TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động
ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị An Ly
Lớp: Pháp 3
Khoá: 42
Giáo viên hướng dẫn: TS. Đặng Thị Nhàn
Hà Nội, tháng năm 2007
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
2. Quy định của pháp luật Việt Nam về dự trữ bắt buộc 36
3. Quy định của pháp luật Việt Nam về nghiệp vụ thị trường mở 38
II. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 42
HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CỦA NHTM Ở VIỆT NAM
1. Quy định của pháp luật Việt Nam 42
về hoạt động nghiệp vụ ngân hàng của NHTM
1.1. Hoạt động huy động vốn 42
1.2. Hoạt động cấp tín dụng 44
1.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán 50
1.4. Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán 52
2. Quy định của pháp luật Việt Nam về đảm bảo an toàn
trong hoạt động ngân hàng của NHTM 56
2.1. Các quy định về bảo đảm tiền vay 57
2.2. Các quy định về giới hạn an toàn trong kinh doanh 60
III. NHẬN XÉT CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ 63
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
1. Những thành tựu cơ bản trong việc ban hành 63
và áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam
2. Những hạn chế, bất cập chủ yếu của pháp luật 67
điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 71 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
I. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
71 HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
2010
I
Ngân hàng 1
Ngân hàng thương mại a
Ngân hàng thương mại Nhà nước
3.000 tỷ đồng
3.000 tỷ đồng
b
Ngân hàng thương mại cổ phần
1.000 tỷ đồng
3.000 tỷ đồng
c
Ngân hàng liên doanh
1.000 tỷ đồng
3.000 tỷ đồng
d
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
1.000 tỷ đồng
3.000 tỷ đồng
đ
Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
15 triệu USD
15 triệu USD
2
1
Công ty tài chính
300 tỷ đồng
500 tỷ đồng
2
Công ty cho thuê tài chính
100 tỷ đồng
150 tỷ đồng
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.Mác, Sự khốn cùng của triết học, Nxb. Sự thật, H.1971.
2. Bernard & Colli, Từ điển thuật ngữ kinh tế – tài chính.
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, Nxb.
Công an nhân dân, H. 2007
4. Trường Học viện Tài chính, Giáo trình Quản lý và kinh doanh tiền tệ, Nxb.
Thống kê, H.2006
5. Nguyễn Ninh Kiều – MBA, Tiền tệ – Ngân hàng, Nxb. Thống kê, H.1998
6. TS. Ngô Quốc Kỳ, Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của NHTM trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, H.2005
7. TS. Nguyễn Văn Tuyến, Các giao dịch thương mại chủ yếu của NHTM
trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, 2004.
8. Jean Prerr Mattout, Luật Quốc tế về ngân hàng, Viện tiền tệ, tín dụng và
Ngân hàng Nhà nước An Giang xuất bản, 1991.
9. Frederic Mishkin, Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, NXB. Khoa
học và kỹ thuật, H.1994.
10. Thanh Lộc, áp dụng mô hình AMC để xử lý nợ tồn đọng, Thị trường tài
28. http://www.kiemtoan.com.vn/
29. http://vibonline.com.vn/
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AMC : Công ty quản lý tài sản
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
HTXTD : Hợp tác xã tín dụng
NĐ : Nghị định
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng Thương mại
NHTW : Ngân hàng Trung ương
QĐ : Quyết định
TCTD : Tổ chức tín dụng
TTCK : Thị trường chứng khoán
TTTTTD : Trung tâm thông tin tín dụng
UCP : Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ
URC : Quy tắc thống nhất về nhờ thu
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
1
2
cải cách, xây dựng nền kinh tế ngày càng hiện đại và hoàn thiện hơn. Với phạm
vi và mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến mọi vấn đề
của hệ thống ngân hàng, bao gồm cả khía cạnh pháp lý. Tuy nhiên, trong bối
cảnh Việt Nam đã chính thức hội nhập vào sân chơi toàn cầu, lĩnh vực ngân hàng
nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng cần được tiếp tục triển khai nghiên
cứu.
Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ nhận thức như vậy, khoá luận này được thực hiện nhằm góp
phần làm rõ hơn nữa những vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng, hoạt động ngân
hàng và đặc biệt là pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng trong bối cảnh Việt
Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới. Trên cơ sở đó,
bước đầu khóa luận nêu lên một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều
chỉnh hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập.
Phương pháp nghiên cứu
Nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu nêu trên, khoá luận sử dụng những
phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học pháp lý như phương pháp tiếp
cận lịch sử, tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh, thống kê kết hợp giải
thích và hệ thống hoá một cách khoa học.
Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khoá luận được chia thành 3
chương với tiêu đề như sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận về hoạt động ngân hàng và pháp luật
điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Chương II: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt
Nam.
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh
hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.
Thuật ngữ “ngân hàng” đã được nhắc đến từ rất lâu, để chỉ một tổ chức
kinh doanh tiền tệ chuyên nghiệp trong nền kinh tế. Từ 3000 năm trước công
nguyên, thậm chí người ta đã tìm thấy những dấu vết đầu tiên của hoạt động
ngân hàng thông qua việc nhận gửi đồ đạc, tiền của và cho vay tiền của các vị
linh mục, bởi nhà thờ là nơi tôn nghiêm, được dân chúng tin tưởng để ký gửi tài
sản, tiền bạc.
Thật vậy, ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ
vật quý cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát. Đổi lại, những
người chủ sở hữu phải trả cho người giữ đồ một khoản tiền công. Khi công việc
này mang lại nhiều lợi ích, thì các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, và đại
diện cho các vật có giá trị như vậy là tiền. Dần dần, ngân hàng trở thành nơi giữ
tiền cho những người có tiền. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu
cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền, những người giữ
tiền khi nắm trong tay một lượng tiền nhất định mà không phải bao giờ cũng
phải trả trong cùng một thời gian, nảy ra ý định cho vay số tiền đó, vậy là có độ
chênh lệch giữa lượng tiền cần gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu.
Ngân hàng lại trở thành nơi cung cấp tiền cho những người cần tiền. Từ đó phát
sinh nghiệp vụ đầu tiên của ngân hàng, đó là huy động vốn và cho vay vốn.
Như vậy, khi thương mại quốc tế phát triển với các hoạt động khác nhau,
nhu cầu đổi tiền xuất hiện và nghề kinh doanh tiền tệ ra đời. Những nghiệp vụ
đầu tiên của tổ chức kinh doanh tiền tệ bao gồm: đổi tiền, nhận tiền và bảo quản
tiền, cho vay và chuyển tiền. Nghiệp vụ cho vay thời kỳ đầu là cho vay nặng lãi.
5
Thời kỳ Phục hưng, các tổ chức kinh doanh tiền tệ phát triển nhanh và mở
rộng thêm nhiều nghiệp vụ mới như: chi trả bằng thương phiếu, tổ chức thanh
toán bù trừ, thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh… Thời kỳ này đánh dấu sự xuất
gọi mà còn thay đổi cả về chức năng hoạt động của ngân hàng. NHTW không
chỉ phát hành giấy bạc lưu thông, mà còn là cơ quan thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước về tiền tệ và ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ.
Điểm lại những dấu mốc quan trọng của lịch sử, có thể thấy sự ra đời và
phát triển của ngân hàng được đặt trong những điều kiện lịch sử, kinh tế – xã hội
nhất định, trong sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, lưu thông hàng hoá và
đặc biệt trong cơ sở phát triển của tiền tệ. Tóm lại, “bản thân sự phát triển của
nghề kinh doanh tiền tệ cũng tạo tiền đề và đòi hỏi phải xuất hiện ngân hàng, tức
đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức và bộ máy thích hợp, đảm nhiệm lĩnh vực
lưu thông tiền tệ.”
(
1
)
Như vậy, trong dòng phát triển của tiền tệ, sự ra đời, tồn tại và phát triển
của ngân hàng là một tất yếu khách quan. Chính sự tập trung hoá nền sản xuất và
phân công lao động xã hội đạt đến một trình độ cao đã làm xuất hiện ngân hàng,
và ngân hàng, đến lượt mình lại đóng vai trò thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển
nhanh hơn.
2. Cấu trúc hệ thống ngân hàng
Trên thế giới, hệ thống ngân hàng ở các quốc gia ngày nay được tạo lập là
sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Cho đến nay, mô hình
ngân hàng phổ biến ở các nước kinh tế thị trường là hệ thống ngân hàng hai cấp.
Trong hệ thống ngân hàng hai cấp, Ngân hàng Trung ương vừa làm chức
năng phát hành tiền, vừa làm chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và giám sát
an toàn của hệ thống ngân hàng. Còn các Ngân hàng trung gian (với tư cách là
những tổ chức tài chính trung gian) có chức năng thực hiện kinh doanh tiền tệ và
cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Trong số các loại hình ngân hàng trung gian,
Ngân hàng thương mại chiếm số lượng áp đảo và giữ vai trò quan trọng hơn cả.
NHTW trở thành trung tâm phát hành tiền của một đất nước. Tiền do NHTW
phát hành có nội dung tiền tín dụng. Nó thay thế cho tất cả các loại tiền tín dụng
Ngân hàng tư nhân trước đó. Tất cả các loại tiền do NHTW phát hành là những
phương tiện thanh toán duy nhất thay thế cho tiền thật “tiền vàng, bạc” làm chức
năng phương tiện thanh toán và phương tiện lưu thông. Do vậy, việc NHTW
phát hành tiền tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ, làm cho quan hệ
tiền hàng thay đổi, tác động đến giá cả. Mối quan hệ đó đòi hỏi việc phát hành
tiền phải tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt, đồng thời phải thực hiện theo
8
một cơ chế phù hợp.
Thứ hai, NHTW là ngân hàng của các ngân hàng.
Chức năng này có thể được hình dung như là việc quản lý tài khoản và dự
trữ tiền tệ trên tài khoản tiền gửi của các ngân hàng và cho các ngân hàng trung
gian vay tiền khi cần thiết. Trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng
trung gian phải mở tài khoản tiền gửi tại NHTW và tiền gửi vào tài khoản đó
theo quy định của pháp luật. Thông thường có hai loại tiền gửi khác nhau:
- Tiền gửi thanh toán. Tất cả các ngân hàng kinh doanh (bao gồm cả các tổ
chức tài chính kinh doanh tiền tệ) khi được phép hoạt động đều phải mở tài
khoản loại này tại NHTW và gửi tiền vào tài khoản đó theo quy định. Trong quá
trình hoạt động kinh doanh, các ngân hàng này phải duy trì trên tài khoản đó một
mức dự trữ tiền tệ theo quy định để đảm bảo thoả mãn nhu cầu chi trả.
- Tiền gửi dự trữ bắt buộc. Loại này áp dụng đối với các tổ chức tài chính
có huy động tiền gửi để kinh doanh. Mức dự trữ bắt buộc được tính theo tỷ lệ
trên từng loại tiền gửi đã huy động thể hiện trên số dư, tỷ lệ này do NHTW quy
định theo từng thời kỳ.
- Cấp tín dụng cho các ngân hàng. Mục đích cấp tín dụng của NHTW là
nhằm cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế theo nhịp điệu đã tăng trưởng của từng
Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng. Ngoài ra, NHTW còn đóng vai trò quan
trọng trong việc thay mặt cho Nhà nước trong quan hệ với nước ngoài trên lĩnh
vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng để ký kết các hiệp định hay đại diện cho Nhà
nước tại các tổ chức tài chính quốc tế.
2.2. NHTM và các định chế tài chính phi ngân hàng
a) Khái niệm Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng theo từ điển thuật ngữ kinh tế – tài chính của Bernard và Colli,
được định nghĩa là: “doanh nghiệp hành nghề bằng cách nhận từ công chúng,
dưới hình thức tiền gửi hoặc hình thức khác, các khoản vốn mà ngân hàng sử
dụng cho bản thân mình bằng các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hoặc tài chính.”
Định nghĩa pháp lý này được Đạo luật số 2-532 về quy định và tổ chức nghiệp
vụ ngân hàng (Loi n
0
2-532 relative à la réglementation et à l’organisation de la
profession bancaire) ngày 13/6/1941 của Pháp sử dụng, hay ở chỗ đã nhấn mạnh
10
được sự liên kết giữa hai dạng nghiệp vụ là quản lý tiền gửi và cấp tín dụng.
Điều này giúp phân biệt được ngân hàng với các tổ chức khác, đặc biệt là tổ
chức tài chính.
Cũng theo định nghĩa này, bằng cách nhấn mạnh vào các nghiệp vụ, ngân
hàng trước tiên được hiểu là các Ngân hàng Thương mại (NHTM).
Các nhà kinh tế và các luật gia đều thống nhất với nhau trên những nét tổng
quát nhất về NHTM và cho rằng NHTM là một trung gian tài chính có giấy phép
kinh doanh của Chính phủ trong việc tiến hành các nghiệp vụ thu nhận tiền gửi
từ công chúng, cho vay và thanh toán.
Một cách khái quát, có thể hình dung NHTM có các chức năng cơ bản sau:
dân. Điều đó đặt ra yêu cầu là Nhà nước cần phải có thái độ đúng đắn và cơ chế
điều chỉnh pháp luật thích hợp để phát vai trò tín dụng của các NHTM trong sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở nước ta.
Chức năng thanh toán của các NHTM vừa có tính độc lập tương đối vừa có
mối quan hệ tác động qua lại với chức năng trung gian tài chính.
Đây là một trong những chức năng đặc thù của NHTM so với các tổ chức
tín dụng nói chung, liên quan đến khả năng tạo tiền của NHTM, đây là điều mà
các nhà kinh tế gọi là đồng tiền ghi sổ hay là tín dụng tạo ra tiền gửi. Bởi lẽ, quá
trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng, tổ chức
việc trung gian thanh toán và quản lý phương tiện thanh toán.
Bằng cách sử dụng đồng tiền ghi sổ, thẻ ngân hàng, chuyển khoản, cung
cấp các dịch vụ: giữ tài khoản, ngân quỹ, xử lý séc, chuyển nhượng thương
phiếu, nhận gửi tiền và séc từ khách hàng, ngân hàng có thể sử dụng tiền của họ
không phải trả lãi hoặc trả lãi thấp. Trong khi thực hiện chức năng trung gian
thanh toán và cho vay, ngân hàng có khả năng tạo ra một chu trình tạo tiền gửi
và phát sinh bội số tín dụng rất phức tạp. Điều này sẽ góp phần giải thích tại sao
một trong những biện pháp để thực hiện chính sách tiền tệ là kiểm soát tín dụng
và các ngân hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc thực hiện chính sách tiền tệ.
Về phương diện luật học, sự nhìn nhận chức năng thanh toán của NHTM và
mối liên hệ của nó với chức năng trung gian tài chính cho phép lý giải hiện
tượng phổ biến ở các nước là: cùng với sự điều chỉnh các quan hệ trung gian tài
chính, pháp luật ở các nước đều có những quy phạm pháp luật điều chỉnh các
12
quan hệ thanh toán qua ngân hàng. Chẳng hạn ở Anh có luật về kỳ phiếu năm
1882, luật về séc năm 1975…
Thực hiện chuyển hoá các phương tiện tiền tệ là chức năng quan trọng của
các NHTM: trong nền kinh tế, các doanh nghiệp đều có vai trò chuyển hoá
ty thuê mua tài chính, Tổ chức tài chính, Công ty bảo hiểm… được thực hiện
một hoặc một số nghiệp vụ ngân hàng theo quy định của pháp luật từng nước.
Các định chế tài chính phi ngân hàng có thể được khái quát bao gồm một số loại
hình sau:
- Các hội tài chính.
Loại thứ nhất thường do các NHTM lớn lập ra để thực hiện một nghiệp vụ
riêng biệt, chẳng hạn như chuyên cấp bảo lãnh, cho vay bất động sản, thuê mua
tài chính
Loại thứ hai, thường do các nhóm tập đoàn công nghiệp lớn lập ra dưới
hình thức công ty tài chính để thực hiện một việc riêng biệt nhằm cung ứng
nguồn tài trợ cho sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm của tập đoàn công nghiệp đó.
- Các tổ chức tài chính chuyên môn.
Đây là những tổ chức công, bán công hoặc cổ phần hoạt động trong nhiều
lĩnh vực chuyên trách mà thông thường là những lĩnh vực thường xuyên phục vụ
cho lợi ích công cộng để thực hiện nhiệm vụ tài trợ trung, dài hạn.
- Các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác.
Loại hình này không được xếp chung với ngân hàng, cũng không xếp
chung với các tổ chức tài chính trên đây, nhưng có tầm quan trọng và vị trí đặc
biệt, có quy chế pháp lý riêng biệt, đó là các tổ chức bảo hiểm, các quỹ tiết kiệm
quốc gia, Kho bạc Nhà nước
Nhìn chung, các định chế tài chính phi ngân hàng được hình thành hết sức
đa dạng và phong phú ở các nước, được pháp luật các nước cho phép hoạt động
thông qua việc thực hiện một hoặc một số thao tác nghiệp vụ ngân hàng. Song về
mặt lý thuyết, các tổ chức này có một số điểm khác biệt cơ bản so với các
NHTM như sau:
Thứ nhất, các định chế tài chính phi ngân hàng chỉ làm trung gian tài
chính, không được huy động tiền gửi của công chúng. Các NHTM có thể thực
hiện các nghiệp vụ tổng hợp, đa năng, còn các định chế tài chính phi ngân hàng
vốn cho nền kinh tế, ngân hàng tạo điều kiện cho việc giao lưu hàng hóa dịch vụ
15
trở nên thuận lợi, tiết kiệm và an toàn. Do vậy, ngân hàng còn tiếp tục thúc đẩy
lưu thông hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Thứ ba, cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ ngân hàng. Cùng với
sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ở mỗi nước khác nhau, ngân hàng còn
đảm nhận các dịch vụ khác nhau cho các đối tượng khách hàng khác nhau, từ
việc làm các dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ hay là việc cho
thuê két sắt theo nhu cầu của khách hàng.
Thứ tư, NHTM góp phần thực thi chính sách tiền tệ của Nhà nước. NHTM
đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, góp phần ổn định
giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện
các mục tiêu xã hội. Hoạt động của NHTM tạo ra một kênh dẫn vốn để cung ứng
tiền cho nền kinh tế, hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông thông qua các hoạt động tín
dụng, thanh toán, đầu tư… để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Các
NHTM Việt Nam đóng vai trò là cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của
chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến khu vực phi ngân
hàng và cả nền kinh tế.
Thứ năm, NHTM phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại. Thực hiện chính
sách mở cửa, NHTM góp phần thu hút vốn, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước,
tài trợ ngoại thương, góp phần đắc lực trong việc hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế, góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ sáu, NHTM góp phần hình thành và phát triển thị trường chứng khoán.
Vai trò đó thể hiện rõ nét thông qua việc NHTM tham gia vào cả thị trường
chứng khoán sơ cấp lẫn thị trường chứng khoán thứ cấp. Trên thị trường chứng
khoán sơ cấp, NHTM có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu (đối với NHTM
cổ phần), đóng vai trò là nhà tư vấn phát hành, đại lý, bảo lãnh phát hành (bao
thiết nghĩ cần hiểu và phân biệt rõ các hoạt động có tính chất là hoạt động ngân
hàng của NHTW và hoạt động ngân hàng của NHTM.
3.1. Các hoạt động ngân hàng của NHTW
Kinh tế thị trường về thực chất là một nền kinh tế tiền tệ. Ở đó, bên cạnh
những chính sách khác như tài khoá, phân phối thu nhập, kinh tế đối ngoại… thì
chính sách tiền tệ là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng
17
và đắc lực nhất của Nhà nước. Trên hết, đó là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất, là
linh hồn xuyên suốt mọi hoạt động của ngân hàng đóng vai trò trung tâm đầu
não trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, đó là NHTW. Vì thế, tìm hiểu
hoạt động của NHTW chính là tìm hiểu nội dung những công cụ của chính sách
tiền tệ bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu, dự trữ bắt buộc,
hạn mức tín dụng và quản lý lãi suất.
Nghiệp vụ thị trƣờng mở
Là việc NHTW mua và bán các chứng khoán có giá, mà chủ yếu là tín
phiếu kho bạc Nhà nước, nhằm làm thay đổi lượng tiền cung ứng. Bằng công cụ
thị trường mở, NHTW có thể thu hẹp tín dụng, giảm khổi tiền tệ lưu thông theo
ý muốn để ngăn chặn lạm phát thông qua việc bán các tín phiếu ngắn hạn.
Ngược lại, khi cần NHTW có thể mua vào các loại chứng khoán ngắn hạn nhằm
kích thích khối tiền tệ, mở rộng tín dụng, thức đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế.
Qua đó, kiểm soát được hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường tự do, góp phần ổn
định nền kinh tế.
Sử dụng công cụ Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các TCTD phải giữ lại, mà không được dùng
để cho vay hoặc đầu tư, được gửi ở NHTW mà không được hưởng lãi. Mức dự
trữ này do NHTW quy định và bằng một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi