Nghiên cứu độ bão hòa oxy mạch trong chẩn đoán bệnh tủy răng và theo dõi chấn thương răng - Pdf 14

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
LÊ HỒNG VÂN
NGHIÊN CỨU ÐỘ BÃO HÒA OXY MẠCH
TRONG CHẨN ÐOÁN BỆNH TỦY RĂNG
VÀ THEO DÕI CHẤN THƯƠNG RĂNG
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Mã số: 62720601
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Trịnh Đình Hải
TS. Lê Thu Hà
HÀ NỘI- 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nào khác.
Hà Nội, tháng 5năm 2014
Lê Hồng Vân
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư, Tiến sỹ Trịnh
Đình Hải, giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt trung ương Hà Nội, người thầy
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
luận án này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Lê Thu Hà,chủ nhiệm
Khoa Răng Miệng, Bệnh viên trung ương quân đội 108, người đã luôn động
viên giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận án.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Phó giáo sư, Tiến sỹ Lê Đình Roanh, người

(American Association of Endodontists)
CĐDĐ Cường độ dòng điện
CĐLS Chẩn đoán lâm sàng
CS Cộng sự
ĐBHO Độ bão hòa oxy
Dt Dẫn theo
HE Hematoxylin Eosin
RHN Răng hàm nhỏ
TB ± ĐLC Trung bình ± Độ lệch chuẩn
THT Tủy hoại tử
VTC Viêm tủy cấp tính
VTHP Viêm tủy hồi phục
VTKHP Viêm tủy không hồi phục
VTM Viêm tủy mạn tính
XH Xung huyết
6
DANH MỤC BẢNG
7
DANH MỤC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tủy răng là một trong những bệnh hay gặp trên lâm sàng, chiếm trên
65% các nguyên nhân gây đau vùng mặt[30], [70].Diễn biến lâm sàng bệnh lý
tủy đa dạng do mô tủy nằm trong một buồng cứng, do đó, hiện tượng tăng thể
tích và áp lực mô trong viêm gây ra những thay đổi sinh lý bệnh và mô bệnh
họctương đối phức tạp [106]. Quy trình chẩn đoán bệnh tuỷ răng không chỉ dựa
trên các dấu hiệu lâm sàng, X quang mà còn bao gồm các nghiệm pháp đánh giá
chức năng sống của mô tuỷ[6], [102].Các nghiệm phápthử tuỷ truyền thống như
thử nhiệt, thử điện, thử cơ học đều dựa trên đáp ứng dẫn truyền cảm giác, được
gọi là các thử nghiệm nhạy cảm tủy.Tuy nhiên, chức năng dẫn truyền cảm giác

dựa trên dấu hiệu lâm sàng để đối chứng độ chính xác của chẩn đoán nên vẫn
còn nhiều hạn chế.
Ở Việt Nam hiện nay, chẩn đoán bệnh lý tủy vẫn dựa chủ yếu vào kinh
nghiệm lâm sàng và một số nghiệm phápthử tủy đơn giản như thử lạnh, thậm chí
những phương pháp có độ tin cậy cao hơn như thử điện cũng còn ít được áp
dụng,do đó, các răng được chỉ định lấy tủy toàn bộ, đặc biệt là các răng sau chấn
thương chiếm tỷ lệ rất cao. Những nghiên cứu nội nha trong nước hiện nay chủ
yếu đi sâu vào hình thái hệ thống ống tủy và các phương pháp điều trị với những
hệ thống dụng cụ mới, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu phương
pháp thăm dò chức năng trong chẩn đoán. Vì vậy, việc nghiên cứu ứng dụng
một phương pháp chẩn đoán mới với độ chính xác cao có đối chứng với tiêu
chuẩn mô bệnh học là rất cần thiếtnhằm tăng tỷ lệ răng được bảo tồn tủy.Chính
vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài Nghiên cứu độ bão hòa oxy mạch trong chẩn
đoán bệnh tủy răng và theo dõi chấn thương răng nhằm các mục tiêu sau:
1. Đánh giá giá trị của phương pháp đo độ bão hòa oxy mạch trong chẩn
đoán bệnh tủy răng.
2. Xác định sự thay đổi chức năng dẫn truyền cảm giác và tuần hoàn tủy
răng sau chấn thương nhằm đề xuấttiêu chuẩn chẩn đoán và chỉ định
điều trị tuỷ.
Chương 1
10
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1Cấu trúc và chức năng của phức hợp tủy- ngà
Tủy răng là mô mềm có nguồn gốc trung mô với những tế bào đặc biệt là
nguyên bào tạo ngà, sắp xếp ở ngoại vi tủy răng. Nguyên bào tạo ngà tiếp xúc
trực tiếp với chất cơ bản ngà, tạo nên mối liên quan chặt chẽ với ngà răng trong
các chức năng sinh lý và những phản ứng với tác nhân gây bệnh. Đơn vị chức
năng quan trọng nhất cuả răng được Goldberg gọi là “phức hợp tủy ngà”, tham
gia vào các chức năng sinh lý của mô tủy [35],[67].
1.1.1.Cấu trúc của phức hợp tủy- ngà

tâm ra ngoại vi bị chặn lại bởi men răng ở thân răng và cement ở chân răng. Áp
11
lực mô trung bình của tủy răng đo được là 11mm Hg. Do vậy, luôn luôn tồn tại
dốc chênh lệch áp lực giữa mô tủy và khoang miệng dẫn đến hiện tượng dòng
dịch chảy về phía ngoại vi khi có hở ống ngà. Sự thay đổi tốc độ lưu chuyển
dịch ngà được cho là nguyên nhân của nhạy cảm ngà [16]. Tốc độ lưu chuyển
sinh lý của dịch ngà ra ngoại vi là 0,02ml/giây/mm
2
. Khi tốc độ này tăng lên 1-
1,5ml/giây/mm
2
, các đầu nhận cảm thần kinh bắt đầu bị kích thích [71].
Tính thấm ngà răng
Tính thẩm thấu là đặc điểm nổi bật của ngà răng. Ống ngà là các kênh
chính cho sự khuếch tán vật chất qua ngà.Tính thấm của ngà tỷ lệ thuận với số
lượng và kích thước ống ngà.Mật độ ống ngà chiếm khoảng 1% ở lớp bề mặt
ngà gần sát đường ranh giới men ngà, tăng lên tới 45% ở vùng ngà sát tủy.
Các yếu tố làm thay đổi tính thấm ngà răng bao gồm sự có mặt của nhánh
bào tương của nguyên bào tạo ngà và lá đáy chạy suốt dọc ống ngà. Phần lớn
các ống ngà đều chứa các sợi collagen. Đường kính chức năng của ống ngà chỉ
khoảng 5% đến 10% đường kính giải phẫu, đủ nhỏ để loại trừ vi khuẩn khỏi
dịch ngà.
Trong tổn thương sâu răng, phản ứng viêm xảy ra suốt dọc mô tủy trước
khi tủy răng bị vi khuẩn xâm nhập thực sự [14], [112]. Năm 2000, Bergenholtz
đã chứng minh rằng đáp ứng viêm sớm là do sự tích tụ của kháng nguyên và các
sản phẩm chuyển hóa của vi khuẩn chứ không phải do nhiễm khuẩn [12]. Quá
trình hình thành ngà xơ cứng (hình thành ngà sửa chữa) làm giảm tính thấm của
ngà răng do bít tắc ống ngà, làm giảm sự lưu chuyển các yếu tố kích thích về
phía tủy [86], [87].
Năm 1995, Nagaoka và CS đã nghiên cứu sự xâm nhập của vi khuẩn vào

của nguyên bào xơ đi qua vùng này. Sự tồn tại của vùng nghèo tế bào phụ thuộc
vào tình trạng của tủy răng, có thể không thấy rõ ở răng người trẻ khi ngà răng
hình thành rất nhanh hoặc ở người già khi ngà sửa chữa được tạo ra nhiều [67].
13
A B
Hình 1.1: (A): Các vùng mô học của tủy răng; (B): Lưới thần kinh Raschkow [67]
(2) Vùng giàu tế bào
Tiếp trong của vùng nghèo tế bào là một lớp chứa nhiều nguyên bào xơ so
với các vùng khác của tủy răng, ngoài ra còn có những tế bào miễn dịch như đại
thực bào, tế bào có tua được biệt hóa từ tế bào mầm trung mô.
Gotjamanos cho rằng vùng giàu tế bào được hình thành do sự di cư ra
ngoại vi của các tế bào ở trung tâm tủy răng, bắt đầu từ thời điểm răng mọc [40].
Sự di cư của các tế bào miễn dịch từ trung tâm ra ngoại vi vào vùng giàu tế bào
được giải thích là kết quả của quá trình sinh kháng thể [73], [74], [123].
(3) Vùng tủy
Vùng tủy là khối mô trung tâm tủy răng bao gồm mô liên kết lỏng lẻo
chứa các mạch máu và nhánh thần kinh lớn. Tế bào nổi bật ở vùng này là
nguyên bào xơ[67].
Đặc điểm chuyển hóa của mô tủy
Hoạt động chuyển hóa của tủy răng đã được nghiên cứu bằng phương
pháp đo mức oxy tiêu thụ, lượng CO
2
và axit lactic sản sinh sau chuyển hóa
[31]. Năm 2002, Yu và CS đã nghiên cứu mức độ tiêu thụ oxy của tủy răng bằng
vi điện cực đã thấy các nguyên bào tạo ngà là những tế bào tiêu thụ oxy nhiều
nhất với mức đo được là 3,2±0,2ml/phút/100g mô tủy [120].
Sợi thần kinh
Vùng nghèo tế bào
Vùng giàu tế bào
Ngà răng

tiêu thụ oxy nhiều nhất.
Huyết động học tủy răng đã đượcKramer nghiên cứu năm 1976 và tiếp
sau đó là nghiên cứu của Takahashi năm1980. Các tác giả đã thấy nhiều đường
nối thông động - tĩnh mạch ở mô tủy có kích thước khoảng 10µm, đặc biệt nhiều
ở tủy chân. Những nhánh nối thông động - tĩnh mạch này được giả thuyết là có
vai trò điều hòa hệ thống tuần hoàn tủy răng. Các tác giả cũng cho rằng, sự lưu
chuyển dòng máu qua những nhánh này còn là cơ chế bảo vệ khi có tổn thương
vi tuần hoàn với hiện tượng nghẽn mạch và xung huyếtdt[105].
Năm 1992, Vongsavan đã nghiên cứu hệ tuần hoàn tủy răng thấy mật độ
mao mạch ở tủy răng lên tới 1400/1mm
2
mô, cao hơn rất nhiều lần so với các
mô khác của cơ thể. Tuy nhiên, so với những mô khác vùng miệng, tủy răng có
thể tích máu lớn nhưng lưu lượng máu lại thấp nên nhịp độ hô hấp của tế bào
tủy thấpdt[67].
Hoạt động điều hòa lưu lượng máu của tủy răng do các sợi thần kinh giao
cảm không myelin trên thành tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch kiểm soát.Theo
kết quả của một số nghiên cứu về sinh lý học thần kinh, kích thích điện tạo nên
các xung trên các sợi thần kinh giao cảm, có tác dụng làm giảm lưu lượng máu
trong tủy. Sự hoạt hóa thụ thể α- adrenergic do tác dụng của epinephrine trong
dung dịch gây tê tại chỗ cũng gây giảm lưu lượng máu tủy răng[67], [105].
Áp lực mô tủy và vùng gian mạch thấp, trung bình là 6mm Hg, trong khi
áp lực tiểu động mạch, lưới mao mạch và tiểu tĩnh mạch lần lượt là 43, 35 và
19mm Hg. Một số nghiên cứu gần đây cho rằng hằng số sinh lý của áp lực nội
tủy là 11mmHg. Theo Van Hassel, áp lực nội tủy tăng đến 13 mmHg sẽ gây ra
tình trạng viêm tủy hồi phục, khi áp lực này tăng trên mức 35mmHg, tủy sẽ
chuyển sang tình trạng viêm tủy không hồi phụcdt[105].
Hệ bạch mạch của tủy răng rất khó phân biệt với hệ tĩnh mạch, có thể biệt
hóa từ các động mạch, có chức năng lưu chuyển dịch, làm giảm áp lực nội tủy
trong viêm tủy giai đoạn sớm, tham gia vào quá trình hồi phục mô tủy

hiện muộn của sợi A giải thích tại sao thử điện ít có giá trị đối với răng chưa
đóng kín cuống [67].
Sợi A- δ có đường kính nhỏ nên tốc độ dẫn truyền chậm hơn so với các
sợi A khác nhưng nhanh hơn so với sợi C. Sợi A dẫn truyền kích thích trực tiếp
17
lên đồi thị, tạo ra cảm giác buốt, dễ khu trú. Các dẫn truyền qua sợi C phụ thuộc
nhiều vào nơron trung gian trước khi tới đồi thị, thường dẫn truyền cảm giác đau
sâu, âm ỉ và lan tỏa [67].
Thụ thể của sợi A đáp ứng với rất nhiều các kích thích khác nhau như
khoan, thăm khám bằng thám châm, các dung dịch ưu trương qua hiệu ứng thủy
động học. Hiệu ứng này phụ thuộc vào sự lưu chuyển dịch trong ống ngà đối với
các kích thích khác nhau.Hiện tượng này được gọi là thuyết thủy động học của
Brannstrom. Theo Brannstrom, dịch trong ống ngà đi từ dịch gian bào của mô
liên kết tủy, có tính chất và thành phần giống hoạt dịch hoặc dịch não tủy. Sự
lưu chuyển dịch ngà tuân theo quy luật vật lý. Sự thay đổi dòng lưu chuyển dịch
ngà xảy ra trên hàng ngàn ống ngà tạo ra sự thay đổi đáng kể trong dịch gian bào
của mô tủy. Sự lưu chuyển dịch về phía tủy hoặc ra phía ngoại vi gây nên sự
biến đổi cơ học trên sợi thần kinh ngưỡng thấp A-δ trong lòng ống ngà hoặc mô
tủy gần kề. Dòng dịch này cũng có thể đồng thời gây ra chuyển động của các
nguyên bào tạo ngà, gây ra sự thay đổi cấu trúc của những sợi thần kinh tiếp xúc
với nhánh bào tương hoặc thân nguyên bào tạo ngà.Màng tế bào thần kinh biến
dạng làm thay đổi tính thấm với ion Na
+
. Những thay đổi do dòng dịch chuyển
về phía tủy này sẽ làm khử cực của các sợi A-δ và khởi phát triệu chứng
đaudt[105]. Những kích thích hút dịch ngà ra phía ngoại vi làm thay đổi áp lực
mô và kéo căng nguyên bào tạo ngà và các sợi thần kinh và gây đau. Trong giai
đoạn đầu của kích thích, các sợi A-δ ngưỡng thấp sẽ bị tổn thương và gây
đau.Nếu các kích thích kéo dài, ảnh hưởng của mô tủy sẽ gây cơn đau sâu kéo
dài do hoạt hóa các sợi C ngưỡng cao [5], [17], [105].

sợi này không hoạt động được trong môi trường thiếu oxy.
- Thử nóng không kiểm soát được nhiệt sẽ dẫn tổn thương tủy, giải phóng các
chất trung gian hóa học gây kích thích sợi C [5].
19
Bảng 1.1: Đáp ứng kích thích của các sợi thần kinh tủy răng[67]
Kích thích A-δ (ngưỡng thấp) C (ngưỡng cao)
Thay đổi áp lực nội tủy
Ép thần kinh tức thì
Ép thần kinh kéo dài
Đáp ứng tăng
Đáp ứng giảm
(nghẽn xung đau)
Đáp ứng tăng
Chịu được sự tăng áp lực
Nghiệm pháp thử tủy
Kích thích điện
Kích thích lạnh
Kích thích nóng nhanh
(hai pha đáp ứng)
Kích thích nóng kéo dài
Dương tính nhanh
Dương tính nhanh
Đáp ứng ngay: đáp ứng sớm
(buốt, khu trú)
Âm tính
Âm tính (trừ cường độ lớn)
Âm tính
Đáp ứng muộn: đáp ứng thứ
phát
(âm ỉ, lan tỏa)

đáp ứng viêm và miễn dịch của các thành phần tế bào trong mô tủy [67].
20
1.2. Thay đổi bệnh lý trong bệnh tủy răng
1.2.1. Đáp ứng viêm của mô tủy
Phản ứng viêm trong tuỷ răng về cơ bản cũng tương tự như các quá trình
viêm tấy khác ở các cơ quan trong cơ thể, tuy nhiên một số nhân tố đặc biệt tạo
ra sự khác biệt của viêm tuỷ răng đó là đặc tính của tổn thương, hiệu quả của cơ
chế miễn dịch và vị trí giải phẫu đặc biệt của tuỷ răng [18].
1.2.1.1. Đặc điểm đáp ứng viêm của mô tủy
Những thay đổi trong mô chống lại các tác nhân có hại bao gồm sự thay
đổi và phối hợp của hệ mạch, hệ thần kinh, các tế bào và đáp ứng dịch thể.
Giai đoạn đầu của đáp ứng viêm (giai đoạn cấp- giai đoạn dịch rỉ viêm) là
đáp ứng tức thì của mô tủy với kích thích.Phản ứng cấp này nhằm trung hòa các
tác nhân gây viêm, đặc trưng bởi hiện tượng tiết dịch rỉ viêm (phù viêm) nhằm
hòa loãng và giải độc nhờ vai trò của bạch cầu, trong giai đoạn này chủ yếu là
bạch cầu đa nhân trung tính.
Giai đoạn tăng sinh (mạn tính) là đáp ứng viêm muộn. Quá trình viêm có
chuyển sang giai đoạn tăng sinh hay không phụ thuộc vào khả năng làm giảm
độc tính của các kích thích. Đó là sự cố gắng của mô tủy hình thành các nguyên
bào tạo xơ, mạch máu tân sinh và hệ thống sợi. Những sợi thần kinh của mô tủy
và mô quanh cuống răng tăng sinh trong đáp ứng viêm ở giai đoạn cấp. Hiện
tượng này xảy ra ở ngay cạnh vùng tủy tiếp xúc với kích thích.Những thành
phần này sẽ cấu trúc nên mô hạt với chức năng sửa chữa và thay thế các mô đã
tổn thương.
Theo Fish và MacLean, cả hai giai đoạn cấp tính và mạn tính đều có thể
cùng tồn tại trong mô tủy viêm mặc dù tổn thương viêm mạn thường xảy ra sau
và ở vùng ngoại vi của mô tủydt[32], [105].
Hậu quả của đáp ứng viêm làm tăng tính thấm ống ngà, rối loạn màng tủy
ngà, tổn thương không hồi phục nguyên bào tạo ngà và thay đổi cấu trúc, huyết
động vùng nguyên bào tạo ngà và dưới nguyên bào tạo ngà. Khayat và một số

chuyển máu.
Một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy, hiện tượng tăng áp lực nội tủy làm
tăng cường khả năng hấp thu dịch mô ngược trở lại mạch máu và bạch mạch, do
đó áp lực nội tủy giảm xuống [44]. Nghiên cứu này cũng giải thích vì sao áp lực
nội tủy trong mô viêm có thể kéo dài tại chỗ, trái ngược với các khái niệm trước
đây về sự phá hủy toàn bộ tiểu tĩnh mạch và ngừng trệ hoàn toàn hệ thống tuần
hoàn được gọi là ”thuyết bóp nghẹt tủy răng”[110]. Do đó, giai đoạn viêm tủy
hồi phục kéo dài hơn.
22
Viêm cấp của tủy răng gây tăng ngay lập tức dòng máu và có thể đạt đến
gần 200% dòng chảy bình thường, theo sau là tăng tính thấm thành mạch. Hậu
quả phổ biến của viêm tủy răng là sự phát sinh hoại tử mô. Một nghiên cứu đã
tìm thấy rối loạn chức năng tuần hoàn phát sinh trong tủy sau khi phơi nhiễm
với lipopolysaccharid từ các vi khuẩn gram âm [15].
Tính thấm mạch máu
Tính thấm mạch máu tăng xảy ra trong viêm cấp và sự rò rỉ mạch máu đã
được chứng minh trong tủy sau khi giải phóng các chất trung gian của viêm,
chẳng hạn như prostaglandin, histamin, bradykinin và các neuropeptid, chất
P[57], [59], [68].
Áp lực tăng trong tủy liên quan tới dịch viêm và có thể gây nên sự nghẽn
mạch khu trú của hệ thống tuần hoàn tĩnh mạch. Điều đó dẫn tới tình trạng thiếu
oxy cục bộ mà sau đó có thể dẫn tới tình trạng hoại tử cục bộ. Những tác nhân
hóa học từ các tổ chức hoại tử đó dẫn tới hiện tượng phù nề và viêm lan rộng và
tổn thương cuối cùng là hoại tử toàn bộ tuỷ răng[67].
1.2.1.4. Đáp ứng miễn dịch trong viêm tủy
Có sáu yếu tố tham gia vào quá trình miễn dịch tủy răng.
Dịch ngà lưu chuyển ra ngoại vi do tăng áp lực nội tủy là cơ chế bảo vệ có
tác dụng ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn, giảm độc tố và các chất trung gian
hóa học xâm nhập vào mô tủy. Thành phần dịch ngà chủ yếu là protein và các
globulin miễn dịch, được chứng minh là có nguồn gốc huyết tương.Chức năng

hút các tế bào có tua chưa trưởng thành và các tế bào T nhớ trong quá trình
nhiễm khuẩn[42].
1.2.2. Thay đổi bệnh lý trong từng thể bệnh
1.2.2.1. Phân loại bệnh tủy răng theo lâm sàng- mô bệnh học
Có rất nhiều cách phân loại bệnh tủy răng: phân loại theo triệu chứng lâm
sàng, theo mô bệnh học, theo cách thức điều trị trong đó phân loại theo lâm sàng
- mô bệnh học liên quan chặt chẽ đến thay đổi sinh lý bệnh và mô bệnh học của
mô tủy[105].
- Viêm tuỷ:
* Nhạy cảm tuỷ
- Ngà nhạy cảm
- Xung huyết tuỷ
* Viêm tuỷ đau (viêm tủy không hồi phục)
- Viêm tuỷ cấp
- Viêm tuỷ mạn tính
* Viêm tuỷ không đau
24
- Tuỷ loét mạn tính do sâu răng
- Viêm tuỷ mạn kín không có lỗ sâu
- Viêm tuỷ phì đại mạn tính hay còn gọi là polip tuỷ
- Các thay đối bệnh lý khác:
* Tuỷ hoại tử là hậu quả của viêm hoặc thoái hoá tuỷ
* Thoái hoá tuỷ
- Teo và xơ hoá
- Canxi hoá thiểu dưỡng (thoái hoá dạng canxi)
1.2.2.2. Nhạy cảm tủy
Đặc điểm nổi bật là đáp ứng viêm của mô liên kết phía dưới mô ngà trong
giai đoạn sớm của quá trình viêm, kích thích các sợi thần kinh ngoại vi A-δ.
Thời điểm chuyển từ tổn thương viêm tuỷ có hồi phục sang viêm tuỷ
không hồi phục chỉ có tính chất suy đoán, chủ yếu vào việc đánh giá bệnh sử và

Viêm tủy có triệu chứng là tình trạng viêm tủy không hồi phục với áp lực
dịch rỉ viêm lớn vượt quá ngưỡng của các thụ thể nhận cảm đau.Các nghiên cứu
cho thấy rằng rất khó phân biệt giữa các giai đoạn viêm tủy không hồi phục như
giai đoạn viêm trầm trọng, viêm mủ hoặc giai đoạn phối hợp.Viêm tủy có triệu
chứng gồm hai thể:
- Viêm tủy cấp tính
Viêm tủy cấp tính là tình trạng viêm tủy không hồi phục với đặc tính nổi
bật là hiện tượng thoát dịch rỉ viêm. Đặc điểm mô bệnh học bao gồm: giãn
mạch, thoát dịch rỉ viêm dẫn đến hiện tượng phù viêm, bạch cầu thoát mạch và
hình thành các ổ áp xe nhỏ.
- Viêm tủy mạn tính đau
Viêm tủy mạn tính đau là giai đoạn tăng nhẹ phản ứng viêm của một viêm
tủy mạn tính. Hiện tượng giãn mạch kéo dài và ứ máu mao mạch ở vùng xung
huyết tủy sát với vùng ống ngà nhiễm khuẩn làm tăng tính thấm thành mạch và
gây ra thoát protein . Dịch rỉ viêm, bạch cầu thoát mạch và hình thành áp xe làm
áp lực nội tủy tăng quá ngưỡng của các thụ thể nhận cảm đau. Áp lực nội tủy
tăng sẽ gây nên cơn đau theo nhịp mạch đập. Khi áp lực nội tủy tăng trên
ngưỡng, các cơn đau sẽ xảy ra liên tiếp dẫn đến triệu chứng đau liên tục. Hậu
quả của sự tăng quá ngưỡng áp lực nội tủy là sự phá hủy lớp nguyên bào ngà và
lớp tiền ngà.Tốc độ tuần hoàn chậm gây ra ứ máu và nghẽn mạch.Các tế bào mô
tại chỗ thiếu oxy và chất dinh dưỡng, hình thành vùng hoại tử. Bạch cầu đa nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status