Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của việt nam - Pdf 14



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO
LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thúy Hằng
Lớp : Nhật 1
Khoá : 43
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Phạm Thị Mai Khanh Hà Nội - 2008


2. Thị trƣờng bán lẻ Việt Nam cần đƣợc phát triển hơn phù hợp với nhu
cầu tiêu dùng của ngƣời dân 35
3. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nƣớc 38
4. Hạn chế độc quyền trong lĩnh vực phân phối, lành mạnh hoá thị
trƣờng, đối phó tốt hơn khi tình hình kinh tế thế giới biến động 39
II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC
PHÂN PHỐI BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM 40
1. Quy mô vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ 41
2. Cơ cấu vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam 45
1.1. Xét theo đối tác đầu tư 45
1.2. Xét theo địa bàn đầu tư 47
III. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG FDI VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ
CỦA VIỆT NAM 49
1. Tác động tích cực 49
1.1. Tốc độ tăng trưởng lĩnh vực phân phối bán lẻ thay đổi 49
1.2. Mang đến những phương thức quản lý và trình độ tổ chức kinh doanh
hiện đại 51
1.3. Thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao năng lực cạnh
tranh 52
1.4. Phục vụ người tiêu dùng tốt hơn 54
1.4.1. Về giá cả 54
1.4.2. Về số lượng 55
1.4.3. Về chất lượng 55
1.4.4. Về những dịch vụ chăm sóc khách hàng 56
1.5. Hỗ trợ nông dân và các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa 56
2. Tác động tiêu cực 58
2.1.Biến đổi trong tình trạng việc làm 58 2.2.Biến đổi trong tình trạng thu nhập của các nhóm đối tượng trong xã hội 59

2.2. Tận dụng tối đa hiểu biết về thị trường trong nước 83
2.3. Đổi mới khâu tổ chức và quản lý 84
2.4. Nâng cao chất lượng sản phẩm 85
2.5. Nâng cao chất lượng lao động 85
2.6. Mở rộng thị trường tới khu vực nông thôn 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối 13
Bảng 2: Vị trí của nhà bán lẻ trong kênh phân phối 13
Bảng 3: Tổng hợp các chỉ tiêu về mạng lưới chợ trên cả nước đến năm 2006 28
Bảng 4: Tổng hợp số liệu về siêu thị trên cả nước đến năm 2006 30
Bảng 5: So sánh tổng mức bán lẻ hàng hóa với quỹ tiêu dùng cuối cùng thời
kỳ 1996-2005 35
Bảng 6: FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo thời gian
nhận vốn đầu tư 41
Bảng 7: FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối tác đầu
tư tính đến tháng 3/2008 46
Bảng 8: FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo địa bàn đầu
tư tính đến tháng 3/2008 48

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Doanh thu và tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực phân phối bán lẻ 20
Biểu đồ 2: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo các
khu vực kinh tế giai đoạn 2002- 2005 42
Biểu đồ 3: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ giai đoạn 2002-2005 43
Biểu đồ 4: Các loại hình phân phối bán lẻ của Việt Nam trong giai đoạn 2002
quan đến cả sản xuất và tiêu dùng. Nguồn vốn FDI vào lĩnh vực phân phối
bán lẻ không chỉ tác động về mặt kinh tế mà còn tạo ra không ít những tác
động về mặt xã hội ở Việt Nam. Làm thế nào để vừa thu hút được vốn đầu tư
nước ngoài vào lĩnh vực này để tận dụng được những ảnh hưởng tích cực lại
vừa hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của dòng vốn ấy chính là chìa khóa
cho sự phát triển kinh tế nước ta. Trước câu hỏi đó, người viết chọn đề tài
“Thực trạng đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ
của Việt Nam” làm đề tài khóa luận.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng phát triển lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam
Nghiên cứu thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân
phối bán lẻ của Việt Nam từ đó đánh giá những kết quả đạt được và những
tồn tại
Đưa ra những giải pháp nhằm tận dụng tốt nhất dòng vốn FDI vào lĩnh
vực phân phối bán lẻ của Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu hoạt động FDI vào lĩnh vực phân phối
bán lẻ của Việt Nam giai đoạn từ năm 1996 tới đầu năm 2008 trong bối cảnh
phát triển lĩnh vực phân phối bán lẻ nói chung.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện chủ yếu dựa trên các phân tích, đánh
giá định lượng và định tính thông qua một số phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp - phân
tích, biểu đồ để làm sáng tỏ, phong phú thêm lý luận nhằm giải quyết các
nhiệm vụ đã đề ra. 5. Kết cấu khóa luận

hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào
mục đích cá nhân, không kinh doanh
1
.
Mọi tổ chức làm công việc bán hàng này, cho dù là người sản xuất,
người bán sỉ hay người bán lẻ, đều là làm công việc bán lẻ, bất kể là hàng
hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (trực tiếp, qua bưu điện, qua điện 1
Philip Kotler (2003), Quản trị Marketing, NXB Thống Kê, Hà Nội, trang 628 thoại hay máy tự động bán hàng) hay chúng được bán ở đâu ( tại cửa hàng,
ngoài phố hoặc tại nhà người tiêu dùng).
Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa:
Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ
tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định
mà qua các dịch vụ liên quan
2
.
Theo cách hiểu nào đi chăng nữa thì nói chung bán lẻ là hoạt động
kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất (nhà nhập
khẩu), hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng nhằm phục
vụ nhu cầu cá nhân hay gia đình.
1.2. Vị trí của bán lẻ
1.2.1. Vị trí của phân phối bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối
Theo phân ngành dịch vụ của WTO, dịch vụ phân phối được chia
thành 5 tiểu ngành, phân phối bán lẻ là một trong 5 tiểu ngành đó (5 tiểu
ngành đó gồm có: Dịch vụ đại lý hoa hồng; Dịch vụ bán buôn; Dịch vụ bán
Như vậy, người bán lẻ sẽ trực tiếp nhận hàng hóa từ nhà sản xuất, nhà
nhập khẩu, hoặc nhà bán sỉ rồi chuyển tới người tiêu dùng. Nhà bán lẻ là mắt
xích cuối cùng trong chuỗi giá trị. Vai trò của nhà bán lẻ là cực kỳ quan
trọng bởi vì chính ngay tại điểm bán lẻ người tiêu dùng có cơ hội chọn mua
sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng. Người bán lẻ là người am
hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời người bán lẻ cũng chính là
người nắm bắt được sát thực nhất những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng
của khách hàng.
1.3. Những kiểu tổ chức phân phối bán lẻ chính
Mạng lưới công ty: Các cửa hàng của mạng lưới là hai hay nhiều cửa
hàng cùng thuộc một quyền sở hữu và kiểm soát, có chung một bộ phận thu
mua và tiêu thụ tập trung, và bán những chủng loại hàng hóa tương tự nhau.
Mạng lưới công ty xuất hiện trong tất cả các loại hình bán lẻ, nhưng phát
triển mạnh nhất là ở cửa hàng bách hóa tổng hợp, các cửa hàng tạp hóa, các
cửa hàng thực phẩm, cửa hàng dược phẩm, cửa hàng giày dép và cửa hàng
trang phục phụ nữ.
Mạng lưới tự nguyện và hợp tác xã bán lẻ: Mạng lưới tự nguyện gồm
một nhóm những người bán lẻ độc lập được người bán sỉ bảo trợ thu xếp để
mua số lượng lớn hàng hóa và cùng bán. Hợp tác xã bán lẻ, gồm những

bán lẻ đứng vị trí cuối cùng trong hệ thống nên nó đóng vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt trong bối
cảnh toàn cầu hóa với cơ cấu kinh tế chuyển dần từ công nghiệp - nông
nghiệp - dịch vụ sang dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp.
Thứ nhất, phân phối bán lẻ cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu
dùng cuối cùng
Khi phát sinh nhu cầu thì người ta mới có mong muốn về hàng hóa
nhưng không phải lúc nào người tiêu dùng có thể đến mua hàng hóa trực tiếp
từ các nhà sản xuất, nhà bán buôn được. Nhà bán lẻ mới thực sự có vai trò
nhu cầu và mong muốn đó của người tiêu dùng, cung cấp hàng hóa cho họ
đúng thời gian, đúng địa điểm và ở mức giá họ có thể trả. Đây không phải
công việc dễ dàng, đặc biệt trong điều kiện hàng hóa và dịch vụ sản xuất
ngày càng đa dạng và nhu cầu của khách hàng luôn biến đổi. Nhà bán lẻ phải
luôn luôn thu thập những thông tin cần thiết về nhu cầu về thị hiếu của
khách hàng… để rồi từ đó làm thỏa mãn khách hàng bằng những sản phẩm
và dịch vụ của mình. Như thế bản thân hoạt động phân phối bán lẻ hàng hóa
cũng tạo thêm lợi ích cho người tiêu dùng thông qua việc tạo ra sự đa dạng
về hàng hóa cung ứng, tạo thuận tiện về địa điểm mua, bán, thuận tiện về các
dịch vụ bảo hành và cung cấp thông tin. Khi có nhiều doanh nghiệp tham gia
vào lĩnh vực phân phối hàng hóa thì chi phí trong khâu phân phối được
chuyển vào giá bán cho người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh trong dịch vụ
phân phối hàng hóa sẽ góp phần làm giảm chi phí phân phối và việc giảm
giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng.
Thứ hai, nhà phân phối bán lẻ có vai trò thu thập thông tin thị trường,
phản ánh trở lại nhà sản xuất
Quá trình chuyển dịch hàng hóa tới tay người tiêu dùng thông qua
dịch vụ phân phối bán lẻ luôn gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường cả
Thứ tư, phân phối bán lẻ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao
động
Thống kê từ năm 2000 trở lại đây cho thấy, tỉ trọng lao động trong
ngành dịch vụ phân phối hàng hóa ngày càng gia tăng từ 10,4% (năm 2000)
lên 12% (năm 2006). Nếu so sánh với ngành nông nghiệp thì đóng góp của
dịch vụ phân phối trong GDP không thấp hơn đáng kể so với ngành nông
nghiệp, nhưng lao động của lĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hóa chỉ bằng
1/6 so với ngành nông nghiệp. Xu hướng chung là tỉ trọng lao động làm việc
trong lĩnh vực dịch vụ phân phối sẽ ngày càng gia tăng, còn trong ngành
nông nghiệp sẽ ngày càng giảm. Tính đến năm 2006, số lao động đang làm
việc trong lĩnh vực phân phối khoảng hơn 5 triệu người. Lĩnh vực phân phối
bán lẻ lại là lĩnh vực thu hút nhiều lao động nhất trong ngành dịch vụ phân
phối. Theo thống kê của Bộ công thương, Việt Nam hiện tại ước tính có
khoảng 900 nghìn cửa hàng bán lẻ cùng với 9.100 chợ truyền thống các loại
và khoảng 300 siêu thị phân bố trên 32 tỉnh, thành phố trên cả nước. Lĩnh
vực này đã thu hút một số lượng lao động lớn hoạt động kinh doanh một
cách nhỏ lẻ chưa có kiến thức chuyên môn về phân phối bán lẻ
4
.
Thứ năm, dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa đóng vai trò trong việc
tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
Khi quyết định liên kết với các nhà bán buôn, bán lẻ, các nhà sản xuất
đã có chiến lược kinh doanh của mình với các quyết định về sản phẩm như
về giá bán, xúc tiến, quảng bá sản phẩm, họ đã chủ động xây dựng mối liên 4
Bộ Thương Mại, Đánh giá một số tác động về kinh tế và xã hội của việc thực hiện các cam kết mở cửa thị


II. KHÁI QUÁT VỀ LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM
1. Doanh thu và tốc độ tăng trƣởng
Kể từ khi đất nước ta thực hiện chính sách mở cửa thị trường, kinh tế
đã từng bước phát triển một cách vững chắc. Sản xuất phát triển, thu nhập của
người dân ngày một tăng, nhu cầu cũng ngày một đa dạng. Hàng hóa trên thị
trường luôn được thay đổi phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Lĩnh vực
phân phối bán lẻ của Việt Nam cũng trên đà tăng trưởng. Trong vòng 10 năm
từ 1996 tới 2006, doanh thu từ kinh doanh bán lẻ đã tăng gần gấp 3 lần đạt
36.29 tỉ USD vào năm 2006. Tốc độ tăng trưởng trong những năm qua khá
cao, từ năm 2002 tới nay tốc độ tăng trưởng luôn đạt trên 10%/năm:
Biểu đồ 1: Doanh thu và tốc độ tăng trƣởng trong lĩnh vực
phân phối bán lẻ
Với dân số trên 84 triệu người, trong đó có 65% là dân số trẻ, thu
nhậpngày càng cao, tốc độ tiêu dùng tăng mạnh mẽ, và là cửa ngõ dẫn tới
các thị trường như Ấn Độ, Trung Quốc, Campuchia và Lào…, nước ta
đang trở thành một trong những nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất
của thế giới. Không những thế, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt
Nam cũng ở mức cao kỷ lục là 118 điểm và đứng thứ 5 thế giới trong khi
mức trung bình của thế giới chỉ là 97 điểm, Việt Nam được tập đoàn tư
vấn AT Kearney xếp hạng về độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ là vị trí thứ
3 năm 2006 và vị trí thứ 4 năm 2007
5
. Tiềm năng đầy hứa hẹn đó kết hợp
với việc mở cửa thị trường phân phối sẽ thúc đẩy hơn nữa sự phát triển
của lĩnh vực phân phối bán lẻ. Và chúng ta có quyền hy vọng trong một
tương lai không xa, Việt Nam sẽ có dịch vụ phân phối bán lẻ chuyên

doanh tại thị trường Việt Nam. Để phân tích chi tiết hơn nữa các chủ thể
tham gia lĩnh vực này ta xét tới ba chủ thể chính sau:
- Nhóm đối tượng thứ nhất - Các công ty phân phối trong nước, bao
gồm cả các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Đây là những nhà phân phối có trình độ khá chuyên nghiệp và mạng lưới
hệ thống phân phối rộng trải đều trên nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương trong cả nước. Họ có hệ thống phân phối theo chuỗi khá hiện
đại: Liên hiệp HTX Thương mại và Dịch vụ thành phố Hồ Chí Minh với
chuỗi hơn 28 siêu thị và hàng chục cửa hàng tiện lợi mang tên Saigon
Co.op, Công ty XNK INTIMEX với chuỗi 8 siêu thị mang tên INTIMEX,
Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ An Phong với chuỗi 5 siêu thị
MAXIMARK, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Đông Hưng với
chuỗi 10 siêu thị và cửa hàng chuyên doanh mang tên CITIMART, Tổng 6
Bộ Thương Mại, Đánh giá một số tác động về kinh tế và xã hội của việc thực hiện các cam kết mở cửa thị
trường dịch vụ phân phối của Việt Nam trong khuân khổ,2007
công ty Dệt may Việt Nam với chuỗi 17 siêu thị và 19 cửa hàng chuyên
doanh thời trang mang tên VINATEX…Quá trình thành lập, kéo dài các
chuỗi vẫn đang trên đà tiếp tục phát triển trong những năm tới. Không
dừng lại ở đó, các doanh nghiệp còn cùng nhau tạo ra những liên minh
mạnh hơn, có quy mô kinh doanh lớn hơn trên cơ sở tích hợp thế mạnh
của nhau (vốn, đất đai, kinh nghiệm quản lý, thương hiệu…). Công ty
Xây dựng VINACONEX và Công ty Thương mại Tràng Tiền hợp tác xây
dựng và vận hành TTTM Tràng Tiền PLAZA, Liên hiệp HTX Thương
mại và Dịch vụ thành phố Hồ Chí Minh liên doanh, hợp tác với một số

có tính cạnh tranh cao hơn. Tính đến nay, đã có 6 tập đoàn bán lẻ, phân
phối quốc tế có mặt ở Việt Nam, trong đó có nhiều tập đoàn lớn như
Metro Cash & Carry, Parkson, Big C đã kinh doanh khá thành công và
đang đẩy nhanh quá trình củng cố, mở rộng hệ thống phân phối của mình
tại Việt Nam.
Nhìn chung, các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực
phân phối hàng hóa ở Việt Nam có những lợi thế nổi trội so với các doanh
nghiệp trong nước về năng lực tài chính, công nghệ, áp dụng các phương
thức kinh doanh mới và đặc biệt là kinh nghiệm và trình độ tổ chức quản
trị kinh doanh. Hầu hết đây đều là những tập đoàn lớn của thế giới, có bề
dày kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực này và đã thiết lập được một
mạng lưới kinh doanh có tính chất toàn cầu. Vì vậy, sự có mặt của các tập
đoàn này một mặt tạo nên áp lực lớn về cạnh tranh đối với các doanh
nghiệp trong nước nhưng cũng là cơ hội tốt để hình thành một thị trường
nội địa hoạt động lành mạnh, phát triển đa dạng và tiếp cận được trình độ
hiện đại của thế giới. Do có những lợi thế về năng lực tài chính, trình độ tổ chức kinh
doanh như đã nêu trên nên các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài có cách tổ chức hoạt động kinh doanh rất chuyên nghiệp và
thường tập trung vào khâu phân phối dựa trên việc ký hợp đồng thu mua
sản phẩm từ nhiều nguồn khác nhau (từ các nhà sản xuất trong nước và
nhập khẩu từ các nhà sản xuất nước ngoài) mà không trực tiếp sản xuất ra
sản phẩm để phân phối như một số doanh nghiệp trong nước.
- Nhóm đối tượng thứ ba - Các hộ kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ
trong nước.
Đây vẫn đang là một trong những thành phần quan trọng tham gia
vào thị trường bán lẻ của Việt Nam và tạo ra việc làm cho khoảng 5 triệu
lao động phổ thông trong cả nước. Tuy nhiên, đặc điểm chung của khu

(không tính các chợ hình thành tự phát). Trong đó, vùng Đồng bằng sông
Hồng chiếm 19,1%, vùng Đông Nam Bộ chiếm 14,9%; Tây Bắc Bộ:
3,1%; Bắc Trung Bộ: 15,4%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 10,8%; Tây
Nguyên: 4,9%: Đông Nam bộ: 11,3%; Đồng bằng sông Cửu Long: 20,5%.
Chợ bán lẻ phục vụ dân sinh ở các xã, phường, thị trấn, thị tứ chiếm
tỉ trọng lớn tới 91,5%. Chợ tổng hợp bán buôn, bán lẻ hạng I: chiếm
2,3%. Chợ đầu mối bán buôn nông sản; chiếm 0,6% tập trung nhiều ở
Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và Đông bắc bộ. Chợ
biên giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu: chiếm 1,9%, nhiều
nhất là vùng Đông bắc bộ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status