Giải pháp ứng dụng thương mại điện tử trong nghành hàng không thông qua phân tích mô hình ứng dụng thương mại điện tử của pacific airlines - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG
NGÀNH HÀNG KHÔNG THÔNG QUA PHÂN TÍCH MÔ HÌNH
ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CỦA PACIFIC AIRLINES
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Văn Thoan
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Phương Thanh
Lớp : Anh 17
Khoá : K43E
Ở Việt Nam hiện nay, TMĐT là một lĩnh vực tương đối mới, hiện đang
được Chính phủ dành rất nhiều sự quan tâm với những chủ trương chính sách
nhằm thúc đẩy TMĐT phát triển. Thực tế đã cho thấy TMĐT đang dần thâm
nhập vào các hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trên thế giới nói
chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng, tạo nên những thế mạnh đột phá
mới.
Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 2
TMĐT cũng đã và đang tạo ra sự thay đổi đáng kể cho các ngành dịch vụ,
trong đó phải kể đến ngành hàng không, du lịch, khách sạn để ứng dụng Internet
vào đặt vé máy bay, tàu lửa, tour du lịch, tư vấn v.v… qua đó góp phần đưa hình
ảnh doanh nghiệp đến người tiêu dùng gồm cả người trong nước và nước ngoài
một cách hiệu quả hơn. Để hoạt động kinh doanh có hiệu quả, ngày càng có
nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp hàng không xây dựng website để
quảng bá sản phẩm dịch vụ của mình, tận dụng việc khai thác kênh thông tin –
tiếp thị Internet. Nhờ đó khách hàng trong nước và quốc tế có thể truy cập vào
website để tìm thông tin về chuyến bay, giá vé, và nhiều dịch vụ khác do doanh
nghiệp cung cấp.
Từ tất cả những lý do trên, em đã chọn đề tài “Giải pháp ứng dụng mô
hình thương mại điện tử trong ngành hàng không thông qua phân tích mô hình
ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không Pacific Airlines” với mục
đích:
- Nghiên cứu vai trò của TMĐT đối với hoạt động của ngành hàng không.
- Tìm hiểu thực trạng ứng dụng TMĐT vào ngành hàng không trên thế giới
và ở Việt Nam.
- Tìm hiểu thực trạng triển khai TMĐT trong hoạt động kinh doanh của
Công ty cổ phần hàng không Pacific Airlines (nay hoạt động dưới thương
hiệu mới là Jetstar Pacific), từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt

Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ TÌNH
HÌNH TRIỂN KHAI THƢƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, TMĐT ra đời là kết quả hợp
thành của nền KT số hóa và “xã hội thông tin”. TMĐT bao trùm một phạm vi
rộng lớn các hoạt động kinh tế và xã hội, nó mang đến lợi ích tiềm năng và đồng
thời thách thức lớn cho người sử dụng. TMĐT đang phát triển nhanh trên bình
diện toàn cầu, tuy hiện nay đang áp dụng chủ yếu ở các nước công nghiệp phát
triển nhưng các nước đang phát triển cũng bắt đáu tham gia . Toàn cầu đang
hướng tới giao dịch thông qua TMĐT. TMĐT được đánh giá là một phát kiến
quan trọng nhằm thúc đẩy nền KT thế giới trong thế kỷ 21. Giờ đây, TMĐT có
lẽ ko phải là chiến lược mà các quốc gia có thể chọn lựa hoặc không, bởi nếu
quốc gia nào không nắm lấy cơ hội này sẽ có nguy cơ tụt hậu một cách nghiêm
trọng, Cuộc cách mạng kinh doanh điện tử sẽ là cơ hội lớn cho các nước đang
phát triển để tận dụng nhằm phát triển kinh tế của đất nước mình. Nếu không bắt

UNCITRAL, Ủy ban Châu Âu, Tổ chức thương mại thế giới v.v và có nhiều
cách gọi khác nhau về TMĐT như “thương mại trực tuyến” (Online-Trade),
“thương mại không giấy tờ” (paperless commercce), “kinh doanh điện tử”
(Electronic Business), nhưng phổ biến nhất vẫn là “thương mại điện tử”
(Electronic Commerce). Xét trên mỗi khía cạnh thì TMĐT có những cách hiểu
khác nhau:
- Từ góc độ truyền thông: TMĐT là việc vận chuyển thông tin, các sản
phẩm, dịch vụ, hoặc thanh toán thông qua các đường dây điện thoại, các
mạng máy tính hoặc các phương tiện khác.
- Từ góc độ quá trình kinh doanh: TMĐT là sự áp dụng công nghệ hiện đại
nhằm tự động hóa các quá trình kinh doanh và nghiệp vụ kinh doanh.
Hoặc cũng có thể xét theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 6
- Theo nghĩa hẹp, TMĐT là việc thực hiện các hoạt động thương mại dựa
trên các phương tiện điện tử, đặc biệt là Internet và các mạng viễn thông.
Các hoạt động thương mại bao gồm marketing, hỗ trợ khách hàng, cung
cấp thông tin, mua bán hàng hóa, dịch vụ, thanh toán v.v… Không nhất
thiết phải thực hiện toàn bộ các hoạt động thương mại nói trên dựa trên
các phương tiện điện tử mới là ứng dụng TMĐT, doanh nghiệp có thể tận
dụng TMĐT phục vụ một hay một số hoạt động đó để mang lại hiệu quả
kinh tế. TMĐT nên được xem là công cụ bổ sung cho thương mại truyền
thống để tăng hiệu quả kinh doanh.
- Theo nghĩa rộng, TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và
phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán qua mạng Internet,
nhưng được giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua Internet dưới
dạng số hóa (WTO).
Trong đó định nghĩa phổ biến nhất, rộng rãi nhất về TMĐT là: “Thương

mạng máy tính và khả năng tiếp nối của mạng với cơ sở dữ liệu thông tin, tốc độ
đường truyền, hệ thống thanh toán trực tuyến, trình độ bảo mật v.v… là vô cùng
cấp thiết.
Hiện nay, mạng internet gần như là yếu tố quyết định cho mọi hình thức
hoạt động của TMĐT. Công nghệ càng đi lên thì TMĐT càng có cơ hội để phát
triển. Tuy nhiên, đồng nghĩa với nó là doanh nghiệp phải tăng chi phí đầu tư cho
công nghệ và người sử dụng phải luôn cập nhật những kiến thức công nghệ mới
bởi trong TMĐT, các bên tham gia không gặp nhau trực tiếp mà thông qua mạng,
khi đó việc chia sẻ thông tin giữa các bên nhanh hơn, nhưng đòi hỏi họ phải có
khả năng sử dụng.
Hơn nữa, TMĐT là việc kinh doanh trên các phương tiện điện tử nên nó
sẽ chịu ảnh hưởng của sự thay đổi công nghệ, mà như chúng ta biết, công nghệ
đang biến đổi từng ngày. Vì vậy, người tham gia kinh doanh TMĐT cũng phải
không ngừng học hỏi để theo kịp xu hướng đó, tức là phải sử dụng công nghệ
thành thạo và có kiến thức, kỹ năng tổng hợp về quản trị kinh doanh, về thương
mại, v.v…
Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 8

2.3. TMĐT có tốc độ nhanh.
Nhờ áp dụng công nghệ hiện đại. tất cả các bước của quá trình giao dịch
đều được tiến hành thông qua mạng máy tính, nhờ ứng dụng CNTT đã cho phép
rút ngắn độ dài của các văn bản giao dịch. Các dịch vụ phần mềm ngày càng đa
dạng, hoàn hảo, tốc độ đường truyền nhanh cho phép rút ngắn thời gian trao đổi,
giao tiếp, ký kết các văn bản giao dịch điện tử. Tất cả những điều này làm cho
TMĐT đạt tốc độ nhanh nhất trong các phương thức giao dịch thương mại.

3. Điều kiện tiền đề để ứng dụng TMĐT.

việc triển khai sẽ được tiến hành nhanh chóng và nhất quán với quyết tâm cao.
3.1.2. Nhận thức về tác động văn hóa xã hội của Internet.
Tác động văn hóa xã hội của Internet đang là mối quan tâm quốc tế, vì
hàng loạt tác động tiêu cực của nó đã và đang xuất hiện: Internet trở thành môi
trường lý tưởng cho giao dịch mua bán ma túy, buôn lậu, các tuyên truyền văn
hóa phẩm độc hại, bom thư, tuyên truyền kích động bạo lực, phân biệt chủng tộc,
kỳ thị tôn giáo. Ở một số nơi như Trung Quốc, Việt Nam, Trung Đông …
Internet đã trở thành một phương tiện thuận lợi cho các lực lượng chống đối sử
dụng nhằm kích động lật đổ Chính phủ và gây rối loạn trật tự an toàn xã hội.
Kiểm soát và trấn áp các loại tội phạm trên mạng là vô cùng khó khăn, đòi hỏi
sự hợp tác chặt chẽ giữa các lực lượng, các quốc gia.
Ngoài ra phải tính tới tác động cuốn hút thanh niên theo các lối sống ko phù hợp
với bản sắc dân tộc, đặc biệt ở các nước Châu Á. Đây là thách thức quan trọng
đối với nhiệm vụ phát triển của các xã hội hiện nay, vì toàn cầu hóa cũng như sự
bùng nổ của Internet là một thực tế buộc phải thích ứng. Một khi các nền văn
hóa khác nhau là thành viên của hệ thống Internet thì nhu cầu về sự lành mạnh ,
trong sáng của thông tin là rất lớn, sao cho con người có thể hành động theo xu
thế toàn cầu hóa nhưng vẫn duy trì được giá trị văn hóa quốc gia.

Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 10
3.2. Hạ tầng cơ sở công nghệ.
TMĐT là kết quả của sự phát triển CNTT và kỹ thuật số hóa. Vì vậy, để
phát triển TMĐT, cơ sở hạ tầng công nghệ phải bảo đảm có một hệ thống các
chuẩn của doanh nghiệp, của quốc gia và chuẩn này phải phủ hợp với quốc tế.
Các chuẩn này gắn với hệ thống các cơ sở kỹ thuật và thiết bị ứng dụng của
quốc gia như một phân hệ của hệ thống mạng toàn cầu.
Hạ tầng cơ sở công nghệ của TMĐT còn phải bảo đảm tính kinh tế, nghĩa

Tính an toàn tin cậy của hạ tầng công nghệ thông tin ko thể đạt được nếu chỉ có
những ứng dụng mật mã (password) thông thường. Để bảo mật thông tin, các
doanh nghiệp cần áp dụng các chứng chỉ số an toàn (như chữ ký điện tử hiện
nay đang được sử dụng rộng rãi) và có các chính sách quản lý thông tin cụ thể.

3.3. Hạ tầng cơ sở nhân lực.
Phát triển TMĐT đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao. Trước hết là
đội ngũ các chuyên gia CNTT, đó là những người có kiến thức cao về CNTT
được đào tạo ở nước ngoài, những cán bộ đào tạo chuyên ngành Tin ở các
trường Đại học, hay những người đã qua đào tạo tin học từ các trung tâm tin học
trên toàn quốc. Đây là lực lượng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển TMĐT ở
Việt Nam, bởi họ là những người thường xuyên cập nhật những kiến thức về
CNTT, nhanh chóng nắm bắt tình hình phát triển của công nghệ trên thế giới và
có khả năng đưa vào ứng dụng trong môi trường và điều kiện kinh doanh cụ thể.
Đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trực tuyến, nhu cầu tuyển
dụng nhân công của họ mặc dù ko nhiều nhưng yêu cầu đối với lực lượng này
khá cao. Nhân viên làm việc trong môi trường kinh doanh điện tử ko những phải
có năng lực chuyên môn về kinh doanh nói chung và về TMĐT nói riêng mà
còn phải thông thạo ngoại ngữ, các kỹ năng cơ bản về mạng. Rất nhiều công ty
khi tham gia TMĐT đã lập ra phòng Công nghệ thông tin với nhiệm vụ đưa
doanh nghiệp tiếp cận được những mô hình công nghệ và thị trường mới.
Yếu tố cuối cùng là dân chúng. Họ là những người trực tiếp tham gia vào
các giao dịch, mua bán. Vì vậy sự hiểu biết của mọi người về máy tính, Internet
Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 12
và TMĐT cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy TMĐT phát triển. Hiện nay do sự
phổ biến của Internet qua những chiến dịch “đưa net về làng” mà dân chúng
không còn mấy xa lạ với tin học, tuy nhiên không phải ai cũng có những kiến

TMĐT mang tính chất toàn cầu nên những văn bản pháp luật về TMĐT cũng
cần có sự thống nhất cơ bản để hoạt động kinh doanh được đơn giản và hiệu quả.

3.6. An toàn bảo mật trong TMĐT.
Đây là vấn đề tối quan trọng đối với sự phát triển của TMĐT, hay cụ thể
là với các doanh nghiệp đang tiến hành kinh doanh trên mạng cũng như các cá
nhân, tổ chức khác. Ai cũng mong muốn các thông tin, giao dịch của họ được
bảo mật trong bối cảnh các vụ tấn công trên mạng gây không ít tổn thất cho
TMĐT đang ngày càng gia tăng nhanh chóng. Hơn nữa các loại hình tấn công,
phá hoại này ngày càng đa dạng, TMĐT có thể bị phá hoại do các tin tặc (hacker)
đột nhập từ bên ngoài hệ thống để ăn cắp dữ liệu, phá hỏng hệ thống thanh toán,
lấy cắp thông tin tài khoản cá nhân, chiếm dụng tiền bất hợp pháp, giả mạo
website, email của một cá nhân hay tổ chức nào đó nhằm đánh lừa người nhận
tiết lộ thông tin cá nhân và tài khoản tín dụng (phishing) v.v…Do những vấn đề
này, nhu cầu về bảo mật và an toàn ngày càng cao, nghĩa là cần gắn kết TMĐT
với các kỹ thuật bảo mật như : mã hóa, công nghệ bảo mật (SSL – Secure
Sockets Layer), chữ ký điện tử (Electronic Signature). Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT


Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 15
doanh nghiệp có thể mua nguyên liệu đầu vào với giá thấp hơn và bán được
nhiều sản phẩm hơn.
- Nhiều sự lựa chọn hơn: doanh nghiệp có thể đồng thời biết được nhiều
loại sản phẩm và các dịch vụ từ nhiều người bán khác nhau, họ có thể cập nhật
hàng ngày, hàng giờ. Thay vì nhiều người gửi thư từ, mang theo một quyền
catalogue hoặc nhanh hơn là giao dịch qua fax, thì doanh nghiệp có thể truy cập
ngay vào các trang web với nguồn thông tin phong phú và đa dạng hơn.
- Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả
năng phối hợp giữa các doanh nghiệp, nhà cung cấp làm tăng hiệu quả sản xuất
và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường.
- Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong
phân phối hàng. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ
trợ bởi các showroom trên mạng.
- Củng cố quan hệ khách hàng: Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua
mạng, quan hệ giữa doanh nghiệp với trung gian và khách hàng cũng được củng
cố dễ dàng hơn. Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần
thắt chặt quan hệ với khách hàng và củng cố lòng trung thành.
- Tăng cơ hội bán và mua: Trong TMĐT, thỏa thuận về giá cả và chuyển
giao các mặt hàng dễ dàng hơn bởi vì Web có thế cung cấp thông tin cạnh tranh
về giá cả rất hiệu quả. TMĐT đẩy mạnh tốc độ và tính chính xác để các doanh
nghiệp có thể trao đổi thông tin và giảm chi phí cho cả hai bên trong giao dịch.
- Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi
thế và giá trị mới cho khách hàng. Mô hình của Amazon.com, mua hàng theo
nhóm, ebay.com đấu giá trực tuyến đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của
những thành công này.
4.1.2. Lợi ích đối với người tiêu dùng.

Internet và TMĐT. Đồng thời cũng có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng…
Việc đào tạo qua mạng cũng nhanh chóng giúp các nước này tiếp thu công nghệ
mới.

Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 17
4.2. Hạn chế của TMĐT.
Bên cạnh những lợi ích to lớn mà TMĐT đem lại thì cũng có không ít
những hạn chế mà đã khiến cho những người tham gia TMĐT gặp không ít khó
khăn. Mặc dù hầu hết mặt hàng đều có thể kinh doanh trên mạng nhưng cũng có
một số mặt hàng không thuận lợi khi kinh doanh trực tuyến như quần áo do
không thử được kích cỡ và chất liệu, thực phẩm tươi sống dễ hỏng, các đồ trang
sức đắt tiền có giá trị lớn không thể kiểm tra một cách chính xác.
Nói chung, TMĐT có hai loại hạn chế chủ yếu, đó là hạn chế về kỹ thuật
và hạn chế về thương mại.
Hạn chế về kỹ thuật.
- Chưa có tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn và độ tin cậy.
- Tốc độ đường truyền Internet vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của người
sử dụng, nhất là trong TMĐT.
- Các công cụ xây dựng phần mềm vẫn đang trong giai đoạn phát triển.
- Khó khăn khi kết hợp các phần mềm TMĐT với các phần mềm ứng dụng
và các cơ sở dữ liệu truyền thống.
- Chi phí truy cập Internet vẫn còn cao.
- Thực hiện các đơn đặt hàng trong thương mại điện tử B2C đòi hỏi phải có
hệ thống kho hàng tự động lớn.
- Cần có các máy chủ thương mại đặc biệt (công suất, an toàn) đòi hỏi thêm
chi phí đầu tư.
Hạn chế về thương mại.

đồng trong bất kỳ thời gian nào trong ngày. TMĐT B2B đem đến một cách thức
giao dịch mới, cũng như việc mở rộng dây chuyền cung ứng cho các doanh
nghiệp. Có bốn loại hình giao dịch B2B: B2B định hướng người mua, B2B định
hướng nhà cung cấp, B2B định hướng người trung gian và sàn đấu giá trực
tuyến.
Giao dịch B2B thường là những giao dịch có giá trị lớn. Doanh nghiệp sử
dụng hệ thống mạng máy tính để đặt hàng với nhà cung cấp của mình với các
đơn hàng lớn. Mô hình B2B áp dụng trong hình thức kinh doanh có chứng từ
Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 19
giữa các công ty, các tổ chức, giữa công ty mẹ và công ty con trong cùng hiệp
hội… Khi sử dụng mô hình B2B cần phải kiểm chứng được khách hàng và bảo
mật thông tin mua bán thông qua các chữ ký điện tử của các công ty, tổ chức. .
Đặc điểm chính của TMĐT B2B là các công ty phải tự động hóa quá trình
giao dịch trao đổi và hoàn thiện quá trình này. Các giao dịch được thực hiện
giữa các thành viên của chuỗi quản lý cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay giữa các
đơn vị kinh doanh với bất kỳ một đối tác kinh doanh khác. Khác với chuỗi cung
cấp hàng hóa truyền thống, khách hàng ở đây không phải là những cá nhân mà
là các doanh nghiệp. Sự ra đời của TMĐT B2B có thể giúp giảm bớt trung gian
trong chuỗi cung ứng như nhà phân phối, nhà bán lẻ.

5.2. Mô hình TMĐT giữa doanh nghiệp với khách hàng – B2C (Business to
Customer)
TMĐT B2C là hình thức TMĐT rất phổ biến, là mô hình giao dịch giữa
doanh nghiệp và người tiêu dùng, trong đó khâu bán hàng trực tuyến, thanh toán
trực tuyến và vận chuyển hàng hóa trực tuyến nhanh chóng và an toàn là phương
thức kinh doanh quan trọng nhất. Mô hình B2C được áp dụng trong các mô hình
siêu thị điện tử và các site bán hàng lẻ, bao gồm cả việc hỗ trợ khách hàng trực

khiếu nại của khách hàng, các dịch vụ đi kèm hoặc khách hàng có thể trả lại sản
phẩm, v.v…

5.3. Các mô hình TMĐT khác.
TMĐT giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng – C2C (Customer to
customer): Đây là mô hình TMĐT giữa các cá nhân với nhau, họ có thể
tham gia hoạt động thương mại với tư cách người bán hoặc người mua.
Một cá nhân có thể tự lập website để kinh doanh những mặt hàng do
mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá món hàng mình
có, ví dụ: www.chodientu.com v.v…
TMĐT giữa doanh nghiệp với Nhà nước – B2G (Business to
Government): Trong mô hình này, cơ quan Nhà nước đóng vai trò như
Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 21
khách hàng và quá trình trao đổi thông tin cũng được tiến hành qua các
phương tiện điện tử. Cơ quan Nhà nước cũng có thể lập các website, tại
đó đăng tải những thông tin về nhu cầu mua hàng của mình và tiến hành
việc mua sắm hàng hóa, lựa chọn nhà cung cấp trên website. Ví dụ Hải
quan điện tử, thuế điện tử v.v
TMĐT giữa cơ quan nhà nước và người tiêu dùng – G2C (Government
to Customer): Mô hình G2C chủ yếu đề cập tới các giao dịch mang tính
hành chính. Ví dụ: hoạt động đóng thuế qua mạng, trả phí đăng ký hồ sơ.

6. Tổng quan hệ thống thanh toán điện tử.
6.1. Khái niệm thanh toán điện tử.
Việc giao dịch trong TMĐT diễn ra hoàn toàn trực tuyến đòi hỏi phải có
hệ thống thanh toán điện tử . Theo báo cáo quốc gia về kỹ thuật TMĐT của Bộ
thương mại: “Thanh toán điện tử (Electronic Payment) theo nghĩa rộng được

sự bảo vệ về phần cứng cả sự bảo vệ bằng phần mềm mã hóa ( Encryption – là
một kỹ thuật bảo mật làm biến đổi dữ liệu từ hình thức đơn giản, rõ ràng sàng
hình thức dữ liệu biến thành mật mã. Encryption có thể là một chiều nghĩa là mã
hóa được thiết kế để ẩn thông tin dữ liệu đi và không bao giờ quay trở lại được,
còn hai chiều là chuỗi ký tự được mã hóa có thể chuyển lại thành dạng text và
đọc được.)

Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 23

Hình 2. Website của công ty Gemalto – công ty hàng đầu của Pháp
về phát hành thẻ thông minh.

- Tiền điện tử (E-Cash): là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành, sau đó được
chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, có thể áp dụng
trong phạm vi một nước cũng như giữa các quốc gia. Tất cả đều được thực hiện
bằng công nghệ kỹ thuật số hóa, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là “tiền mặt
số hóa” (DigiCash).
- Ví điện tử (E - Wallet): thực chất là một nơi lưu trữ thẻ tín dụng trên internet,
hay còn gọi là thẻ giữ tiền (Stored Value Card). Người giữ ví có thể chọn một
trong số thẻ của mình để tiến hành mua hàng và một giao dịch hoàn toàn bảo
mật được thực hiện. Ví điện tử này được cá nhân hóa bằng mật mã bảo vệ sử
dụng giao thức SET (Secure Electronic Transactions).

Nguyễn Phương Thanh, Anh 17 – K43E – KT và KDQT 24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status