Quản lý ngoại hối ở việt nam trong bối cảnh hội nhập - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾVÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
Quản lý ngoại hối của Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thảo
Lớp : Anh 11
Khoá : K 43
Giáo viên hướng dẫn :ThS Vũ Thị Hiền Hà Nội, tháng 05/2008
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý ngoại hối là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong việc

cũng đồng nghĩa việc quản lý nhà nước về ngoại hối phải đối mặt với hàng loạt
các vấn đề mới mẻ và phức tạp. Các biến động trong khu vực và trên thế giới
cũng như các cam kết song phương và đa phương trong lĩnh vực quản lý ngoại
hối (thỏa thuận tăng trưởng và Giảm nghèo với IMF, cam kết trong Hiệp định
thương mại Việt Mỹ, cam kết khi trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại thế giới WTO…) đòi hỏi việc quản lý ngoại hối ngày càng linh
hoạt, hợp lý và kịp thời.
Nhận thức được tầm quan trọng của yêu cầu trên, việc nghiên cứu quản lý
ngọai hối nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện, phù hợp với những biến đổi
trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam và thế giới là hết sức cần thiết và cấp
bách. Xuất phát từ thực tế đó ―Quản lý ngoại hối của Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập‖ được chọn làm đề tài nghiên cứu của khoá luận.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý ngoại hối, chính
sách quản lý ngoại hối, khoá luận làm rõ chính sách quản lý ngoại hối của Việt
Nam trong thời gian qua, và đánh giá hoạt động quản lý ngoại hối của chính phủ
thông qua tác động của nó tới hoạt động của các ngân hàng thương mại, hoạt
động xuất nhập khẩu, và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ đó đưa ra các
định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới chính sách quản lý ngoại hối
phù hợp với bối cảnh hội nhập của Việt nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là các quan điểm, các biện pháp
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Quản lý ngoại hối chi phối đến tất cả các lĩnh vực,
các hoạt động trong nền kinh tế. Những thay đổi trong quản lý ngoại hối không
chỉ tác động đến chính sách tiền tệ mà còn ảnh hưởng đến chính sách kinh tế đối
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 3

4 CHƢƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
1.1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGOẠI HỐI
1.1.1 Khái niệm ngoại hối
Lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá gắn liền với việc không
ngừng mở rộng quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, lao động, công
nghệ v.v…Các quan hệ này không chỉ bó hẹp trong phạm vi một lãnh, một quôc
gia mà đã lan toả ra toàn cầu. Cùng với việc mở rộng phạm vi hoạt động, các
nhà kinh doanh cũng không ngừng hoàn thiện phương tiện thanh toán, dự trữ.
Bên cạnh công cụ chi trả cổ điển như vàng, bạc; ngày nay nhiều phương tiện
thanh toán hiện đại đã được các quốc gia đưa vào sử dụng.Các phương tiện này
gọi chung là ngoại hối.
Có nhiều quan điểm khác nhau về ngoại hối. Một số nhà kinh tế cho rằng
ngoại hối là phương tiện thanh toán, dự trữ được thể hiện dưới dạng ngoại tệ bao
gồm thương phiếu, chi phiếu, chứng từ có giá bằng ngoại tệ, số dư có trên tài
khoản tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài v.v Điểm đặc biệt của cách nhận định
này là vàng, kim khí quý, đá quý không được xem là ngoại hối. Một số khác
thừa nhận ngoại hối là toàn bộ tiền nước ngoài, phương tiện chi trả bằng ngoại
tệ, chứng từ có giá bằng ngoại tệ, đá quý v v Việc thừa nhận vàng bạc, đá qúy,
có phải là ngoại hối hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng chuyển đổi của
đồng tiền. Đối với các đồng tiền có khả năng chuyển đổi thấp, vàng, bạc, đá qúy
là một thành phần không thể thiếu trong ngoại hối. Với các đồng tiền mạnh có
khả năng chuyển đổi cao vàng, bạc, đá quý thường được xem là hàng hoá có giá
trị cao hơn là ngoại hối.
Theo Pháp lệnh ngoại hối của Việt Nam được Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội thông qua ngày 30 tháng 12 năm 2005, Ngoại hối bao gồm:
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập


Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 6

1.1.2.1 Khái niệm tỷ hối đoái
Theo quan điểm kinh tế học, tỷ giá hối đoái là phạm trù kinh tế quan trọng
trong thương mại quốc tế, là công cụ đo lường giá trị tương đối giữa các đồng
tiền và là phương tiện cạnh tranh hữu hiệu giữa các quốc gia trong thương mại,
đầu tư quốc tế. Tỷ giá ảnh hưởng tới giá cả và tác động đến hoạt động kinh tế xã
hội trong và ngoài nước.
Theo các nhà kinh doanh, tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan
giữa giá trị của hai đồng tiền phát sinh trong các hoạt động liên quan đến xuất
nhập khẩu, đầu tư quốc tế, giao dịch tài chính quốc tế…Hoặc tỷ giá là giá cả của
một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước khác.
Trong khoá luận, tỷ giá được hiểu là giá cả của đơn vị tiền tệ nước này thể
hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá
Trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá là một loại giá; nên nó được điều tiết
bởi quan hệ cung cầu tiền tệ. Các nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ là
các yếu tố tác động đến tỷ gía hối đoái. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá bao
gồm:
- Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ
Cầu ngoại tệ của một quốc gia bắt nguồn từ nhu cầu nhập khẩu và cung
ngoại tệ xuất phát từ khả năng xuất khẩu của quốc gia đó. Nói cách khác cung
cầu ngoại tệ của nền kinh tế được quyết định bởi kim ngạch xuất nhập khẩu
hàng hoá, dịch vụ trong kỳ. Tỷ giá cân bằng khi cung cầu gặp nhau, tỷ giá sẽ
biến đổi khi cung cầu ngoại tệ dao động. Nếu giá trị nhập khẩu tăng nhanh hơn
mức giá trị xuất khẩu thì cầu ngoại tệ tăng nhanh hơn cung. Kết quả là tỷ giá lên
giá. Và ngược lại khi cán cân thanh toán của quốc gia thặng dư, cung ngoại tệ

Trong trờng hợp lạm phát xảy ra ở một nứơc thì đồng tiền nước này sẽ
giảm giá đối ngoại với tỷ lệ tương đương với tỷ lệ lạm phát. Trong trường hợp
lạm phát xảy ra ở hai nước thì đồng tiền của một nước sẽ giảm giá nếu tỷ lệ lạm
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 8

phát của nước này cao hơn so với nước kia và tỷ lệ giảm giá tương đương với
phần chênh lệch giữa hai nước.
- Chính sách tài chính kinh tế của một quốc gia
Đó là các chính sách lãi suất, thuế quan, hạn ngạch, giá cả… trong đó
công cụ lãi suất được sử dụng nhiều nhất và tỏ ra hiệu quả nhất. Với các yếu tố
khác không đổi, khi NHTW tăng lãi suất chiết khấu sẽ có tác động làm tăng mặt
bằng lãi suất thị trường, hấp dẫn các luồng vốn ngoại tệ chảy vào, làm cung
ngoại tệ tăng, làm tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm xuống, đồng thời khi lãi
suất cho vay cao thì tiền nội tệ trong lưu thông sẽ được thu về ngân hàng, làm
giảm sức ép mất giá nội tệ. Và ngược lại khi NHTW giảm lãi suất chiết khấu.
- Yếu tố tâm lý
Tâm lý kỳ vọng của người dân về tỷ giá cũng một phần tác động đến sự
tăng giảm giá trị của đồng tiền một nước. Những biến cố về kinh tế, chính trị, xã
hội của một quốc gia có thể tạo ra các làn sóng gửi tiền, rút tiền, mua hoặc bán
ngoại tệ để tự bảo hiểm tài sản của mọi người trước tác động tiêu cực của các
diễn biến đó.
1.1.2.3. Các chế độ tỷ giá
Tuỳ theo mức độ can thiệp của nhà nước vào tỷ giá hối đoái mà có các
loại tỷ giá sau:
- Chế độ tỷ giá hối đoái cố định:
Chế độ tỷ giá cố định là chế độ tỷ giá trong đó nhà nước tuyên bố sẽ duy
trì không thay đổi tỷ giá giữa đồng nội tệ với một đồng ngoại tệ nào đó hoặc với

đoái có vai trò quan trọng trong việc thực hiện những mực tiêu sau:
- Ổn định giá trị đồng tiền, nâng cao uy tín của đồng tiền quốc gia và đảm
bảo vấn đề chủ quyền tiền tệ.
- Khuyến khích xuất khẩu, trên cơ sở đó tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất
nước, giảm dần thâm hụt cán cân thương mại, cải thiện cán cân thanh toán quốc
tế.
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 10

- Hạn chế nhập khẩu để bảo hộ cho nền sản xuất trong nước.
- Tạo môi trường đầu tư ổn định, hấp dẫn, góp phần quan trọng trong việc
thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
1.1.3. Thị trƣờng ngoại hối
1.1.3.1. Khái niệm thị trường ngoại hối
Theo nghĩa hẹp, thị trường ngoại hối là nơi thực hiện trao đổi, mua bán
ngoại hối mà giá cả của nó được thiết lập trên quan hệ cung cầu tiền.
Theo nghĩa rộng, thị trường ngoại hối là nơi thực hiện các nghiệp vụ liên
quan đến việc chuyển đổi đồng tiền này sang đồng tiền khác, tiền gửi ngoại tệ,
tín dụng ngoại tệ, tài trợ ngoại thương, hợp đồng có kỳ hạn về ngoại tệ, hoán đổi
tiền tệ…Thị trường ngoại hối thường được nghiên cứu dưới hai dạng: thị trường
trao ngay và thi trường kỳ hạn.
1.1.3.2. Chức năng của thị trường ngoại hối
Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là kết quả phát triển tự nhiên
của một trong các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại, đó là: nhằm
dịch vụ cho khách hàng các giao dịch thương mại quốc tế
Ngoài ra, thị trường ngoại hối còn có một số chức năng khác như:
+ Giúp luân chuyển các khoản đầu tư quốc tế, tín dụng quốc tế, các giao
dịch tài chính quốc tế khác giữa các quốc gia.

Nhà môi giới ngoại hối thu thập hầu hết các lênh mua, bán ngoại tệ từ các ngân
hàng khác nhau, trên cơ sở đó cung cấp tỷ giá chào mua, và chào bán cho khách
hàng một cách nhanh nhất với giá ưu việt nhất. Đồng thời các nhà mô giới ngoại
hối nhận được một khoản phí từ các ngân hàng.
Các Ngân hàng Trung ương.
Mặc dù hầu hết các đồng tiền các nước phát triển được thả nổi từ năm
1973, nhưng trên thực tế, các ngân hàng trung ương vẫn thường xuyên can thiệp
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 12

bằng cách mua vào hay bán ra nội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm ảnh hưởng
lên tỷ giá theo hướng mà NHTW cho là có lợi.
Trong cơ chế tỷ giá cố định, can thiệp của NHTW lên thị trường ngoại hối
là bắt buộc nhằm duy trì tỷ giá trong một biên độ nhất định. NHTW tiến hành
mua nội tệ vào khi cung nội tệ lớn hơn cầu; và tiến hành bán nội tệ ra khi cầu
lớn hơn cung trên thị trường ngoại hối, nhờ đó tỷ giá được duy trì cố định.
1.2. QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
1.2.1. Chính sách quản lý ngoại hối
1.2.1.1. Khái niệm quản lý ngoại hối
Là một quá trình gồm việc hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, kiểm
tra giám sát, phân tích đánh giá….ngoại hối và các giao dịch liên quan đến ngoại
hối.
Quản lý ngoại hối là việc làm phức tạp do hoạt động kiểm soát ngoại hối
có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động kinh tế vĩ mô khác. Các hoạt động
này vừa tác động lên nhau, vừa ảnh hưởng lên mọi lĩnh vực trong nền kinh tế
như: lạm phát, hạn chế hay phát triển hiện tượng đô la hoá, hiệu quả của công
cuộc cải cách nền kinh tế, hoạt động ngoại thương, đầu tư quốc tế, vay mượn
nước ngoài…Quản lý ngoại hối là nhiệm vụ quan trọng của chính phủ trong việc

- Đối tượng quản lý ngoại hối
Ở đây cần phân biệt rõ đối tượng quản lý ngoại hối không phải là bản thân
ngoại hối mà là các tổ chức, cá nhân có ngoại hối hay có hoạt động ngoại hối.
Bời vì việc quản lý của nhà nước trong lĩnh vực này là quản lý chính những
hành vi xử sự của những người có ngoại hối hay có hoạt động ngoại hối.
Đối tượng quản lý ngoại hối là những tổ chức, cá nhân liên quan đến
ngoại hối và hoạt động ngoại hối, chịu sự điều chỉnh của pháp luật về quản lý
ngoại hối. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp của các cá
nhân tham gia hoạt động ngoại hối, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 14

nước ngoài tại Việt nam, các đối tượng của quản lý ngoại hối trên được phân
thành người cư trú và người không cư trú.
- Phạm vi quản lý ngoại hối
Phạm vi quản lý ngoại hối bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến
ngoại hối của quốc gia. Đó là, toàn bộ hoạt động làm nảy sinh cung cầu ngoại tệ
như giao dịch thương mại, đầu tư, hoạt động chuyển tiền một chiều mang tính
quốc tế, tỷ giá hối đoái; trạng thái ngoại hối của các định chế tài chính; thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường vàng, bạc, đá quý…
1.2.1.4. Phân loại chính sách quản lý ngoại hối
Tùy theo mức độ can thiệp, kiểm soát ngoại hối của chính phủ, chính sách
quản lý ngoại hối có thể được chia thành các loại sau:
- Chính sách nhà nước độc quyền quản lý ngoại hối
Chính sách nhà nước độc quyền quản lý ngoại hối bị quyết định bởi quan
điểm Chính phủ độc quyền quản lý ngoại thương, và nắm giữ toàn bộ hoạt động
kinh tế đối ngoại của đất nước. Trong chính sách này, Chính phủ ấn định tỷ giá
một các chủ quan, duy ý chí. Tỷ giá do chính phủ ban hành được sử dụng trong

ngoại tệ Chính phủ sẽ sử dụng công cụ lãi suất, tỷ giá để thu hút ngoại tệ trong
nền kinh tế. Chính sách này phù hợp với quốc gia muốn đẩy nhanh tốc độ thu
hút nguồn ngoại tệ trong và ngoài nước nhằm thực hiện tốt quá trình cải cách
nền kinh tế
- Chính sách tự do quản lý ngoại hối.
Chính sách tự do quản lý ngoại hối được thiết lập trên nền tảng tự do hóa
thương mại và đầu tư quốc tế của chính phủ. Chính phủ giữ vai trò điều tiết hoạt
động ngoại thương, ngoại hối ở tầm vĩ mô. Các rào cản thương mại được tháo
dỡ, chu chuyển hàng hóa và vốn quốc tế được tự do hóa hoàn toàn. Thị trường
hàng hóa và thị trường ngoại hối vận hành hoàn toàn theo cơ chế thị trường.
Điều này có nghĩa giá cả hàng hóa và tỷ giá được quyết định bởi yếu tố cung
cầu trong nền kinh tế. Chính sách tự do quản lý ngoại hối thường phù hợp với
các nước có nền kinh tế phát triển theo xu hướng hội nhập, thị trường chứng
khoán, thị trường ngoại hối phát triển ở mức độ cao, nguồn ngoại tệ phong phú.
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 16

1.2.2. Mục tiêu của quản lý ngoại hối
Quản lý ngoại hối là một bộ phận của quản lý kinh tế vĩ mô; vì vậy mục
tiêu quản lý ngoại hối được quyết định bởi mục tiêu phát triển kinh tế của quốc
gia trong từng thời kỳ nhất định. Mục tiêu quản lý ngoại hối tổng thể mà hầu hết
các quốc gia đều phấn đấu là đạt được sự cân đối giữa nền kinh tế đối nội và
kinh tế đối ngoại.
Để đạt được các mục tiêu này quản lý ngoại hối phải đảm bảo các yêu cầu
sau:
1.2.2.1 Đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia gồm cán cân vãng lai, cán
cân vốn và tài sản dự trữ. Sự tăng giảm các khoản mục trong cán cân thanh toán

giá, quy định tỷ lệ kết hối, co giãn biên độ mua bán ngoại tệ, kết hợp với các
chính sách lãi suất, tín dụng…chính phủ có thể tác động đến cung cầu tiền tệ
nhằm duy trì mức tỷ giá nhất định để giữ giá trị bản tệ, kiểm soát lạm phát.
1.2.2.3. Kiểm soát tình trạng đô la hoá nền kinh tế
Thực tế cho thấy, đối với các nước vừa chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch
hoá sang cơ chế thị trường, hiện tượng đô la hoá (ĐLH) nền kinh tế có nguy cơ
ngày càng tăng cao. Đô la hoá là hiện tượng công dân của một quóc gia (khu
vực) sử dụng ngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi cao- chủ yếu là USD- làm
phương tiện dự trữ, công cụ thanh toán, thậm chí làm thước đo giá trị. Hiện
tượng này được biểu hiện dưới hai hình thức; một là, số lượng ngoại tệ lưu
thông trong nền kinh tế cao; hai là, xu hướng chuyển từ bản tệ sang ngoại tệ
mạnh khi có một biến động bất thường trong nền kinh tế vĩ mô cao.
Trong những điều kiện cụ thể, ĐLH có thể phát huy những mặt tích cực
như tăng cung ngoại tệ, giảm áp lực lạm phát hoặc làm chỗ dựa cho nền kinh tế
khi đồng bản tệ quá suy yếu. Nếu lạm dụng, để kéo dài với mức độ cao thì ĐLH
sẽ gây tác hại ở thời kỳ sau, đặc biệt khi đồng nội tệ đã phục hồi và nền kinh tế
đang phát triển. Cụ thể, ĐLH làm mất chủ quyền về tiền tệ, làm cho thị trường
ngoại hối kém phát triển do các quan hệ vay - trả bằng ngoại tệ lấn át các quan
hệ mua bán ngoại tệ. ĐLH làm giảm khả năng chuyển đổi của đồng tiền, tạo
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 18

điều kiện cho buôn lậu phát triển, ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất trong nước.
Nhà nước không những thất thu về thuế mà còn mất cả nguồn thu từ việc phát
hành đồng nội tệ. Về dài hạn, ĐLH có những tác động tiêu cực đối với tăng
trưởng kinh tế bền vững do nó làm giảm chất lượng hoạch định và thực thi chính
sách tiền tệ, giảm hiệu quả của chính sách tỷ giá, tạo ra nguy cơ mất an toàn hệ
thống ngân hàng vì NHTW không thực hiện được vai trò ―Người cho vay cuối

chỉ ra những khiếm khuyết, những chỗ chưa phù hợp với chính sách quản lý
ngoại hối và quyết định hiệu quả công việc quản lý ngoại hối.
1.2.3.2 Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là một phần của thị trường hối đoái.
Đó là nơi các định chế tài chính trung gian của một quốc gia trao đổi, mua bán
ngoại hối. Nói cách khác, trong phạm vi một quốc gia thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng là điểm gặp gỡ cung và cầu ngoại tệ và là nơi xác định tỷ giá. Thông
qua thị trường, NHTW- cơ quan quản lý tiền tệ của Chính phủ- có thể nắm bắt
thông tin, kiểm soát, quản lý, điều tiết tỷ giá nhằm thực hiện mục tiêu của chính
sách ngoại hối. Bằng việc đặt lệnh mua, lệnh bán cuối cùng, NHTW sẽ điều tiết
hoạt động ngoại hối của các tổ chức tài chính trung gian và ổn định tiền tệ. Cụ
thể, khi cung ngoại tệ vượt cầu ngoại tệ, làm giá ngoại tệ giảm quá mức cho
phép, NHTW sẽ đặt lệnh mua ngoại tệ nhằm giảm áp lực nâng giá bản tệ; và
ngược lại, khi cầu ngoại tệ vượt cung, bản tệ có nguy cơ mất giá mạnh, gây bất
lợi cho chính sách tài chinh quốc gia, NHTW sẽ bán ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại
tệ để điều hoà nhằm làm giảm cơn khát ngoại tệ của nền kinh tế
1.2.3.3. Kết hối
Kết hối là việc cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ phải
bán ngoại tệ theo một tỷ lệ nhất định, trong một thời hạn xác định, cho định chế
tài chính được phép kinh doanh ngoại tệ. Kết hối là công cụ của NHTW nhằm
tập trung nguồn ngoaị tệ cho các nhu cầu ngoại hối hợp lý của quốc gia trong
từng thời kỳ.
Về bản chất kết hối là công cụ kiểm soát trực tiếp, áp đặt của NHTW.
Công cụ này thường được áp dụng trong trường hợp niềm tin của công chúng
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 20

vào bản tệ bị suy giảm, nguồn dự trữ ngoại hối của quốc gia không đáp ứng đủ

1.3.1. Chính sách quản lý ngoại hối là công cụ thực hiện chính sách kinh tế
đối ngoại, hỗ trợ chính sách ngoại thƣơng và đầu tƣ quốc tế.
Chính sách quản lý ngoại hối và chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ này, chính sách kinh tế đối
ngoại là yếu tố quyết định chiến lược, phương hướng hoạt động của chính sách
ngoại hối; chính sách ngoại hối là một trong các phương tiện hữu hiệu góp phần
thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại. Khi một nước với mục tiêu mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại, thì nước đó sẽ tiến hành nới lỏng quản lý ngoại hối
như tiến hành tự do hoá các giao dịch vãng lai, tự do hoá một số giao dịch vốn
nhằm tạo điều kiện cho hoạt động ngoại thương và đầu tư quốc tế. Và với một
chính sách quản lý ngoại hối phù hợp sẽ góp phần tăng nguồn dự trữ ngoại hối
quốc gia, đảm bảo nguồn cung và cầu ngoại tệ, tạo sự bình ổn tỷ giá, giảm bớt
sự lệ thuộc vào bên ngoài, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức linh hoạt và
chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình. Từ đó thúc đẩy hoạt động kinh
tế đối ngoại phát triển.
Một trong các yếu tố cơ bản của quản lý ngoại hối là cơ chế điều hành tỷ
giá. Tỷ giá là công cụ đo lường giá trị giữa các đồng tiền, vì vậy nó có tác dụng
như một công cụ cạnh tranh trong thương mại và giao lưu quốc tế. Mức độ
hướng ngoại cuả nền kinh tế càng cao bao nhiêu, thì mối quan hệ giữa bản tệ và
ngoại tệ càng lớn bấy nhiêu. Vì vậy, dù các giao dịch hối đoái ra đời từ các hoạt
động tài chính, thương mại, đầu tư quốc tế, nhưng khi đã hình thành, cơ chế tỷ
giá nói riêng và chính sách ngoại hối nói chung sẽ tác động mạnh mẽ các giao
dịch trên.
Thật vậy, trong thương mại quốc tế, khi bản tệ hạ giá so với ngoại tệ,
hang xuất khẩu tính bằng ngoại tệ sẽ trở nên rẻ hơn, điều này làm nâng cao khả
năng cạnh tranh của quốc gia đó trong thương trường quốc tế; đồng thời làm
giảm nhu cầu nhập khẩu do hàng hoá nước ngoài tính bằng bản tệ trở nên đắt
hơn. Tuy nhiên, nếu tình trạng phá giá bản tệ kéo dài, tác động này sẽ giảm hiệu
Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập


Quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 23

chẽ…Ngược lại, để kích thích nền kinh tế tăng trưởng, Chính phủ có thể nới
lỏng chính sách quản lý ngoại hối và linh hoạt hoá cơ chế tỷ giá.
Thứ hai, để chính sách tiền tệ được thực hiện một cách hiệu quả, nội dung
quản lý ngoại hối phải phù hợp với các quy định trong chính sách tín dụng, đầu
tư, dự trữ bắt buộc…trong từng thời kỳ nhất định. Đây là mối quan hệ qua lại
giữa các yếu tố cấu thành nên chính sách tiền tệ. Nếu việc phối hợp giữa các
chính sách bộ phận không hoàn mỹ, hiệu quả của chính sách tiền tệ sẽ giảm sút
nghiêm trọng. Chẳng hạn, để đối phó với hiện tượng đô la hoá nền kinh tế ngày
càng gia tăng phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các yếu tố: lãi suất ngoại tệ, lãi
suất bản tệ. tỷ giá. Theo đó, các quy định cho vay bằng ngoại tệ phải được mở
rộng tối đa trong phạm vi cho phép, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của bản tệ và ngoại tệ
phải thay đổi theo hướng nâng cao mức dự trữ bắt buộc đối với ngoại tệ và hạ
thấp mức dự trữ đối với bản tệ.
1.3.3. Chính sách quản lý ngoại hối quyết định khả năng chuyển đổi của
bản tệ.
Tính chuyển đổi của đồng tiền được hiểu nôm na là việc tự do sử dụng và
trao đổi tiền tệ theo một tỷ giá nhất định. Theo nghĩa rộng, khả năng chuyển đổi
hoàn toàn của đồng tiền cho phép người sở hữu nó có thể chuyển đổi thường
xuyên, không hạn chế bản tệ với bất kỳ đồng tiền nào trên thế giới theo một tỷ
giá xác định.
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền có nhiều mức độ khác nhau. Theo
IMF, một đồng tiền được xem là có khả năng chuyển đổi khi Chính phủ cam kết
việc không hạn chế chuyển đổi tiền tệ trong các giao dịch vãng lai, giao dịch
vốn, và các chu chuyển khác. Trong đó, yêu cầu tối thiểu là tiền tệ phải có khả
năng chuyển đổi trên tài khoản vãng lai. Nói cách khác, một đồng tiền được xem

Chính sách quản lý ngoại hối được xem là hiệu quả khi nó kích thích nền
sản xuất trong nước phát triển, ổn định đời sống nhân dân góp phần tăng trưởng
kinh tế. Trƣớc hết, như đã phân tích ở trên, chính sách quản lý ngoại hối tác
động mạnh đến ngoại thương và đầu tư quốc tế nên cũng ảnh hưởng gián tiếp
đến sản xuất và tiêu dùng nội địa. Bởi vì các yếu tố đầu vào và thành phẩm của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status