Kinh nghiệm phát triển dịch vụ logistics tại một số nước asean và bài học đối với việt nam - Pdf 14

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS
TẠI MỘT SỐ NƯỚC ASEAN VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI
VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Phạm Quỳnh Anh
Lớp : Anh 6
Khoá : K43B - KT&KDQT
Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Trần Sĩ Lâm Hà Nội - 2008
2.2.2 Mô hình 3PL và 4PL 20
3. Ngƣời tiêu dùng dịch vụ logistics 22
CHƢƠNG II: KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS
TẠI MỘT SỐ NƢỚC ASEAN 25
I. Thực trạng phát triển dịch vụ logistics khu vực ASEAN 25
1. Tình hình phát triển kinh tế, thƣơng mại khu vực ASEAN 25
2. Thực trạng phát triển dịch vụ logistics khu vực ASEAN 27
2.1 Thực trạng kết cấu hạ tầng logistics khu vực ASEAN 27
2.2 Thực trạng nguồn nhân lực và hệ thống chính sách điều chỉnh dịch vụ
logistics khu vực ASEAN 30
2.3 Xu hướng hợp tác phát triển dịch vụ logistics khu vực ASEAN 32
II. Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại một số nƣớc ASEAN 33
1. Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại Singapore. 33
1.1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội 33
1.2 Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại Singapore 34
1.2.1 Thực tiễn thị trường 34
1.2.2 Chương trình phát triển dịch vụ logistics tại Singapore 36
1.2.3 Cơ sở hạ tầng logistics hiện đại 37
2. Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại Malaysia 41
2.1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội 41
2.2 Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại Malaysia 42
2.2.1 Thực tiễn thị trường 42
2.2.2 Chương trình phát triển dịch vụ logistics tại Malaysia 43
2.2.4 Cơ sở hạ tầng logistics tại Malaysia 44
3. Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại Thái Lan 48
3.1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội 48
3.2 Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại Thái Lan 49
3.2.1 Thực tiễn thị trường 49
3.2.2 Chương trình phát triển dịch vụ logistics tại Thái Lan 51
III. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ logistics tại một số nƣớc ASEAN 56

2.2 Thách thức trong việc phát triển dịch vụ logistics Việt Nam 83
III. Định hƣớng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam trên cơ sở kinh
nghiệm một số nƣớc ASEAN 85
1. Dự báo nhu cầu dịch vụ logistics trong tƣơng lai của nền kinh tế Việt
Nam 85
2. Định hƣớng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam trên cơ sở kinh
nghiệm các nƣớc ASEAN 88
2.1 Xây dựng chiến lược phù hợp với thực trạng phát triển dịch vụ logistics
hiện nay tại Việt Nam 89
2.2 Xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý phát triển dịch vụ logistics
90
2.3 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và trang bị phương tiện kỹ thuật hỗ trợ
cho sự phát triển của hệ thống logistics 91
2.4 Xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở tuân thủ các cam
kết quốc tế về dịch vụ logistics 94
2.5 Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ logistics
………………………………………………………………………….96
2.6 Thúc đẩy hợp tác quốc tế và hướng tới xây dựng thị trường chung về
dịch vụ logistics trong cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
DANH MỤC BẢNG BIỂU

STT
Tên bảng biểu
Trang
1
Hình 1.1. Chuỗi cung ứng trong bối cảnh với các thuật ngữ: quản
lý cung ứng (supply management), phân phối hàng hóa
(physical distribution), chuỗi giá trị (value chain)

Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương - 2008
Phạm Quỳnh Anh Anh 6 – K43B – KT & KDQT
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, dịch vụ logistics đóng vai trò rất quan trọng và có mối quan hệ mật
thiết với nền kinh tế hiện đại. Môi trường kinh tế càng phát triển, nhu cầu về dịch
vụ logistics càng nhiều; ngược lại, tính chuyên nghiệp và khoa học của dịch vụ
logistics sẽ giúp các doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển hiệu quả và bền vững.
Tuy nhiên, ngành dịch vụ logistics tại Việt Nam hiện nay còn trong giai đoạn
hình thành ban đầu với trình độ phát triển tương đối thấp. Xây dựng chiến lược
phát triển ngành dịch vụ logistics đúng đắn là một đòi hỏi thiết yếu đối với các cấp
quản lý trong bối cảnh hiện nay. Trong quá trình xây dựng và phát triển này, sẽ có
lúc Việt Nam phải đứng trước những bài toán khó mà hầu hết các quốc gia đi
trước đã gặp phải. Vì vậy, việc tích cực nghiên cứu, đúc rút và học tập kinh nghiệm
phát triển dịch vụ logistics của các nước đi trước sé giúp Việt Nam nhanh chóng
bắt kịp với trình độ phát triển dịch vụ logistics trong khu vực và trên thế giới.
Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với các nước trong khu vực ASEAN về
cả kinh tế, chính trị và văn hoá. Khoảng cách phát triển kinh tế giữa Việt Nam với
một số nước phát triển hơn trong khu vực như Singapore, Malaysia và Thái Lan
không quá xa và có nhiều nét tương đồng. Trên nền tảng đó, ngành dịch vụ
logistics của các nước này cũng từng trải qua giai đoạn sơ khai như Việt Nam hiện
nay. Do đó, nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịch vụ logistics tại một số quốc
gia Đông Nam Á sẽ đem lại nhiều bài học quý báu và thiết thực đối với Việt Nam.
Chính vì vậy, đề tài Khoá luận tốt nghiệp em lựa chọn nghiên cứu là: “Kinh
nghiệm phát triển dịch vụ logistics tại một số nước ASEAN và bài học đối với
Việt Nam”


Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương - 2008
Phạm Quỳnh Anh Anh 6 – K43B – KT & KDQT
1
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS

I. Khái quát chung về logistics
1. Khái niệm logistics
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật
chất được sản xuất ra ngày càng nhiều. Bên cạnh đó khoảng cách trong các lĩnh
vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu
hẹp khiến các nhà sản xuất chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc
độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán
thành phẩm,… trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp.
Thực tế đó khiến logistics có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh
doanh.
Tuy nhiên logistics được phát minh và ứng dụng lần đầu tiên không phải
trong hoạt động thương mại mà là trong lĩnh vực quân sự. Logistics được các
quốc gia ứng dụng rộng rãi trong 2 cuộc Đại chiến thế giới để di chuyển lực
lượng quân đội cùng với vũ khí có khối lượng lớn và đảm bảo hậu cần cho lực
lượng tham chiến. Hiệu quả của hoạt động logistics là yếu tố có tác động rất lớn
tới thành bại trên chiến trường.
Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics được nghiên cứu và áp dụng sang lĩnh
vực kinh doanh. Dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “logistics” thường được
hiểu là hoạt động quản trị chuỗi cung ứng (supply chain management) hay quản
lý hệ thống phân phối vật chất (physical distribution management) của doanh
nghiệp đó. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được
xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu, tuy nhiên, có thể nêu
một số khái niệm chủ yếu sau:
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương - 2008
Phạm Quỳnh Anh Anh 6 – K43B – KT & KDQT
3
Tóm lại, logistics có thể được hiểu như sau: “Logistics là quá trình tối ưu
hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu
tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông
qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.”

2. Quá trình phát triển của logistics
Như đã đề cập, “logistics” là một thuật ngữ quân sự, dùng trong quân đội.
Logistics được coi là một nhánh trong nghệ thuật chiến đấu, đó chính là việc vận
chuyển và cung cấp lương thực, thực phẩm, trang thiết bị quân dụng đúng nơi,
đúng lúc khi cần thiết cho lực lượng chiến đấu. Logistics đã giúp quân đội các
nước tham chiến gặt hái được những chiến thắng, đặc biệt là trong chiến tranh
thế giới thứ hai.
Xuất phát từ bản chất ưu việt của logistics, sau khi chiến tranh thế giới thứ
hai kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng các kỹ năng
logistics của họ trong hoạt động kinh tế thời hậu chiến đáp ứng nhiệm vụ thực tế
là tái thiết đất nước sau chiến tranh (đối với các nước Châu Âu) hay trợ giúp tái
thiết (đối với nước Mỹ).
Từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay, công nghiệp và thương mại thế
giới trải qua những biến đổi sâu sắc từ nền kinh tế dựa trên cơ sở sản xuất hàng
loạt, đòi hỏi một lượng hàng lớn đồng nhất sang nền kinh tế mà tính độc đáo và
đa dạng của hàng hoá được nhấn mạnh. Trong buôn bán, người bán không nhất
thiết là người sản xuất, người mua cũng chưa chắc đã là người tiêu dùng. Quá
trình hàng hoá từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng có thể qua nhiều
trung gian lần lượt đóng vai trò là người bán hay người mua và là một bộ phận
của toàn bộ quá trình lưu thông hàng hoá. Tính chất phong phú của hàng hoá

và tính liên tục của các luồng vận chuyển, sự kết hợp này được mô tả là hệ thống
logistics. Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương - 2008
Phạm Quỳnh Anh Anh 6 – K43B – KT & KDQT
5
 Giai đoạn 3: Quản lý dây chuyền cung cấp (Supply Chain Management)
Giai đoạn này diễn ra từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay. Quản lý
dây chuyền cung cấp là khái niệm có tính chiến lược về quản lý dãy nối tiếp các
hoạt động từ người cung ứng - đến người sản xuất - đến khách hàng cùng với các
dịch vụ làm tăng thêm giá trị của sản phẩm như cung cấp chứng từ liên quan,
theo dõi, kiểm tra… Khái niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối
tác, kết hợp chặt chẽ giữa người sản xuất với người cung ứng, với người tiêu
dùng và các bên có liên quan tới hệ thống quản lý như các công ty vận tải, kho
bãi và những người cung cấp công nghệ thông tin.
Như vậy logistics được phát triển từ việc áp dụng các kỹ năng “tiếp vận”,
“hậu cần” trong quân đội để giải quyết những vấn đề phát sinh của thực tế sản
xuất - kinh doanh và hiện nay được hoàn thiện trở thành hệ thống quản lý mang
lại hiệu quả kinh tế cao.

3. Vai trò của logistics
3.1 Vai trò của logistics trong doanh nghiệp
Trong mỗi doanh nghiệp tồn tại ít nhất một trong hai hoạt động chủ đạo đó
là tổ chức sản xuất và xây dựng kênh phân phối. Với vai trò hỗ trợ các hoạt động
khác trong doanh nghiệp, logistics luôn có mối tương tác chặt chẽ với cả hai hoạt
động này. Thiếu logistics, sản xuất cũng như phân phối khó có thể hoạt động
trơn chu và hiệu quả.
Trong hoạt động sản xuất, logistics giúp cho doanh nghiệp có thể rút ngắn
thời gian hoạt động của dây chuyền sản xuất mà vẫn đạt được hiệu quả kinh tế

3.2 Vai trò của logistics đối với nền kinh tế
Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của
quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương - 2008
Phạm Quỳnh Anh Anh 6 – K43B – KT & KDQT
7
nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Logistics đóng vai trò quan trọng trong nền
kinh tế thể hiển trên nhiều phương diện.
Thứ nhất, logistics là một trong các chi phí lớn trong kinh doanh, tác động
qua lại với nhiều hoạt động kinh tế khác. Đối với những nước phát triển như
Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát
triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%. Chi phí sản xuất kinh doanh lớn khiến người
tiêu dùng phải mua hàng hoá, dịch vụ với mức giá cao còn lợi nhuận của doanh
nghiệp giảm sút. Nếu chi phí cho hoạt động logistics tăng cao trong một thời
gian dài thì có thể kéo theo sự phát triển thụt lùi của toàn bộ nền kinh tế, chất
lượng cuộc sống của người dân suy giảm và ngân sách nhà nước được hình thành
chủ yếu từ khoản thu thuế cũng bị ảnh hưởng. Như vậy, logistics phát triển tốt sẽ
không chỉ mang lại khả năng tiết giảm thời gian, chi phí và nâng cao chất lượng
hàng hoá, dịch vụ mà logistics còn là một động lực quan trọng thúc đầy nền kinh
tế phát triển.
Thứ hai, logistics đóng vai trò là nhân tố hỗ trợ cho dòng lưu chuyển của
nhiều giao dịch trong nền kinh tế, nó đồng thời cũng là một hoạt động quan trọng
tạo thuận lợi cho việc kinh doanh hầu hết các loại hàng hóa, dịch vụ.
Thứ ba, logistics là công cụ hữu hiệu nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh
tế và hội nhập với thế giới. Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay,
khoảng cách thời gian và không gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng không
dừng lại trong phạm vi từng quốc gia hay từng khu vực mà ngày càng mở rộng
trên phạm vi toàn cầu. Trong môi trường toàn cầu cạnh tranh gay gắt, các nhà

Trong xu hướng chung hiện nay, các công ty đa quốc gia, những chủ thể
chính của nền kinh tế mới, hướng tới xây dựng cơ sở sản xuất và hệ thống phân
phối của mình ở nước ngoài, thiết lập mạng lưới thông tin toàn cầu, tận dụng tối
đa các nguồn lực tại chỗ ở các địa phương và thực hiện quản lý xuyên lục địa.
Tất cả những điều kiện và xu hướng mới đó đang đặt các doanh nghiệp xây dựng Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương - 2008
Phạm Quỳnh Anh Anh 6 – K43B – KT & KDQT
9
một hệ thống logistics toàn cầu để chu chuyển hàng hoá tới khắp mọi nơi trên thế
giới. Các hệ thống logistics ở các khu vực khác nhau, các quốc gia khác nhau có
thể không hoàn toàn giống nhau. Nhưng tất cả các hệ thống logistics đều có điểm
chung là sự kết hợp khéo léo, khoa học, chuyên nghiệp chuỗi các hoạt động như:
marketing, sản xuất, tài chính, vận tải, thu mua, dự trữ, phân phối… để đạt được
mục đích phục vụ khách hàng tối đa với chi phí tối thiểu. Trong những thập niên
đầu thế kỷ 21 logistics sẽ phát triển theo 3 xu hướng chính như sau:
Xu hướng thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện
tử ngày càng phổ biến và sâu rộng hơn trong các lĩnh vực của logistics, như: hệ
thống thông tin quản trị dây chuyền cung ứng toàn cầu, công nghệ nhận dạng
bằng tần số radio (Radio Frequency Identification – RFID), hệ thống truyền dữ
liệu (Electronic Data Interchange - EDI)… Thông tin được truyền càng nhanh và
chính xác thì các quyết định trong hệ thống logistics càng hiệu quả.
Xu hướng thứ hai, phương pháp quản lý logistics kéo (Pull) ngày càng phát
triển mạnh mẽ và dần thay thế cho phương pháp logistics đẩy (Push) theo truyền
thống. Phương pháp đẩy là phương pháp tổ chức sản xuất theo dự báo nhu cầu
thị trường. Phương pháp này tạo ra hàng tồn kho và “đẩy” ra thị trường để đáp
ứng nhu cầu thực tế. Phương pháp đẩy bộc lộ những nhược điểm lớn như tạo ra
khối lượng hàng tồn kho lớn, chu kỳ sản xuất dài, chi phí dự trữ cao, nhiều
trường hợp hàng dự trữ không bán được do dự báo nhu cầu không chính xác.

USD với tốc độ tăng trưởng ước tính 10%, cao gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng
logistics toàn cầu. Sự tăng trưởng này chủ yếu do xu hướng thuê ngoài các hoạt
động logistics đang tăng nhanh.

5. Quản trị chuỗi cung ứng - bƣớc phát triển cao hơn của logistics
Trên thực tế do tồn tại rất nhiều quan điểm và định nghĩa về thuật ngữ
“chuỗi cung ứng” nên dễ dẫn đến sự khó hiểu và nhầm lẫn. Robert J. Trent đưa Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương - 2008
Phạm Quỳnh Anh Anh 6 – K43B – KT & KDQT
11
ra định nghĩa về chuỗi cung ứng như sau: “Chuỗi cung ứng là một nhóm gồm ba
hoặc nhiều hơn các tổ chức kết nối trực tiếp bằng một hay nhiều dòng chảy xuôi
hay ngược của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ một nhà cung ứng
đến khách hàng.” Quan điểm này nhìn nhận chuỗi cung ứng như là tập hợp các
quy trình có quan hệ với nhau chứ không phải là tập hợp các hoạt động riêng lẻ
phi tuyến. Những quy trình này được thiết kế để đạt tới những mục tiêu hay kết
quả cụ thể như phát triển một sản phẩm mới, hoàn thành đơn hàng, hay đánh giá
và lựa chọn nhà cung ứng. Dựa vào mô hình dư ới đây ta có thể thấy các hoạt
động quản lý cung ứng tập trung vào phần ngược của chuỗi cung ứng và chủ yếu
liên quan đến nhà cung cấp nguyên vật liệu và logistics đầu vào. Trong khi đó,
các hoạt động phân phối liên quan đến giai đoạn mà quy trình sản xuất đã hoàn
thành trong chuỗi cung ứng và thành phẩm được chuyển đến tay khách hàng.
Hình 1.1. Chuỗi cung ứng trong bối cảnh với các thuật ngữ: quản lý cung ứng (supply
management), phân phối hàng hóa (physical distribution), chuỗi giá trị (value chain)
w
Nguồn: Robert J.Trent (2004), What everyone need to know about supply chain
managemen, Supply Chain Management Review

Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương - 2008
Phạm Quỳnh Anh Anh 6 – K43B – KT & KDQT
13
Theo Micheal Hugos, tác giả cuốn “Essentials of supply chain management”
Quản trị chuỗi cung ứng là hoạt động phối hợp sản xuất, lưu kho đóng gói,
vận tải giữa các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng nhằm đạt tới hiệu quả tốt nhất
cho thị trường.
Theo Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á – Thái Bình Dương - ESCAP
Quản trị chuỗi cung ứng là tổng hợp những hoạt động của nhiều tổ chức
trong chuỗi cung ứng và phản hồi trở lại thông những thông tin cần thiết, kịp thời
bằng cách sử dụng mạng lưới công nghệ thông tin và truyền thông kỹ thuật số.
Theo các tác giả cuốn “The management of business logistics”
Quản trị chuỗi cung ứng là sự kết nối các dòng sản phẩm hay vật liệu, dịch
vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung cấp đầu tiên thông qua nhiều tổ chức trung
gian để tới tay người tiêu dùng cuối cùng hay quản lý chuỗi cung cấp được nhìn
nhận là một hệ thống kết nối các mạng lưới logistics bao phủ từ người cung cấp
đầu tiên cho đến người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, quản trị chuỗi cung ứng có thể bao gồm các khâu: phát triển sản
phẩm và thương mại hoá, thu mua nguyên vật liệu, quản lý luồng sản xuất, xử lý
vật liệu phế thải, quản lý cung cấp, phân phối, lưu kho, điều hành dây chuyền
vận tải, hoàn thiện đơn đặt hàng, quản lý nhu cầu, quản trị dịch vụ khách hàng.

II. Khái quát chung về dịch vụ logistics
1. Dịch vụ logistics
1.1 Khái niệm dịch vụ logistics
Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức
kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp. Cùng với quá trình
phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành

dịch vụ, các dịch vụ này thuộc các giai đoạn từ tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa
đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo đó, dịch vụ logistics gắn liền với cả giai Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương - 2008
Phạm Quỳnh Anh Anh 6 – K43B – KT & KDQT
15
đoạn nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra
hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối.
Qua việc phân biệt dịch vụ logistics với các dịch vụ giao nhận, vận tải,
v.v… ta cũng phân định được rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ
như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản
xuất, tư vấn quản lý… với một nhà cung cấp dịch vụ logisitcs chuyên nghiệp,
người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa
tới tay người tiêu dùng cuối cùng.
1.2 Các loại hình dịch vụ logistics chủ yếu
Theo Hiệp định thương mại chung về lĩnh vực dịch vụ (GATS – The
General Agreement on Trade in Services) của tổ chức thương mại thế giới WTO
thì dịch vụ logistics được chia thành 3 nhóm như sau:
 Các dịch vụ logistics chủ yếu (Core freight logistics services)
Dịch vụ logistics chủ yếu chiếm phần lớn trong tổng chi phí logistics và
mang tính quyết định đối với các dịch vụ khác. Dịch vụ logistics chủ yếu bao
gồm:
- Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
- Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh
kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan
và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hoá.
- Dịch vụ hỗ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý
thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hoá trong suốt cả

Provider - LSP) là các công ty độc lập tự thiết kế, thực hiện và quản lý những
nhu cầu logistics trong chuỗi cung cấp của khách hàng.
Qua phân tích ở trên, người viết đã phân biệt giữa dịch vụ logistics với các
dịch vụ giao nhận, vận tải… qua đó ta cũng nhận thấy rằng các công ty logistics


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status