông qua các hình thức thẻ tín dụng các khoản vay bất động sản…
nhưng tín dụng tiêu dùng lại là hoạt động có chi phí và rủi ro cao nhất đối với
các ngân hàng vì tín dụng tiêu dùng chủ yếu tập chung vào các đối tượng

cho nhu cầu chi tiêu của cá nhân hay hộ gia đình. Tuy nhiên một khái niệm
chung và đầy đủ nhất về cho vay tiêu dùng được các NHTM đưa ra là: “cho
vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng ( cá
nhân hay hộ gia đình ) quyền sử dụng một lượng giá trị ( tiền ) trong một
khoảng thời gian nhất định, với những thoả thuận mà 2 bên đã ký kết ( về số
tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả…) nhằm giúp cho khách hàng có thể
sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều
kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn.”
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
1.2.2. Phân loại TDTD
Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà các NHTM có thể chia TDTD
thành các hình thức khác nhau. Ở đây xin đưa ra 3 tiêu chí các NHTM thường
sử dụng để phân loại TDTD.
1.2.2.1. Căn cứ vào mục đích vay
Theo căn cứ trên TDTD được chia thành 2 loại:
+ Cho vay tiêu dùng cư trú ( Residential morage loan ): là các khoản
cho vay nhằm mục đích tài trợ cho nhu cầu mua nhà, sửa sang nhà cửa của cá
nhân hay hộ gia đình. Các khoản vay này thường có khối lượng lớn, thời gian
dài do đó các ngân hàng thường gặp phải những rủi ro về lãi suất khi mà lãi
suất huy động tăng trong ngắn hạn.
+ Cho vay tiêu dùng phi cư trú ( Noresidentiual monage loan ): là các
khoản cho vay nhằm mục đích tài trợ cho nhu cầu cải thiện đời sống như mua
sắm phương tiện, đồ gia dụng, đi du lịch, du học, giải trí… các khoản vay này
thường có quy mô nhỏ thời gian tài trợ ngắn vì vậy mức độ rủi ro mà các
ngân hàng gặp phải không cao bằng khoản cho vay tiêu dùng cư trú.
1.2.2.2. Căn cứ vào hình thức cho vay
+ Cho vay tiêu dùng gián tiếp (Indirect Consumer Loan ):
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng

tuỳ thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận giữa ngân hàng và công ty
bán lẻ.
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
7
Ngân hàng Công ty bán lẻ
Người tiêu dùng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
- Tài trợ miễn truy đòi: theo phương thức này sau khi bán các khoản
nợ cho ngân hàng công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm trong việc khoản
nợ đó có được người tiêu dùng thanh toán cho ngân hàng hay không. Phương
thức này chứa đựng nhiều rủi ro đối với ngân hàng vì vậy chỉ có các công ty
bán lẻ rất được ngân hàng tin cậy mới được áp dụng phương thức này.
- Tài trợ có mua lại: theo phương thức này, khi thực hiện cho vay tiêu
dùng theo phương thức truy đòi hạn chế và miễn truy đòi nếu người tiêu tiêu
dùng không thể thanh toán cho ngân hàng các khoản nợ khi đến hạn thì ngân
hàng sẽ tiến hành thanh lý tài sản để thu hồi nợ và lúc này công ty bán lẻ sẽ có
trách nhiệm mua lại tài sản thanh lý từ ngân hàng.
+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp (Direct Consumer Loan):
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay trong đó ngân hàng
trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người
vay.
Quá trình cho vay có thể được khái quát qua sơ đồ sau:
(3)
(1) (5) (2) (4)
(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay
(2) Người tiêu dùng thanh toán trước cho công ty bán lẻ một phần số tiền mua
tài sản
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ
(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(5) Người tiêu dùng trả góp tiền vay cho ngân hàng

+ Loại tài sản được tài trợ: nếu những tài sản được hình thành từ khoản
vay thoả mãn nhu cầu lâu bền của người tiêu dùng trong tương lai thì ý thức
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
về việc trả nợ của người tiêu dùng sẽ rất cao. Vì vậy các ngân hàng nên quan
tâm đến việc lựa chọn tài sản để tài trợ, các tài sản có thời gian sử dụng dài,
có giá trị lớn giúp người tiêu dùng hưởng thụ được tiện ích của nó trong thời
gian dài sẽ được các ngân hàng ưa thích lực chọn để tài trợ.
+ Số tiền phải trả trước: với hình thức này các ngân hàng khi quyết
định cho vay họ sẽ yêu cầu người tiêu dùng phải có 1 lượng vốn tự có nhất
định và các ngân hàng sẽ chỉ cho vay tối đa 70% tổng giá trị tài sản. Quy
định này của ngân hàng nhằm tránh trường hợp khách hàng dùng tài sản hình
thánh từ vốn vay làm tài sản thế chấp, khi phải phát mại tài sản không gây
nhiều rủi ro cho ngân hàng.
Điều khoản thanh toán:
- Số tiền thanh toán mỗi kỳ phải phù hợp với thu nhập của người vay
sau khi đã trừ các khoản chi tiêu cần thiết khác.
- Giá trị tài sản không được thấp hơn số tiền cho vay chưa được thu hồi.
- Thời hạn vay không được quá dài tránh trường hợp tài sản được tài
trợ giảm giá trị dẫn tới rủi ro đối với ngân hàng.
- Số tiền khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ được tính
theo một trong các cách sau:
Phương pháp lãi đơn: theo đó số tiền gốc khách hàng phải trả mỗi kỳ là
đều nhau và nó được tính bằng cách lấy số nợ gốc chia cho kỳ hạn trả nợ, kỳ
hạn trả nợ có thể là tháng, quý, năm hoặc năm tài chính. Số tiền lãi trả mỗi kỳ
bằng lãi suất nhân với số dư nợ gốc kỳ đó.
Phương pháp lãi gộp: đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất
trong hình thức cho vay tiêu dùng trả góp. Theo phương pháp này, số tiền
phải thanh toán ở mỗi kỳ hạn nợ (a) được tính như sau:

cho vay tiêu dùng trả góp do không phải tiến hành thu nợ làm nhiều kỳ.
1.2.3. Đặc điểm Tín DụngTiêu Dùng
Thực chất tín dụng tiêu dùng là một loại hình trong tín dụng ngân hàng
vì vậy nó mang những đặc điểm của tín dụng nói chung. Tuy nhiên tín dụng
tiêu dùng nhằm vào đối tượng khách hàng là cá nhân và hộ gia đình do vậy
ngoài những đặc điểm chung tín dụng tiêu dùng còn có một số đặc điểm sau:
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
1.2.3.1. Đặc điểm về khách hàng và mục đích vay
Khách hàng chủ yếu trong lĩnh vực này là cá nhân và hộ gia đình, mục
đích của các khoản vay hướng tới là nhu cầu chi tiêu của cá nhân hay hộ gia
đình chứ không xuất phát từ mục đích kinh doanh như các khoản tín dụng
khác. Nhu cầu vay tiêu tiêu dùng bị chi phối bởi mức thu nhập và trình độ dân
trí của khách hàng. Những người có thu nhập cao thường có xu hướng chi
tiêu nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình, với họ việc vay mượn là
một công cụ để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một lựa chọn chỉ
được dùng trong tình trạng khẩn cấp.
1.2.3.2. Nhu cầu vay và nguồn trả nợ
Khách hàng trong lĩnh vực vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình vì
vậy nhu cầu vay của họ rất nhạy cảm và có tính chu kỳ. Khi nền kinh tế đang
tăng trưởng mạnh mọi người sẽ kỳ vọng thu nhập của mình sẽ tăng trong
tương lai, khi đó người dân sẽ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn trong hiện tại
và do đó vay tiêu dùng tăng lên. Trong trường hợp nền kinh tế tăng trưởng
chậm hoặc suy thoái thì tình hình sẽ ngược lại cho vay tiêu dùng sẽ giảm.
Cũng có thể thấy được nguồn trả nợ từ các khoản tín dụng thượng mại là
khoản thu nhập tăng lên từ quá trình sản xuất kinh doanh, bán hàng của doanh
nghiệp nhưng đối với các khoản TDTD nguồn trả nợ được lấy từ thu nhập của
người vay trong tương lai. Vì vậy những cá nhân có mức thu nhập cao, việc
làm ổn định, có trình độ học vấn cao thì sẽ được các ngân hàng lựa chọn cấp

Có nhiều phương pháp khác nhau để ngân hàng xác định mức lãi suất
đối với khoản TDTD. Song phần lớn lãi suất được xác định như sau:
Lãi suất
cho vay
tiêu dùng
=
Chi phí
huy động
vốn
+
Chi phí
hoạt
động
khác
+
Rủi ro
tổn thất
dự kiến
+
Phần bù kỳ hạn
với các khoản
cho vay dài hạn
+
Lợi
nhuận
cận biên
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
Do chi phí và rủi ro của các khoản vay tiêu dùng cao nên lãi suất cho

cơ hội mở rộng và phát triển.
1.3.1.2. Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng của NH là hệ thống các chủ trương, định hướng
quy định chi phối toàn bộ hoạt động tín dụng do Hội đồng quản trị đưa ra
nhằm sử dụng nguồn vốn tài trợ cho sự phát triển của nền kinh tế một cách
hiệu quả. Chính sách tín dụng có các khoản mục sau:
- Hạn mức tín dụng
- Các loại hình cho vay mà ngân hàng thực hiện
- Các quy định về tài sản đảm bảo
- Kỳ hạn của các khoản tín dụng
- Hướng giải quyết phần tín dụng vượt quá hạn mức cho vay
- ……………………
Các cán bộ tín dụng thông qua chính sách tín dụng lựa chọn hướng đi
và là khung tham chiếu rõ ràng về những căn cứ để xem xét nhu cầu vay vốn
của khách hàng từ đó đưa ra các quyết định về việc cấp tín dụng. Vì vậy chính
sách tín dụng là một công cụ không thể thiếu đối với mỗi cán bộ tín dụng.
Một khách hàng không thể vay vốn được từ ngân hàng phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng của mình nếu hình thức cho vay tiêu dùng không nằm trong chính
sách tín dụng của ngân hàng do đó TDTD tại ngân hàng đó không thể phát
triển. Ví dụ một ngân hàng không có hình thức cho vay để mua ôtô thì dù
khách hàng có nhu cầu và mọi điều kiện đáp ứng là hoàn hảo thì khách hàng
đó cũng không thể được cấp tín dụng. Ngược lại nếu một ngân hàng đã sẵn có
những hình thức cho vay tiêu dùng với chất lượng tốt thì lĩnh vực cho vay tiêu
dùng là hoàn toàn có cơ hội để mở rộng và phát triển. Do tính chất đặc thù
của ngành ngân hàng, các ngân hàng không thể cạnh tranh với nhau bởi danh
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
mục sản phẩm dịch vụ vì vậy một chính sách tín dụng đúng đắn và hợp lý sẽ
giúp mỗi ngân hàng có được sự khác biệt và tạo ra ưu thế cạnh tranh từ đó

Ngoài ra một cán bộ tín dụng có hiểu biết sâu vế các lĩnh vực khác trong cuộc
sống và một mối quan hệ xã hội rộng cũng là điều kiện cần để giúp ngân hàng
thu hút được ngày càng nhiều khách hàng về mình. Một ngân hàng có những
cán bộ tín dụng chất lượng và có sự phân công xắp xếp công việc hợp lý sao
cho phát huy được điểm mạnh của từng cán bộ chắc chắn hoạt động tín dụng
nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng tại ngân hàng đó sẽ thực
sự phát triển và đủ sức cạnh tranh với các TCTD khác.
1.3.1.4. Năng lực tài chính và trình độ quản lý của ngân hàng
Ngân hàng là lĩnh vực hoạt động mang lại rất nhiều lợi nhuận nhưng
cũng là lĩnh vực luôn phải đối mặt với những rủi ro lớn. Do vậy năng lực tài
chính của mỗi ngân hàng là một yếu tố mà các nhà lãnh đạo cần cân nhắc khi
đưa ra các quyết định trong đó có các quyết định về hoạt động cho vay tiêu
dùng. Năng lực tài chính của ngân hàng được xác định dựa trên một số yếu tố
như: lượng vốn chủ sở hữu, tỷ trọng nợ qúa hạn trên tổng dư nợ, số lượng tài
khoản thanh khoản, tỷ lệ % lợi nhuận năm sau so với năm trước… Nếu một
ngân hàng có các chỉ tiêu trên là tốt số lượng tài sản thanh khoản nhiều, tỷ lệ
% lợi nhuận cao… thì có thể coi ngân hàng đó có năng lực tài chính tốt. Với
điều kiện về tài chính như vậy ngân hàng có thể đảm bảo phát triển tốt các
hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng tiêu dùng nói riêng từ đó
cho vay tiêu dùng có cơ hộ được mở rộng.
Trong năm qua toàn thế giới chứng kiến sự thay đổi và phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ. Việc áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệ
vào trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống là một điều tất yếu, lĩnh vực
ngân hàng là lĩnh vực hoạt động áp dụng mạnh mẽ nhất những tiến bộ khoa
học công nghệ, các ngân hàng được trang bị nhiều phương tiện hiện đại như
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
máy tính nối mạng, máy rút tiền tự động ATM… Do vậy trình độ khoa học
công nghệ và khả năng quản lý của ngân hàng cũng là một trong những nhân

tháng của khách hàng… Sau khi khách hàng hứng minh mình đáp ứng được
các điều kiện quy định của ngân hàng, khi đó khách hàng sẽ được cấp tín
dụng.
1.3.2.2. Năng lực sử dụng vốn của khách hàng
Trong một khoản cho vay tiêu dùng nguốn trả nợ gốc chính là khoản
thu nhập trong tương lai của khách hàng. Thu nhập của khách hàng quyết
định đến nhu cầu vay nhưng cũng là cơ sở để ngân hàng quyết định có cho
khách hàng vay tiêu dùng hay không. Ngân hàng phải xem xét liệu co cho
khách hàng đó vay hay không, liệu thu nhập trong tương lai của người vay có
thể đủ trả cho khoản vay ở hiện tại hya không. Do vậy có thể khẳng định thu
nhập thu nhập trong tương lai của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến không
chỉ nhu cầu vay tiêu dùng mà còn nảnh hưởng tới quy mô khoản vay cũng
như việc phát triển cho vay tiêu dùng tại mỗi ngân hàng. Bên cạnh vấn đề thu
nhập, cho vay tiêu dùng còn bị chi phối bởi một số nhân tố thứ yếu khác như
vấn đề đạo đức và thiện trí trả nợ của người vay. Một khách hàng có thu nhập
ổn định đạo có đức tốt có ý thức trả nợ đụng hạn chắc chắn sẽ được các ngân
hàng lựa chọn làm đối tác lâu dài của mình. Khi đó rủi ro trong lĩnh vực cho
vay tiêu dùng sẽ thấp từ đó tạo điều kiện kích thích ngân hàng mở rộng hoạt
động cho vay tiêu dùng cùng với đó là các điều kiện, thủ tục cho vay sẽ không
quá khắt khe.
1.3.3. Nhóm nhân tố xuất phát từ môi trường hoạt động của ngân
hàng
1.3.3.1.Yêu cầu phát triển của nền kinh tế
Một đất nước có nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo cơ hội mở rộng
hoạt động cho vay tiêu dùng. Kinh tế vĩ mô ổn định với sự ổn định của các chỉ
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
số về lạm phát, việc làm, lãi suất, tỷ giá… sẽ làm cho các định chế tài chính
về lĩnh vực cho vay không có những biến động. Nền kinh tế phát triển và ổn

các chính sách đều được cụ thể hoá bằng hệ thống pháp luật. Một hệ thống
phấp luật hoàn thiện là cơ sở đảm bảo cho hoạt động tài chính an toàn ổn định
kích thích các định chế tài chính nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ có chất
lượng ngày một nâng cao, củng cố mối quan hệ hợp tác bình đẳng đôi bên
cùng có lợi giữa ngân hàng với khách hàng. Đặc biệt trong hoạt động cho vay
tiêu dùng khi cả ngân hàng và khách hàng là những cá nhân đều được đảm
bảo về lợi ích thì hoạt động vay tiêu dùng sẽ diễn ra thuận lợi hơn. Thông qua
hệ thống pháp luật ngân hàng và người đi vay thực hiện được các thủ tục giấy
tờ cũng như có phương hướng giải quyết hợp lý khi phát sinh các tranh chấp
trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh một môi trường pháp luật hoàn thiện thì nhân tố chính
sách của Nhà nước về lĩnh vực tiêu dùng trong nước cũng không kém
phần quan trọng. Các chính sách có thể kìm hãm hay thúc đẩy hoạt động
cho vay tiêu dùng phát triển. Tuỳ từng thời kỳ phát triển kinh tế của mỗi
nước mà các chính sách này là khác nhau. Ví dụ khi Nhà nước thực hiện
chiến lược phát triển kinh tế theo hướng coi trọng xuất khẩu khi đó tiêu
dùng trong nước sẽ ít được quan tâm, mọi hoạt động đều hướng tới mục
tiêu đáp ứng quá trình xuất khẩu. tuy nhiên với chính sách này không phải
nước nào cũng có thể thành công do đó chiến lược phát triển phổ biến ở
hầu hết các nước là chiến lược phát triển kinh tế ổn định và bền vững. Với
tinh thần đó Nhà nước sẽ tạo môi trường thuận lợi đẩy mạnh tiêu dùng
trong nước thông qua các chính sách thuế, thương mại, du lịch, giáo, dục
y tế… và đó là bước đẹm để hoạt cho vay tiêu dùng có thể phát triển rộng
khắp trong cả nước.
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
1.3.3.3. Môi trường văn hoá – xã hội
Trước khi các ngân hàng muốn phát triển một sản phẩm dịch vụ mới
ngoài các yếu tố về môi trường pháp luật, điều kiện kinh tế… thì các ngân

do chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể quy trình thực hiện
nghiệp vụ. Trong thời gian qua đã ra đời một loạt các văn bản pháp luật
hướng dẫn cụ thể quy trình nghiệp vụ hoạt động trong lĩnh vực cho vay tiêu
dùng và đây là lúc các NHTM tại Việt nam liên tục phát triển và mở rộng các
loại hình cho vay tiêu dùng nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh cho ngân hàng
mình. Việt nam được coi là một thị trường đầy tiềm năng để phát triển các
loại hình dịch vụ cho vay tiêu dùng.
Nếu như trứơc đây người tiêu dùng rất ngại tiếp xúc với nguồn vốn từ
ngân hàng vì họ cảm thấy phức tạp, về phía ngân hàng thì họ cũng không mặn
mà cho vay tiêu dùng vì lo ngại gặp phải rủi ro. Nhưng đến thời điểm này tình
hình đã đổi khác. Khách hàng thuộc tất cả mọi tầng lớp đều thích có mối quan
hệ với ngân hàng họ đến ngân hàng không chỉ để gửi tiền tiết kiệm mà còn để
vay vốn, đặc biệt là vay để: mua và sửa nhà, mua ôtô, đi du học… Do đó
trong thời gian tới tuy sẽ có hàng loạt ngân hàng trong và ngoài nước tham
gia vào hoạt động cho vay tiêu dùng song với một thị trường rộng lớn và đầy
tiềm năng như Việt nam sẽ hứa hẹn mang lại sự thành công cho các ngân
hàng biết tận dụng nó.
1.4.2. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại một số nước
1.4.2.1. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Trung Quốc
Hiện nay cho vay tiêu dùng được coi là một xu thế phát triển tất yếu tại
các NHTM, đặc biệt với một quốc gia như trung quốc với dân số đông nhất
nhì Thế giới thật là đáng tiếc cho những ngân hàng đang hoạt động tại Trung
quốc không triển khai rộng rãi hoạt động cho vay tiêu dùng. Các NHTM ở
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa NH - TC
Trung Quốc đã trú trọng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng và đã đạt
được một số kết quả đáng khen ngợi. Vào những năm 90 của thế kỷ trước do
nền kinh tế còn chưa phát triển đời sống của người dân chưa cao do đó nhu
cầu vay tiêu dùng là không nhiều vì vậy hoạt động cho vay tiêu dùng tại

nói đây là một điểm rất mới trong hoạt động cho vay tiêu dùng mà ngân hàng
phát triển Thượng Hải – Phú Đông thực hiện tại thời điểm đó. Từ tháng
8/1999 ngân hàng phát triển Thượng Hải – Phú Đông đã phối hợp với các
công ty du lịch lữ hành để đưa ra các khoản cho vay du lịch, kể từ đó đã có rất
nhiều những cặp vợ chồng trẻ mới cưới có cơ hội được tận hưởng tuần trăng
mật thông qua những chuyến du lịch bằng các khoản vay ngân hàng. Ngoài ra
ngân hàng này còn kéo dài các khoản vay dành cho đào tạo Đại học từ 2 năm
lên 4 năm và thành lập một quỹ đặc biệt dành cho các bậc cha mẹ vay vốn do
muốn gửi con cái vào các trường học tư nhân đắt tiền. Ngân hàng Thượng Hải
- Phú Đông đã cố gắng đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu vay tiêu dùng của
nhiều đối tượng dân cư nhằm tăng thêm uy tín của ngân hàng và cạnh tranh
với các ngân hàng khác. Để thực hiện được kế hoạch này ngân hàng phát triển
Thượng Hải – Phú Đông đã tăng gấp đôi số nhân viên Marketing cho lĩnh vực
tín dụng tiêu dùng và chiếm khoảng 22% tổng quỹ lương. Cho vay tiêu dùng
đã mang lại sức sống mới cho các NHTM tại Trung Quốc, tuy nhiên các
khoản cho vay tiêu dùng vẫn còn khá mới mẻ với không chỉ người tiêu dùng
mà còn mới mẻ với các Tổ chức tín dụng tại Trung Quốc do vậy những rủi ro
trong lĩnh vực này gặp phải vẫn chưa bộc lộ rõ nét và đầy đủ. Khả năng trả nợ
của các khoản vay tiêu dùng phụ thuộc phần nhiều vào tình trạng của người
vay như tình trạng sức khoẻ và công việc vì vậy những rủi ro mà các ngân
hàng gặp phải là không thể lường trước nên vẫn xẩy ra một số trường hợp các
khoản vay đến hạn trả mà người vay không có khả năng trả nợ. Mặt khác kể
từ năm 2003 cùng với sự phát triển của hoạt động cho vay của khu vực ngân
Lê Văn Hưởng Ngân hàng 46C
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status