Một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm ở việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHAN HỒ TRUNG PHONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2005


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

MỞ ĐẦU
XW
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nền kinh tế Việt Nam sau hơn 15 năm đổi mới đã đạt được những kết quả tốt
đẹp, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Riêng trong năm 2002, Việt Nam được Ngân
hàng thế giới xếp là nước có tốc độ tăng trưởng GDP đứng hàng thứ 2 ở châu Á.
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới gia tăng mạnh mẽ trong vài năm gần
đây tác động sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam, đòi hỏi kinh tế Việt Nam phải
chuẩn bò cho việc mở cửa để hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam đã gia
nhập vào các tổ chức ASEAN, APEC, AFTA, và đang trong tiến trình hội nhập vào
WTO.
Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, ngành bảo hiểm Việt Nam
cũng đã có những bước phát triển vượt bậc. Năm 2004 đánh dấu một sự phát triển
sôi động của thò trường bảo hiểm Việt Nam, thò trường bảo hiểm Việt Nam đã bước
sang một giai đoạn mới, giai đoạn cạnh tranh và phát triển.
Trong các điều kiện như thế, đònh hướng và các giải pháp phát triển dòch vụ bảo
hiểm được Nhà nước quan tâm đặc biệt để nhằm tạo lập một thò trường bảo hiểm
Việt Nam tăng trưởng và phát triển bền vững, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp

thò trường bảo hiểm giai đoạn 1993 – 2004, đưa ra một số chỉ tiêu phát triển dòch vụ
bảo hiểm đến năm 2010 cùng với các giải pháp để thực hiện các chỉ tiêu đó trong
thời gian tới.

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

2


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp
so sánh, phân tích những số liệu thống kê, các báo cáo thường niên của thò trường
bảo hiểm Việt Nam cũng như các văn bản luật có liên quan đến ngành bảo hiểm để
đưa ra những giải pháp có tính thực tiễn.
4. Nội dung của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3
chương:
- Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm và tác động của toàn cầu hóa đến lónh
vực kinh doanh bảo hiểm.
- Chương II: Phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế.
- Chương III: Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

3




dự trữ càng cao, họ nhận ra rằng dự trữ có tổ chức thì sẽ hiệu quả hơn so với dự trữ
cá nhân riêng lẻ.
Một ví dụ điển hình cho hình thức sơ khai này của bảo hiểm là tổ chức những
người thợ đá ở Ai Cập vào những năm 2500 TCN. Người tham gia vào tổ chức này
phải đóng tiền hội phí để thành lập quỹ tương trợ. Quỹ này được dùng để giúp đỡ
nạn nhân của các vụ tai nạn.
1.1.1.2. Cho vay nặng lãi:
Dự trữ thuần túy không thể giải quyết đầy đủ nhu cầu của con người khi xã hội
phát triển và hoạt động của con người trở nên đa dạng hơn. Thay vì tự tích góp cho
đến khi có đủ tiền chuẩn bò cho một chuyến hàng, nhà buôn có thể vay tiền từ
những người cho vay để khỏi mất thời gian chờ. Người cho vay sẽ nhận được một
khoản lãi do người đi vay trả. Hệ thống cho vay đặc biệt phát triển cùng với sự mở
rộng thương mại và buôn bán giữa các quốc gia, các vùng.
Ở Babylone 1700 năm TCN và Athènes 500 năm TCN đã xuất hiện một hệ
thống cho vay nặng lãi để mua và vận chuyển hàng hóa. Trong trường hợp xảy ra
mất mát, hư hại đối với hàng hóa trong quá trình vận chuyển, người đi vay không
phải hoàn trả khoản tiền đã vay. Tuy nhiên, lãi suất của hệ thống cho vay này quá
hà khắc, có khi lên đến 400% nên Nhà thờ và các hội tôn giáo đã can thiệp bằng
các sắc lệnh để chấm dứt hoạt động cho vay nặng lãi.
1.1.1.3. Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên:
Sau khi hoạt động cho vay nặng lãi chấm dứt hoạt động, nhu cầu cần tiền và
cần sự đảm bảo cho chuyến hàng của các nhà buôn vẫn rất lớn, đặc biệt khi thông

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

5


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập


- Công ty Bảo hiểm nhân thọ Equitable ra đời ở Anh năm 1762 đánh dấu sự hình
thành của loại hình bảo hiểm nhân thọ.
- Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của nền sản xuất
đại công nghiệp cơ khí, hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã xuất hiện và phát
triển rất nhanh: Bảo hiểm ô tô, Bảo hiểm máy bay, Bảo hiểm trách nhiệm dân sự,…
Ngày nay Bảo hiểm đã trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng, là động lực
thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm trong đời sống kinh tế – xã hội:
Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt, con người luôn phải đối đầu với các rủi
ro bất trắc. Tổn thất xảy ra có thể làm thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản
của con người.
Tổn thất xảy ra có thể được bù đắp bằng khoản tiền tiết kiệm của chính người
bò tổn thất hay khoản tiền cứu trợ từ các tổ chức xã hội. Tuy nhiên, các khoản tiền
này không kòp thời, nhanh chóng và cũng không chắc chắn. Nếu tổn thất xảy ra cho
một người trong khi anh ta chưa tích lũy được số tiền đủ để bù đắp tổn thất thì anh
ta vẫn gặp khó khăn và phải phụ thuộc vào cứu trợ. Trong khi đó, cứu trợ chỉ là một
cách trợ giúp khắc phục hậu quả xuất phát từ lòng từ thiện, người gánh chòu tổn thất
không chắc chắn được rằng mình sẽ được cứu trợ.
So với tiết kiệm và cứu trợ, Bảo hiểm thể hiện rõ tính ưu việt của nó:
- Kỹ thuật bảo hiểm giúp người ta qui tụ được một số đông người. Khi có rủi ro
tổn thất xảy ra với một số người, Nhà bảo hiểm sẽ dùng quỹ bảo hiểm do đám đông
đóng góp dưới hình thức Phí bảo hiểm để bồi thường cho họ. Bằng cách này, rủi ro

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

7


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm, Công ty bảo hiểm luôn chú ý
đến việc tăng cường các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo
hiểm, góp phần bảo đảm an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người.
Chỉ có thông qua Bảo hiểm, hiệu quả của các biện pháp đề phòng, hạn chế
thiệt hại mới đạt được kết quả cao nhất bởi lẽ các Công ty bảo hiểm có khả năng
về tài chính, nhiều kinh nghiệm và chuyên môn nên nắm bắt được nguyên nhân của
thiệt hại.
Bên cạnh đó, khi tham gia bảo hiểm, Người được bảo hiểm đã nhận thức được
rủi ro có thể sẽ xảy ra cho mình nên không chỉ một phía Nhà bảo hiểm có nhiệm vụ
đề phòng hạn chế tổn thất mà ngay Người được bảo hiểm cũng phải có trách
nhiệm.
1.1.3.1.3. Đảm bảo an tâm về mặt tinh thần:
Khi tham gia bảo hiểm, Người được bảo hiểm đã chuyển phần rủi ro của mình
sang Công ty bảo hiểm. Do đó, họ không còn lo lắng về các rủi ro xảy ra đối với họ
nữa.
1.1.3.1.4. Kích thích tiết kiệm:
Bảo hiểm ra đời tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư duy
của các cá nhân, hộ gia đình, chủ doanh nghiệp, góp phần hình thành nên một ý
thức, thói quen về việc dành một phần thu nhập để có một tương lai an toàn hơn.
1.1.3.1.5. Tạo cơ hội có công ăn việc làm:
Xét trên bình diện vó mô, Bảo hiểm góp phần giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động. Theo kết quả thống kê, ở Pháp, hoạt động bảo hiểm thu hút khoảng
1% lực lượng lao động. Ở Việt Nam, tính đến năm 2004, số lao động làm việc trong
Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

9


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập


đóng vai trò là trung gian tài chính. Với các vai trò này, Bảo hiểm ngày càng phát
huy tác dụng của nó đối với nền kinh tế, đó là tập trung, tích tụ vốn, đảm bảo cho
quá trình tái sản xuất diễn ra được thường xuyên và liên tục. Tác dụng này càng
quan trọng đối với nước ta hiện nay vì nó có thể, bên cạnh các Ngân hàng thương
mại, góp phần làm tăng số vốn đầu tư từ việc huy động và tận dụng một cách triệt
để các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư.
Vì vai trò và tác dụng lớn lao của Bảo hiểm nên các quốc gia trên thế giới, dù
đã phát triển hay chưa phát triển, đều coi trọng hoạt động bảo hiểm và xem hoạt
động bảo hiểm như “Một cỗ máy ổn đònh xã hội tinh xảo”.
Ở nước ta, cùng với việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế thò trường theo
đònh hướng xã hội chủ nghóa, hoạt động bảo hiểm cần được đẩy mạnh để xây dựng
một quỹ dự trữ bồi thường tổn thất bất ngờ, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện kế
hoạch xây dựng kinh tế nước ta và ổn đònh đời sống nhân dân.
1.1.4. Các nguyên tắc của hoạt động bảo hiểm:
1.1.4.1. Nguyên tắc số đông:
Theo qui luật số đông, nếu thực hiện việc nghiên cứu trên một lượng đủ lớn các
trường hợp, người ta sẽ tính toán được tương đối chính xác khả năng xảy ra trong
thực tế của một biến cố. Qua đó, người ta có thể làm chủ được sự ngẫu nhiên trong
việc xảy ra biến cố đó.
Qui luật số đông là cơ sở khoa học quan trọng của Bảo hiểm. Qui luật này giúp
các nhà bảo hiểm đo lường mức độ rủi ro nhận bảo hiểm, tính phí và quản lý các
quỹ dự phòng chi trả.

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

11


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập



trường hợp mà độ trầm trọng của rủi ro quá lớn bởi vì khi xảy ra tổn thất, phí bảo
hiểm thu được không đủ để bù đắp và có thể đe dọa cả cộng đồng bảo hiểm.
1.1.4.1.3. Nguyên tắc phân chia rủi ro:
Muốn giảm nhẹ bớt trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cần phải tìm
cách chia sẻ rủi ro mà mình đã nhận cho các Nhà bảo hiểm khác, tránh tập trung rủi
ro quá mức. Nếu không, có thể làm cho khả năng đảm nhận của Nhà bảo hiểm bò
vượt quá, dẫn tới tình trạng không thể nào thực hiện được trách nhiệm bồi thường,
gây thiệt hại quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm. Trong trường hợp đó, Người
bảo hiểm có thể thực hiện các kỹ thuật phân chia rủi ro: Đồng bảo hiểm và Tái bảo
hiểm.
- Đồng bảo hiểm: là sự phân chia theo tỷ lệ cùng một rủi ro giữa những người
bảo hiểm với nhau. Mỗi nhà đồng bảo hiểm chấp nhận một phần trăm nào đó của
rủi ro, đổi lại họ chỉ được nhận một tỷ lệ tương ứng về phí bảo hiểm và cũng chỉ
phải chi trả một tỷ lệ bồi thường như thế.
- Tái bảo hiểm: Tái bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một công ty Bảo hiểm
(Người nhượng – Công ty Bảo hiểm gốc) chuyển cho một công ty Bảo hiểm khác
(Người nhận tái) một phần rủi ro mà công ty Bảo hiểm gốc đã chấp nhận đảm bảo.
1.1.4.2. Nguyên tắc trung thực tối đa:
Trong Bảo hiểm thương mại có sự hoán chuyển rủi ro từ Người được bảo hiểm
sang Người bảo hiểm trên cơ sở một Hợp đồng bảo hiểm. Điều này tạo ra rủi ro
mới đe dọa mối quan hệ giữa hai bên trên hợp đồng.
Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm: Người được bảo
hiểm phải đóng phí trước cho Nhà bảo hiểm để đổi lấy lời cam kết sẽ được bồi
Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

13


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập


Bảo hiểm nhân thọ sẽ đáp ứng một số nhu cầu nhất đònh của khách hàng.
Chẳng hạn hợp đồng bảo hiểm hưu trí cung cấp khoản tiền hàng năm cho khách
hàng khi đã về hưu; hoặc là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp vừa mang tính
đảm bảo vừa mang tính tiết kiệm sẽ chi trả một khoản tiền khi hợp đồng bảo hiểm
đáo hạn hoặc khách hàng bò thương tật, chết… theo nội dung cam kết trên hợp đồng.
1.1.5.2. Bảo hiểm phi nhân thọ:
Đây là các loại bảo hiểm thương mại khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ,
gồm:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
- Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
- Bảo hiểm hàng không…
Đặc điểm cơ bản của bảo hiểm phi nhân thọ là nhằm bồi thường cho những tổn
thất xảy ra trong phạm vi bảo hiểm. Khi sự kiện bảo hiểm không xảy ra, doanh
nghiệp bảo hiểm không hoàn phí lại cho bên mua bảo hiểm.

1.2. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ LĨNH VỰC BẢO HIỂM:
1.2.1. Tính tất yếu của quá trình toàn cầu hóa:
Trong lịch sử phát triển của xã hội lồi người, tồn cầu hố nói chung bắt nguồn từ
những giao lưu văn hóa, bn bán, di dân; từ sự mở rộng các tơn giáo ra ngồi biên
giới các quốc gia, và cho đến nay là sự phát triển của các cơng ty xun quốc gia, các
ngân hàng, công ty bảo hiểm, các tổ chức quốc tế, sự trao đổi cơng nghệ, sự phát triển
gắn với hiện đại hố… Tồn cầu hố kinh tế là kết quả của sự quốc tế hố sản xuất cao
độ và phân cơng quốc tế, nó xuất hiện và phát triển cùng với thị trường thế giới.

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

15



16


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Các cơng ty xun quốc gia phát triển chưa từng có trong lịch sử và đóng vai trò
hết sức quan trọng, nó thúc đẩy xu thế tồn cầu hố và khu vực hóa. Theo thống kê của
Liên hợp quốc, năm 1996, thế giới có 44.000 cơng ty xun quốc gia, trong đó 28.000
cơng ty con có tổng giá trị sản xuất chiếm 40% GDP thế giới, chiếm 50% giá trị
thương mại của thế giới. Tổng kim ngạch tài sản năm 1996 của các cơng ty xun quốc
gia này lên tới 3.200 tỷ USD. Hàng năm đầu tư trực tiếp ra nước ngồi của chúng
chiếm 90% đầu tư trực tiếp của thế giới.
Trong q trình tồn cầu hố và khu vực hố, nổi lên xu hướng liên kết kinh tế, dẫn
đến sự ra đời các tổ chức kinh tế và thương mại, tài chính quốc tế và khu vực. Đó là Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới
(WB), Liên minh Châu Âu (EU), Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Liên
minh các nước Đơng Nam á (ASEAN), Thị trường tự do Nam Mỹ Mercosur, Khối
cộng đồng kinh tế Tây Phi, và hàng chục tổ chức kinh tế khác ở khắp các châu lục.
Thơng qua các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế này, quy mơ lưu
thơng vốn quốc tế lớn chưa từng thấy, tốc độ tăng trưởng mậu dịch thế giới vượt xa tốc
độ tăng trưởng kinh tế; các lĩnh vực hợp tác trong tồn cầu hố kinh tế khơng ngừng
phát triển.
1.2.2.1.2. Nền kinh tế mới trong tồn cầu hố là nền kinh tế cơng nghệ cao – nền kinh
tế tri thức:
Cuối thế kỷ XIX, đã có nhiều phát minh khoa học, một cuộc cách mạng thực sự đã
diễn ra trong vật lý học: phát hiện ra tia Rơn-ghen (1895), hiện tượng phóng xạ (1896),
điện tử (1897), radium (1898)..., rồi đến những phát minh mới trong thế giới vi mơ
(ngun tử) và vĩ mơ (vũ trụ). Khoa học đã thu thập được một khối lượng khổng lồ
những tri thức về thế giới tự nhiên, tổng hợp lại ở các thuyết cơ bản như thuyết Lượng
tử và thuyết Tương đối…, tạo nền móng cho khoa học hiện nay. Theo tính tốn của

nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế, phát huy lợi thế của mình và hạn chế
những rủi ro, thách thức trong cuộc cạnh tranh quốc tế khốc liệt.
- Tồn cầu hố làm gia tăng các luồng chuyển giao vốn và cơng nghệ: Tồn cầu
hố làm gia tăng các hoạt động đầu tư quốc tế, chủ yếu là FDI, với những đặc điểm
chính là nguồn vốn đầu tư ngày càng tăng; chủ thể đầu tư và chủ thể thu hút đầu tư
Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

18


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

ngày càng đa dạng; lượng lưu động vốn cho vay tăng rất nhanh; tự do hố đầu tư trở
thành mục tiêu, chính sách đầu tư quốc tế của tất cả các nước. Tồn cầu hố thực hiện
chuyển giao trên quy mơ ngày càng lớn những thành tựu của khoa học cơng nghệ, tổ
chức, quản lý, kinh nghiệm kinh doanh, sản xuất cho các nước được đầu tư phát triển.
- Tồn cầu hố củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, thúc đẩy sự xích lại gần
nhau giữa các dân tộc: Cùng với sự phát triển của q trình tồn cầu hố, các thể chế
quốc tế ngày càng được tăng cường để đảm bảo điều tiết và quản lý các quan hệ quốc
tế. Tính đến nay, đã có khoảng 120 thể chế khu vực và tồn cầu. Hàng trăm tổ chức
quốc tế các loại, bao gồm các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ… đang hoạt động
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là những sản phẩm của tồn cầu hố, đồng
thời chúng có tác động làm cho q trình tồn cầu hố được tăng cường. Chính nhờ
tồn cầu hố liên kết các nước lại với nhau, làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nước về nhiều mặt, nên lợi ích của mỗi quốc gia gắn với lợi ích của nhiều quốc gia.
Hơn nữa, các thể chế quốc tế cũng ràng buộc lợi ích và nghĩa vụ của các quốc gia. Tất
cả những điều nói trên giúp hạn chế những hành vi dễ gây xung đột giữa các nước, góp
phần duy trì hồ bình và an ninh quốc tế.
1.2.2.3. Một số bất lợi của quá trình toàn cầu hóa:
- Tồn cầu hố mở rộng thêm khoảng cách giàu – nghèo trong từng nước và giữa

quả của thò trường thông qua việc cung cấp các dòch vụ khách hàng cao cấp, giới
thiệu sản phẩm mới và chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý. Các công ty nước
ngoài đóng góp vào việc tạo lập những chuẩn mực trong quản lý, đònh phí, quản trò
vốn... mà các nhà bảo hiểm trong nước có thể mô phỏng. Ngoài ra, các tổ chức bảo
hiểm nước ngoài còn giúp các cơ quan Nhà nước giám sát hoạt động kinh doanh
bảo hiểm hiệu quả hơn.
- Ba là, dưới quan điểm kinh tế học vó mô, mở cửa thò trường bảo hiểm có thể
khuyến khích tăng các khoản tiết kiệm trong nước và thu hẹp khoảng cách đầu tư
của các nước đang phát triển, tăng uy tín của ngành bảo hiểm nói chung. Thêm vào
Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

20


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

đó với tiềm lực tài chính lớn mạnh và khả năng phân tán rủi ro tốt , các công ty bảo
hiểm nước ngoài đề ra những phương hướng phát triển mới dựa trên kinh nghiệm
quốc tế và thực tiễn trong hoạt động.
1.2.3.2. Tác động của quá trình toàn cầu hóa đến lónh vực kinh doanh bảo hiểm:
1.2.3.2.1. Toàn cầu hóa góp phần xóa bỏ các rào cản, tăng cường khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong lónh vực kinh doanh bảo hiểm:
Có ba thuật ngữ tiếng Anh mà các nhà phân tích kinh tế hay dùng khi đề cập
đến quá trình xóa bỏ các rào cản từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ phạm vi hẹp
đến phạm vi rộng, đó là:
- Thứ nhất, “De-regulation”: Phi thể chế hóa, thuật ngữ này muốn đề cập đến
việc dỡ bỏ dần các quy đònh liên quan đến lónh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,
có thể là trong phạm vi một quốc gia, cũng có thể suy rộng ra trong phạm vi một
khu vực…
- Thứ hai, “Liberalization”: Tự do hóa, thuật ngữ này đề cập đến mức độ dỡ bỏ

do hóa chưa được tháo gỡ… Nhưng sau năm 1990, khi nền kinh tế thế giới bước vào
giai đoạn toàn cầu hóa… tức là các ngân hàng, công ty bảo hiểm có thể xâm nhập
vào các lónh vực khác nhau của nền kinh tế để thực hiện việc mở rộng các hoạt
động kinh doanh của mình (một mặt vừa đa dạng hóa sản phẩm nhằm nâng cao thu
nhập từ nhiều phía, mặt khác tránh bỏ trứng vào cùng một rổ để hạn chế rủi ro… )
như tiến hành liên doanh hay thành lập công ty chứng khoán để kinh doanh chứng
khoán… Nếu nói rộng hơn, các nhà bảo hiểm muốn hình thành cho mình một tập
đoàn tài chính đa năng.

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

22


Một số giải pháp phát triển dòch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Toàn cầu hoá góp phần xóa bỏ các rào cản trong lónh vực kinh doanh bảo hiểm
làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn giữa các ngành, các lónh vực
trên cơ sở thôn tính lẫn nhau, từ phạm vi một quốc gia, đến phạm vi khu vực và
toàn cầu. Do đó, nếu các công ty bảo hiểm không tiến hành “đa dạng hóa các sản
phẩm” tức là không tiến hành cải tổ toàn diện các mặt hoạt động của mình từ mô
hình tổ chức đến quản trò điều hành, đến mở rộng phạm vi điều lệ, hiện đại hóa
công nghệ, đặt văn phòng đại diện hoặc mở chi nhánh ở nước ngoài… thì khả năng
cạnh tranh chắc chắn sẽ bò thu hẹp vì mức độ lấn át trong nội bộ ngành và ngoài
ngành ngày một rộng ra. Ngược lại, nếu nhận thấy đây là một vấn đề sống còn thì
khả năng cạnh tranh sẽ được mở rộng.
1.2.3.2.2. Toàn cầu hóa thúc đẩy các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước xây dựng
thương hiệu mạnh:
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập thì thương hiệu thực
sự quan trọng. Cụ thể: Thương hiệu nước giải khát coca-cola (Mỹ) được đònh giá là

hiểm để nó có cơ hội phát triển một cách khỏe mạnh. Tuy nhiên, WTO không yêu
cầu việc tự do hóa ngành bảo hiểm tức thời và hoàn thiện. Thời kỳ chuyển đổi được
kết hợp dần dần, các vòng đàm phán được tiến hành theo lòch trình để cho các nhà
bảo hiểm trong nước có thời gian thích nghi với tình huống mới.
- Hai là, một mối quan tâm khác là khi tự do hóa, các công ty bảo hiểm nước
ngoài có thể chiếm những loại hình bảo hiểm đem lại nhiều lợi nhuận, để lại cho
công ty trong nước những loại hình kém hấp dẫn hơn và thông thường, khi đã tự do
hóa rồi thì chính sách bảo hộ không còn nữa. Lúc này sản phẩm của các công ty

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế – Phan Hồ Trung Phong

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status