nghiên cứu giá trị của siêu âm trong chấn thương màng phổi và phổi - Pdf 23

T VN
Chn thng ngc (CTN) l mt nhúm cp cu ngoi khoa thng gp,
gõy nh hng trc tip n b mỏy hụ hp v tun hon nờn cú th nhanh
chúng dn n t vong [1]. CTN l mt cp cu u tiờn s 1 trong chn oỏn,
vn chuyn v x lớ. L nguyờn nhõn hng u gõy t vong sau chn thng
s v chn thng ty sng. CTN cú th gp bt k a phng no Vit
Nam cng nh trờn th gii. Vớ d nh M, t l CTN l 12 ca/1 triu dõn,
trong ú cú 4 ca phi iu tr ti bnh vin; riờng nm 1985 cú 94.000 nn
nhõn cht do tai nn giao thụng cú 45 50% liờn quan n CTN. Trong bỏo
cỏo ca Hi ng an ton quc gia M (2002) thy t l t vong do CTN
chim 35% cỏc t do chn thng kớn [10]. Ti Vit Nam, theo nghiờn cu
ca Nguyn Hu c v cs, trong vũng 30 thỏng, t thỏng 1/2004 n thỏng
6/2006, Bnh vin Vit c ó iu tr phu thut cho 703 bnh nhõn b chn
thng ngc [15]. Ti bờnh vin Nhõn dõn Gia nh TP.HCM t 2001 n
2004, ó iu tr cho 302 trng hp chn thng v vt thng ngc [2].
CTN bao gm 2 nhúm tn thng chớnh l chn thng ngc kớn
(CTNK) v vt thng ngc. Chấn thơng ngực kín là những chấn thơng do
một vật từ đập mạnh vào lồng ngực gây tổn thơng ở thành ngực hoặc các cơ
quan trong lồng ngực nhng không làm rách da và các tổ chức phần mềm bao
quanh lồng ngực, tức là khoang màng phổi không thông thơng với không khí
bên ngoài.
Vết thơng ngực hay vết thơng ngực hở là chấn thơng vào thành ngực gây
thủng thành ngực, tức là khoang màng phổi bị thông thơng với không khí bên
ngoài Mi nhúm li cú nhiu th bnh vi tờn gi khỏc nhau, nh trong CTNK
hay gp: trn mỏu trn khớ khoang mng phi, trn khớ mng phi, ng dp
nhu mụ phi, mng sn cũn trong vt thng thu ngc chia lm hai loi
vt thng ngc h (VTNH) v vt thng ngc kớn (VTNK) gm cỏc th:
1
vết thương ngực đơn thuần, vết thương tim, vết thương ngực bụng [1], [9],
[10]. Nguyên nhân chủ yếu gây CTN là tai nạn giao thông, lao động (ngã cao,
tường đổ…) hoặc tai nạn sinh hoạt ( bị đánh, bị chém, đạn bắn, ngã cầu

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU LỒNG NGỰC
Lồng ngực là phần cơ thể nằm giữa cổ và bụng. Giới hạn trên lồng ngực
gồm có bờ trên đốt sống ngực 1 ở sau, bờ trên cán ức ở trước, cùng với hai
xương - sụn sườn 1 ở hai bên. Giới hạn dưới là cơ hoành [4].
Hình 1.1. Giải phẫu lồng ngực [8]
1.1.1. Thành ngực
1.1.1.1.Cơ và da thành ngực
Các cơ thành ngực với các lớp cơ nằm thành 3 lớp bao xung quanh lồng
ngực gồm: các cơ ngực lớn, ngực bé, các cơ gian sườn, cơ dựng cột sống
Các cơ này cùng với khung xương lồng ngực tạo nên thành ngực bảo vệ các
4
cơ quan quan trọng như phổi, tim …. Các cơ còn góp phần vào chức năng hô
hấp. [3], [4], [8], [12].
1.1.1.2.Khung xương cứng
Khung xương cứng của thành ngực gồm xương ức ở phía trước, cột
sống ở phía sau, nối với nhau bằng các xương sườn. Giữa các xương sườn có cơ
và bó mạch liên sườn, phía ngoài xương sườn có các cơ và da che phủ, sát mặt
trong có lá thành màng phổi. Sự phối hợp co dãn của các cơ hô hấp và dây chằng
bám vào khung xương làm thành ngực có tính đàn hồi [3], [8], [12].
Trong CTN, phải có lực tác động mạnh mới làm gẫy được khung xương
cứng để gây tổn thương vào bên trong lồng ngực. Khi gãy xương sườn thì rất
dễ làm rách lá thành màng phổi làm máu từ ổ gãy xương chảy vào khoang
màng phổi. Mặt khác nếu tổn thương co vật nhọn (dao, kéo) đâm xuyên qua
thành ngực thì có nguy cơ gây vết thương bó mạch liên sườn làm chảy máu
nhiều vào khoang màng phổi [10].
1.1.1.3. Cơ hoành
Là một cơ lớn ngăn cách giữa ngực – bụng. Bên phải cao hơn trái từ 0,5
– 1,5 cm. Đỉnh vòm hoành lên đến khoang liên sườn 5 đường nách giữa [3],

tự cầm vì thế thường gây tràn máu khoang màng phổi, thậm chí có máu cục
trong khoang màng phổi khi chảy máu nhiều do tổn thương các mạch máu lớn
trong trung thất hay tổn thương động mạch liên sườn và động mạch ngực trong.
Nhu mô phổi mềm, xốp như bọt biển và co dãn rất mạnh theo nhịp thở,
nên không tự giữ được hình thể, hơn nữa lại có nhiều sợi đàn hồi làm phổi có
xu hướng co nhỏ lại rốn phổi, thể hiện rõ trong các tổn thương cấu trúc
khoang màng phổi của CTN.
6
1.1.2.2. Màng phổi và khoang màng phổi:
Màng phổi là một bao thanh mạc bao bọc xung quanh phổi, gồm hai lá là
lá thành và lá tạng, được tiếp nối với nhau tại rốn phổi. Lá thành áp sát toàn
bộ mặt trong thành ngực (chỉ ngăn cách bằng một lớp mô liên kết mỏng gọi là
mạc nội ngực), dính chặt vào mặt trên cơ hoành và phủ lên thành bên của
trung thất. Lá tạng bao bọc xung quanh bề mặt phổi (trừ rốn phổi), mặt ngoài
nhẵn bóng và nằm áp sát vào lá thành tạo nên khoang màng phổi, ở giữa có
thấm thanh dịch giúp cho sự cọ sát giữa hai lá được dễ dàng khi thở. Lá tạng
cũng lách vào các khe liên thùy làm ngăn cách các thùy với nhau, ở mặt trong
dính chặt vào phổi đến nỗi khi tách ra sẽ làm tổn thương nhu mô phổi. Ở vùng
đỉnh phổi, màng phổi được giữ tại chỗ bằng các dây chằng treo đỉnh màng
phổi, đến từ đốt sống và xương sườn lân cận.
Khoang màng phổi là một khoang ảo, 2 lá màng phổi tuy áp sát nhau
nhưng vẫn dễ dàng trượt lên nhau giúp cho nhu mô phổi nở ra và co lại theo
nhịp hô hấp. Nhưng khoang màng phổi có một đặc điểm quan trọng là có áp
lực âm tính hơn áp lực của khí quyển và thay đổi theo động tác thở, khi thở
vào có áp lực từ -10 đến -6mmHg, khi thở ra từ -4 đến -2 mmHg. Nhờ áp lực
âm tính của khoang màng phổi mà lá tạng luôn được kéo sát vào lá thành,
giúp nhu mô phổi luôn được căng phồng và nở ra đến sát thành ngực. Hai
khoang màng phổi tuy hoàn toàn cách biệt nhau, nhưng có áp lực âm tính như
nhau, nên hai nửa lồng ngực luôn ở trạng thái cân bằng.
Trong CTN, khi có tràn máu hay tràn khí khoang màng phổi, chúng

tổ chức tế bào lỏng lẻo, nên khi chấn thương rất dễ tụ máu, thậm chí cả tràn
khí trung thất, nên số lượng nhiều sẽ gây chè ép vào cơ quan trung thất, nhất
8
là cản trở máu tĩnh mạch trở về tim. Việc nắm chắc phân bố giải phẫu các cơ
quan trong trung thất có ý nghĩa gợi ý tổn thương rất tốt trong CTN, khi dựa
vào vị trí chấn thương – vết thương trên thành ngực, ví dụ như vết thương vào
vùng nguy hiểm của tim gợi ý vết thương tim, Mặt khác do cấu trúc là các mô
mềm, nên trung thất dễ bị đẩy hoặc bị kéo khỏi vị trí bình thông thường, thậm
chí lắc lư trong CTN, khi có sự mất cân bằng áp lực giữa hai bên màng phổi
[3], [4], [12].
1.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HÔ HẤP :
Hoạt động hít vào – thở ra nhờ vào các cơ hô hấp, tính đàn hồi của
ngực – phổi, và dựa trên nguyên lý không khí đi từ nơi áp suất cao đến nơi áp
suất thấp. Áp suất trong phế nang luôn gần bằng áp suất khí quyển. Bình
thường, cơ hoành đảm bảo 70 % dung tích hô hấp. Cụ thể:
Thì hít vào, lồng ngực chủ động dãn ra, kéo theo nhu mô phổi nở, làm
dãn và giảm áp suất trong các phế nang, không khí tự vào phổi do chênh áp
với áp xuất khí quyển. Lồng ngực dãn ra theo ba chiều:
Chiều thẳng đứng: do cơ hoành co thẳng ra làm tăng chiều cao của lồng
ngực. Bình thường cơ hoành hạ xuống khoảng 1,5cm, nhưng hít vào gắng sức
thì nó có thể thay đổi tới 7 - 8cm.
Chiều ngang và chiều trước sau: sự co cơ ở thành ngực làm các xương
sườn từ tư thế chếch xuống chuyển sang nằm ngang, dẫn đến tăng thể tích
trước sau và ngang của lồng ngực. Cơ liên sườn là cơ quan trọng nhất tham
gia vào cơ chế này. Khi hít vào gắng sức, thì có thêm một số các cơ khác tham
gia vào như cơ ức đòn chũm, cơ ngực to.
Ngược lại, thì thở ra là một thì thụ động, do ngừng co cơ hô hấp nên
lồng ngực co hồi lại nhờ sự đàn hồi của thành ngực – phổi và sự chống đối lại
của các tạng trong ổ bụng làm cho khoang liên sườn xẹp xuống và cơ hoành
nâng lên cao. Việc giảm thể tích lồng ngực sẽ ép vào các phế nang, làm tăng

Nếu do đè ép gián tiếp thì đầu gãy thường hướng ra ngoài.
Gãy (đứt) xương sườn trong vết thương ngực thường kèm theo đứt
động mạch liên sườn gây chảy máu nhiều.
Mức độ di lệch của hai đầu xương gãy có thể là gãy rạn, di lệch ngang,
di lệch chồng. Nếu có di lệch thì đầu xương gãy thường chọc rách màng phổi
– phổi do nằm sát mặt trong xương.
Máu chảy từ ổ gãy xương (100 – 300ml/ 1 ổ gãy) hình thành khối máu
tụ dưới da và có thể chảy vào khoang màng phổi nếu có rách màng phổi thành
gây tràn máu màng phổi.
1.3.1.3. Gãy xương ức:
Thường do chấn thương rất mạnh, trực tiếp vào vùng xương ức. Gây
suy hô hấp nặng và thương tổn các tạng bên trong lồng ngực, đặc biệt là tim.
1.3.1.4. Vỡ ( thủng) cơ hoành:
Thủng cơ hoành hay gặp trong vết thương vùng ngực dưới (thường từ
khoang liên sườn 5 đường nách giữa trở xuống), gây vết thương ngực bụng.
Có thể gặp vết thương vùng bụng xuyên lên ngực qua cơ hoành.
Vỡ cơ hoành hay gặp trong chấn thương do đè ép hoặc ngã cao. Bên
trái hay gặp hơn phải. Nếu vỡ bên trái, các tạng trong bụng và dịch tiêu hoá
thường chuy qua chỗ vỡ lên khoang màng phỏi gây thoát vị hoành và nhiễm
trùng khoang màng phổi. Nếu vỡ bên phải thường kèm theo tổn thương gan,
máu bị hút lên khoang màng phổi gây tràn máu màng phổi dữ dội.
1.3.2. Thương tổn ở khoang màng phổi:
Tuy có cấu trúc giải phẫu đơn giản, song biểu hiện ở khoang màng phổi
là hậu quả thường gặp của hầu hết các thương tổn ở thành ngực hoặc các tạng
trong lồng ngực và chính biểu hiện này tạo ra nhiều triệu chứng, hội chứng
trên lâm sàng, đồng thời quyết định thái độ điều trị.
11
1.3.2.1. Tràn khí màng phổi:
Do không khí tràn vào, làm mất áp lực âm tính trong khoang màng phổi,
nên nhu mô phổi bị co rúm lại, các khoang liên sườn dãn rộng ra và đẩy trung

- Có thể gặp tràn khí vào trung thất.
- Máu chảy từ thương tổn vào trong lòng khí – phế quản gây ho khạc
máu sớm trên lâm sàng.
1.3.3.3. Tụ máu ( đụng dập ) phổi:
Ít gặp, chủ yếu trong chấn thương do ngã cao. Nhu mô phổi bị rách và
dập từng mảng, chảy máu trong nhu mô phổi nguy cơ gây xẹp phổi nặng nề
về sau, rất khó điều trị.
1.3.3.4. Xẹp phổi:
- Co rúm nhu mô phổi: sau khi chấn thương, do tràn máu – khí gây mất áp
lực âm trong khoang màng phổi, làm phổi bị co rúm lại như đã mô tả ở trên.
- Xẹp phổi:
+ Là hiện tượng tắc các phế quản làm phổi xẹp, nguyên nhân chủ yếu
gây tắc phế quản là sự tăng tiết đờm dãi (do giảm thông khí phổi, co rúm nhu
mô) và đụng dập – chảy máu vào trong lòng các phế quản do chấn thương.
+ Do tắc các phế quản nên nhu mô phổi không nở lại được mặc dù điều
trị trả lại áp lực âm khoang màng phổi. Như vậy, đây là hậu quả thứ phát sau
các thương tổn khác, đặt ra rất nhiều vấn đề trong săn sóc bệnh nhân sau chấn
thương ngực.
+ Khác với biểu hiện “đè đẩy” trên lâm sàng và X quang của tràn máu –
khí màng phổi gây co rúm nhu mô, ảnh hưởng của xẹp phổi lại là biểu hiện
“co kéo” như: ngực xẹp, kéo trung thất về bên thương tổn, kéo cơ hoành lên
cao, xẹp khoang liên sườn…
13
1.3.3.5. Tim và màng tim
- Trong vết thương tim:
+ Rách màng tim và tim do vật nhọn đâm.
+ Hay gặp khi vết thương nằm ở vùng tam giác nguy hiểm của tim
(đỉnh là núm vú trái, đáy là xương ức).
+ Hậu quả:
o Chảy máu ra ngoài hay vào khoang màng phổi, thường gây tử vong

muộn hơn với các thể nhẹ. Cũng có tính chất liên tục và tăng dần.
+ Ho khạc ra máu sớm: đây là triệu chứng ít gặp nhưng có giá trị chẩn
đoán cao. Xuất hiện ngay từ những giờ đầu sau khi bị thương và chỉ gặp trong
trường hợp bị thương vào khí quản hoặc phế quản gốc hoặc nhu mô phổi bị
đụng dập rất nặng ( hiếm gặp).
1.4.2. Triệu chứng thực thể:
1.4.2.1. Triệu chứng toàn thân:
- Triệu chứng toàn thân chủ yếu bao gồm các dấu hiệu về toàn trạng như:
mạch, huyết áp, nhiệt độ, màu sắc da và niêm mạc….
- Các triệu chứng toàn thân có thể thay đổi tuỳ theo từng thể bệnh của chấn
thương, vết thương ngực:
+ Thể thông thường: mạch thường nhanh. Huyết áp còn bình thường.
Màu sắc da và niêm mạc hơi nhợt và tím nhẹ.
+ Thể có mất máu nhiều: mạch nhanh. Huyết áp có thể còn bình thường
hay tụt. Màu sắc da và niêm mạc nhợt rõ. Chân tay lạnh, có thể vã mồ hôi ở
mặt, trán, ngực, khi có sốc mất máu nặng.
15
+ Thể suy hô hấp nặng: mạch nhanh. Huyết áp có thể tụt ở giai đoạn
muộn. Màu sắc da và niêm mạc tím rõ. Có thể phổi hợp với các dấu hiệu của
thể mất máu nhiều.
+ Thể có hội chứng chèn ép tim cấp tính: mạch nhanh, mất mạch ngoại
vỉ khi hít sâu. Huyết áp động mạch bị tụt và kẹt. Áp lực tĩnh mạch trung ương
tăng cao ( >15cmH
2
O). Tĩnh mạch cổ nổi, gan to, phản hồi gan – tĩnh mạch cổ
dương tính. Có thể phối hợp với các dấu hiệu của thể mất máu nhiều hay suy
hô hấp nặng.
- Ngoài ra, khám toàn thân còn cho phép phát hiện đánh giá các thương tổn
phối hợp, trong đó có những thương tổn nặng tạo nên bệnh cảnh đa chấn thương
như: chấn thương sọ não, chấn thương vết thương bụng, chấn thương thận, vỡ

khi lồng ngực phồng lên thì vùng mảng sườn lại thụt vào và ngược lại, ở thì
thở ra, trong khi lồng ngực xẹp xuống thì vùng mảng sườn lại phồng lên.
- Sờ:
• Thở: thường nhanh nông, tần số > 25 lần / phút khi có suy hô hấp.
• Dấu hiệu đau chói của ổ gãy xương sườn.
• Tràn khí dưới da quanh vùng bị thương: rất có ý nghĩa vì giúp khẳng
định trên lâm sàng là có chấn thương ngực (hầu hết có gãy xương sườn, rách
phổi, tràn máu – tràn khí màng phổi)
- Gõ:
• Vang hơn ở vùng cao khi có tràn khí màng phổi.
• Đục hơn ở vùng thấp khi có tràn máu màng phổi hay xẹp phổi.
- Nghe:
• Rì rào phế nang phổi: giảm hoặc mất ở bên thương tổn.
• Tim: tiếng tim mờ trong hội chứng chèn ép tim.
17
1.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH TRONG
CHẤN THƯƠNG NGỰC
Sau khi Roentgen phát minh tia X năm 1985 thì đồng nghĩa với sự ra
đời của hình ảnh học và nó được ứng dụng vào thăm khác hầu hết các bộ phận
trong cơ thể trong đó có đánh giá về lồng ngực.
Năm 1971 Hounsfield và Ambrose (Anh) cho ra đời chiếc máy chụp cắt
lớp vi tính đầu tiên, đã đánh dấu một bước tiến mới trong chẩn đoán, điều trị
và nghiên cứu khoa học y học [5].
Siêu âm cũng là một trong những tiến bộ kỹ thuật của những năm 1970
về chẩn đoán hình ảnh và đóng góp vai trò quan trọng trong chẩn đoán chấn
thương trong đó có CTN.
Ngoài ra còn có cộng hưởng từ, chụp xạ hình phổi và chụp mạch máu
cũng là các phương pháp chẩn đoán hình ảnh áp dụng trong CTN.
Mỗi phương pháp có ưu, nhược điểm khác nhau trong đánh giá CTN,
do đó sử dụng mỗi phương pháp còn phụ thuộc vào thể chấn thương và tình

xương bả vai.
+ Kết hợp tràn dịch và tràn khí khoang màng phổi: có hình tràn khí
màng phổi ở phía trên và hình tràn dịch màng phổi ở phía dưới phế trường.
Ranh giới giữa hai vùng tràn khí và tràn dịch thường là một mức ngang.

Hình 1.2. Các mức độ tràn máu khoang màng phổi [5], [10]
19
1.5.1.3. Nhu mô phổi:
+ Hình rốn phổi đậm và các đốm mờ không đều trong nhu mô phổi do
tăng tiết, ứ trệ đường thở và xung huyết trong nhu mô phổi.
+ Hình xẹp phổi: đám mờ hình tam giác có đỉnh ở rốn phổi và đáy ở
phía ngoại vi trường phổi. Gặp trong xẹp phổi do đường thở bị tắc vì ứ trệ các
chất xuất tiết hoặc máu.
+ Hình phổi bị ép về phía rốn phổi trong tràn khí màng phổi.
1.5.1.4. Trung thất:
+ Hình trung thất bị chèn đẩy sang bên lành trong tràn dịch hay tràn khí
khoang màng phổi.
+ Hình tràn khí trung thất: có hình hai dải tăng sáng nằm dọc hai bên
trung thất trên phim chụp ngực thẳng. Trên phim chụp nghiêng có thể thấy rõ
các cột khí chạy dọc giữa các cơ quan trong trung thất.
1.5.1.5. Tim
+ Có thể bị chèn đẩy sang bên lành (cùng trung thất) trong tràn dịch
tràn khí khoang màng phổi.
+ Hình bóng tim to ra, mất các cung tim thông thường trong tràn máu
màng ngoài tim.
1.5.2. Siêu âm trong CTN
Trước đây, người ta nghĩ rằng siêu âm mà không thể được sử dụng
trong đánh giá ngực. Cơ quan chính của ngực là phổi chứa đầy không khí mà
nó không phải là một chất dẫn siêu âm tốt. Bên cạnh đó, các xương sườn cản
trở đường vào của siêu âm. Tuy nhiên, siêu âm đã trở thành một phương pháp

1.5.3.3. Tràn dịch, máu cục khoang màng phổi:
- Nằm ở phần thấp ( phía lưng) khi bệnh nhân nằm ngửa.
- Hình ảnh tỷ trọng dịch máu hoặc khối tăng tỷ trọng (tỷ trọng máu cục)
nằm trong khoang màng phổi.
- Đè đẩy nhu mô phổi về phía rốn phổi.
21
1.5.3.4. Đụng dập nhu mô phổi:
-Hình ảnh tổn thương đám mờ không đồng đều do các phế nang chứa
khí xen kẽ các phế nang phế quản chứa dịch máu, ranh giới thường không rõ
trong nhu mô phổi tương ứng với vị trí chấn thương.
-Thường kèm theo tràn dịch khoang màng phổi.
1.5.3.5. Tràn dịch màng ngoài tim:
- Hình ảnh tỷ trọng dịch nằm giữa màng ngoài tim.
- Khi có tiêm thuốc cản quang, hình ảnh dịch không ngấm thuốc cản quang.
- Đánh giá có hình ảnh thoát thuốc từ các buồng tim vào khoang màng
ngoài tim trong chấn thương thủng cơ tim.
1.5.3.6. Tổn thương mạch máu lớn:
- Tổn thương được đánh giá khi có hình ảnh thoát thuốc cản quang ra
khoang màng phổi hoặc trung thất. Hoặc các tổn thương giả phình động mạch.
1.5.3.7. Tổn thương thực quản và khí phế quản:
- Mất liên tục của thực quản hoặc khí phế quản.
- Hình ảnh tỷ trọng khí trong trung thất.
1.5.3.8. Vỡ cơ hoành:
- Mất liên tục cơ hoành.
- Tổn thương đụng dập nhu mô phổi vùng đáy phổi.
- Thoát vị các tạng trong ổ bụng vào lồng ngực.
1.5.4. Chụp cộng hưởng từ:
- Ít được sử dụng trong đánh giá CTN vì bệnh nhân thường nặng, đa
chấn thương cần cấp cứu ngay, thời gian khám xét kéo dài, khó theo dõi bệnh
nhân, đồng thời đây là xét nghiệp tương đối đắt tiền.

dầy. Nếu VT lớn có thể phải khâu da tạm thời (nếu có điều kiện). Nút Depage
chỉ dành cho VT rất lớn.
1.6.2.Điều trị phẫu thuật: chủ yếu là dẫn lưu tối thiểu khoang màng phổi.
- Vô cảm: thường gây tê tại chỗ.
- Phẫu thuật:
+ Dẫn lưu màng phổi tối thiểu qua khoang liên sườn 5 - nách giữa, trường
hợp tràn khí >>> tràn máu, có thể đặt thêm 1 dẫn lưu khí qua khoang liên
sườn 2 - giữa đòn.
+ Hầu hết không cần can thiệp gì trên các ổ gãy xương sườn.
Xét chỉ định mở ngực:
Nếu dẫn lưu ra ngay > 1500 ml máu /thời gian từ khi bị thương tới khi mổ
< 6 giờ, hoặc theo dõi sau dẫn lưu thấy ra > 200 ml /giờ x 3 giờ liền  mới
xét chỉ định mở ngực (cần cân nhắc kĩ, tham khảo ý kiến chuyên khoa) để cầm
máu các tổn thương mạch lớn ở thành ngực và nhu mô phổi.
Nếu dẫn lưu ra khí nhiều - Phổi không nở - Huyết động không cải thiện
(SaO
2
thấp)  mới xét chỉ định mở ngực khâu các chỗ rách phổi - phế quản
quá lớn.
Đường mở ngực thường đi qua khoang liên sườn 5.
1.6.3. Điều trị sau mổ :
- Săn sóc dẫn lưu màng phổi, cố gắng rút vào 48 - 72 giờ sau mổ, nếu tràn khí
nhiều thì có thể để lâu hơn, tới 5 - 7 ngày.
- Hướng dẫn bệnh nhân tập lí liệu pháp sớm ngay sau mổ, lưu ý không dùng
biện pháp thổi bóng nếu còn tràn khí nhiều.
- Kháng sinh, giảm đau, ho long đờm, giảm viêm.
- Ăn uống nâng cao thể trạng. Bù máu nếu thiếu.
- Theo dõi biến chứng :
24
+ Nhiễm trùng vết mổ: Cắt chỉ da sớm, thay băng, kháng sinh theo KSĐ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status