BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
LÊ HỒNG VÂN
NGHIÊN CỨU ĐỘ BÃO HÒA OXY MẠCH
TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH TỦY RĂNG
VÀ THEO DÕI CHẤN THƯƠNG RĂNG
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Mã số: 62710601
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI- 2014
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Trình Đình Hải
2. TS. Lê Thu Hà
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường
vào hồi: giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện Quốc Gia
2. Thư viện Viện NCKH Y Dược lâm sàng 108
A. GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tủy răng là một trong những bệnh hay gặp trên lâm
sàng, diễn biến bệnh đa dạng do mô tủy nằm trong một buồng cứng
nên những thay đổi sinh lý bệnh và mô bệnh học tương đối phức tạp.
Việc chẩn đoán dựa trên các thử nghiệm nhạy cảm tủy không đánh
giá được chức năng tuần hoàn do đó không phản ánh chính xác chức
năng sống của mô tuỷ, đặc biệt trong chấn thương răng. Khắc phục
những hậu quả lâu dài. Do đó, việc nghiên cứu một phương pháp
chẩn đoán mới dựa trên tình trạng tuần hoàn mô tủy lấy mô bệnh
học làm tiêu chuẩn đánh giá sẽ mang lại những khái niệm mới trong
chẩn đoán bệnh tủy răng và ý nghĩa thực tiễn trong bảo tồn mô tủy,
đặc biệt trong theo dõi những răng chấn thương.
Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI
1. Là công trình nghiên cứu đầu tiên về phương pháp đo độ
bão hòa oxy mạch trong chẩn đoán bệnh tủy răng ở Việt Nam, đánh
giá giá trị chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn vàng mô bệnh học (bao
gồm cả hóa mô miễn dịch).
2. Giá trị chẩn đoán bệnh tủy răng của phương pháp đo độ
bão hòa oxy mạch cao hơn so với thử điện và thử nhiệt.
3. Xác định được độ bão hào oxy mạch trung bình của nhóm
răng cửa và răng hàm nhỏ bình thường là những thông số có giá trị
chẩn đoán và tham khảo.
4. Độ bão hòa oxy mạch ở các răng bệnh lý được xác định:
Viêm tủy hồi phục (79,47%), viêm tủy không hồi phục (75,24%) và
tủy hoại tử (66,32%).
5. Xác lập mối tương quan giữa độ bão hòa oxy mạch và
ngưỡng đáp ứng điện của tủy răng trong các thể bệnh viêm tủy.
6. Khả năng phục hồi tủy răng sau chấn thương men- ngà
không lộ tủy: 95,6% phục hồi chức năng tuần hoàn và 92,1% phục
hồi dẫn truyền cảm giác sau 6 tháng. Đề xuất theo dõi và trì hoàn
điều trị nội nha sau chấn thương răng.
CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận và kiến nghị, luận án gồm 4
chương: Tổng quan tài liệu: 34 trang, Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: 16 trang, Kết quả nghiên cứu: 32 trang, Bàn luận: 33
trang. Luận án có 34 bảng, 11 biểu đồ, 43 hình ảnh, 127 tài liệu
tham khảo (4 tiếng Việt, 119 tiếng Anh và 4 tiếng Pháp)
là cơ sở cho khoa học chẩn đoán dựa trên thăm dò chức năng.
Bệnh lý tủy được phân loại theo lâm sàng- mô bệnh học thành
các thể chính là nhạy cảm tủy, viêm tủy có triệu chứng (gồm viêm tủy cấp
và viêm tủy mạn tính), viêm tủy không triêu chứng (gồm tủy loét mạn
tính, viêm tủy mạn kín và tủy phì đại) và những biến đổi khác như tủy
hoại tử và thoái hóa tủy. Thay đổi đáp ứng với các thử nghiệm nhạy cảm
tủy ở từng thể bệnh phụ thuộc vào sự ức chế hay kích thích hai sợi thần
kinh: A- δ có ngưỡng kích thích thấp và sợi C có ngưỡng kích thích cao.
Tổn thương sau chấn thương men- ngà không lộ tủy là viêm nhẹ, phù nề
các sợi thần kinh myelin hóa gây mất chức năng dẫn truyền cảm giác.
Nghiên cứu hóa mô miễn dịch trong bệnh tủy răng gần đây rất
phát triển nhằm xác định liên quan giữa sự bộc lộ gen cytokine trong
tủy với những giai đoạn khác nhau của viêm.
1.3. Các phương pháp chẩn đoán bệnh tủy răng
1.3.1. Thử nghiệm nhạy cảm tủy
Thử nghiệm nhạy cảm tủy gồm thử lạnh, thử nóng và thử điện
dựa trên kích thích các sợi thần kinh tủy răng. Phương pháp thăm dò chức
năng dẫn truyền cảm giác còn nhiều hạn chế như đáp ứng dương tính giả,
âm tính giả, không tương ứng với mô bệnh học, không khách quan và phụ
thuộc một số yếu tố nhiễu.
1.3.2. Phương pháp thăm dò chức năng tuần hoàn
Laser Doppler là phương pháp đo lưu lượng máu của tủy
răng dựa trên hiệu ứng Doppler do hiện tượng phản chiếu ánh sáng
tán xạ ngược từ hồng cầu. Tuy nhiên, yếu tố gây nhiễu từ mô lợi làm
Laser Doppler không chính xác.
Độ bão hòa oxy là lượng oxy gắn trên oxyhemoglobin trên tổng
lượng hemoglobin trong 100ml máu khi mạch đập, được đo dựa trên khả
năng dẫn truyền ánh sáng đỏ và hồng ngoại của hồng cầu. Phương pháp
đo độ bão hòa oxy mạch được ứng dụng trong chẩn đoán bệnh tủy răng
đã được nghiên cứu trên nhóm răng cửa, răng sữa và nhóm răng bệnh lý ở
163 răng cùng tên đối bên hoặc kề răng đói bên không có
tổn thương mô cứng, không có bệnh nha chu và không có tiền sử
đau hoặc ê buốt.
2.1.1.4. Nhóm chứng âm tính: 30 răng cửa đã được điều trị tủy nhưng chưa
được phục hình.
2.1.2. Nhóm nghiên cứu theo dõi chấn thương răng
45 răng cửa và răng hàm nhỏ của 29 bệnh nhân chấn thương
răng trong vòng 8 tiếng được lựa chọn theo các tiêu chuẩn:
2.1.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Răng có tổn thương nứt gẫy men răng hoặc nứt gãy men-
ngà không lộ tủy, lung lay răng ≤ độ I.
- Răng đóng kín cuống hoặc chưa đóng kín cuống nhưng đã
mọc hết chiều dài và cuống răng có điểm thắt chóp dạng song song.
2.1.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Răng chưa mọc hết chiều dài, răng có tổn thương sâu răng hoặc
viêm quanh răng trước chấn thương, trật khớp hoặc có tổn thương xương
ổ răng phối hợp
- Bệnh nhân được đặt máy tạo nhịp tim.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu được chia thành 2 phần:
- Phần 1: nghiên cứu mô tả cắt ngang, trong đó, chúng tôi
nghiên cứu giá trị chẩn đoán của phương pháp đo ĐBHO trên 163 răng
dựa hai tiêu chuẩn vàng là lâm sàng khi mở tủy và mô bệnh học, có so
sánh với các thử nghiệm nhạy cảm.
- Phần 2: nghiên cứu tiến cứu tiến cứu theo dõi dọc, trong
đó chúng tôi theo dõi sự phục hồi chức năng dẫn truyền cảm giác và
chức năng tuần hoàn của 45 răng sau chấn thương bằng phương
pháp đo ĐBHO và các nghiệm pháp thử lạnh và thử điện.
2.2.2. Cỡ mẫu
Nghiên cứu giá trị chẩn đoán
Bước 6: Xét nghiệm mô bệnh học và xây dựng tiêu chuẩn vàng mô
bệnh học.
Nhuộm hóa mô miễn dịch cho 34 tiêu bản với các kháng thể đơn
dòng: CD34, SMA, vimentin, CD3, CD20, PAX-5 và MMP-9.
Nghiên cứu theo dõi chấn thương
Thử tủy theo quy trình ở các thời điểm: sau chấn thương, 2
ngày, 4 ngày, 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng và 6
tháng.
2.2.4. Tính giá trị chẩn đoán qua các chỉ số
- Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự
báo âm tính, độ chính xác.
2.2.5. Thống kê, phân tích số liệu: Phần mềm SPSS 16.0, test t, kiểm
định χ
2
, hệ số Kappa và Pearson.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Nghiên cứu giá trị chẩn đoán
3.1.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
- Trong 72 bệnh nhân có 37 nam, 35 nữ, 86 răng trên bệnh
nhân nam và 77 răng trên bệnh nhân nữ .
- Trong 163 răng, nhóm răng cửa trên chiếm tỷ lệ cao nhất
(25,8%), sau đó là nhóm răng cửa dưới và răng cửa bên trên với tỷ
lệ tương ứng là 16,0% và 14,1%. Chỉ có 16 răng hàm nhỏ trên
chiếm tỷ lệ thấp nhất là 9,8% (p < 0,05).
- 86 răng được lấy tủy do nghuyên nhân chấn thương, 77
răng do các nguyên nhân khác.
- Dựa theo tiêu chuẩn AAE (2010), 54 răng được chẩn đoán
là tủy hoại tử chiếm tỷ lệ cao nhất là 33,1%, viêm tủy không hồi
phục chiếm 23,9%, viêm tủy hồi phục chiếm 23,3% và tủy bình
thường chiếm tỷ lệ 19,7% (p < 0,05).
nhỏ dưới có giá trị lần lượt là 87,59% ± 2,58; 87,19 ± 2,48 và 87,39
± 1,76. Răng cửa bên trên và răng hàm nhỏ trên có giá trị nhỏ nhất
lần lượt là 85,82% ± 3,91 và 85,71±4,01.Chưa thấy có sự khác biệt
giữa độ bão hòa oxy của các nhóm răng (p>0,05).
Độ bão hòa oxy ở ngón tay là 97,32% ± 1,7, cao hơn ĐBHO
của các nhóm răng có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).
3.1.3. Kết quả nghiên cứu giá trị chẩn đoán
Độ bao hòa oxy theo chẩn đoán lâm sàng
Độ bão hòa oxy trung bình ở nhóm răng bình thường là
86,92% ± 3,90, viêm tủy hồi phục là 79,36% ± 4,26, viêm tủy không
hồi phục là 74,86% ± 4,32 và tủy hoại tử là 64,84% ± 4,32, khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01). Có 20 trường hợp tủy hoại tử
hoàn toàn có độ bão hòa oxy là 0%.
3.1.3.3. Giá trị của các nghiệm pháp thử tủy so với chuẩn vàng lâm
sàng
110 răng chảy máu khi mở tủy - tủy sống và 53 răng không
chảy máu -tủy chết theo tiêu chuẩn lâm sàng.
Bảng 3.12: Giá trị của nghiệm pháp thử lạnh so với tiêu chuẩn lâm
sàng
Tiêu chuẩn lâm sàng
Tổng số
Tủy chết Tủy sống
Thử lạnh
Đáp ứng (-) 47 22 69
Đáp ứng (+) 6 88 94
Tổng số 53 110 163
*Hệ số phù hợp Kappa là 0,637, p<0,001
Độ nhạy
Độ đặc
hiệu
Bảng 3.14: Giá trị của nghiệm pháp thử điện so với tiêu chuẩn lâm
sàng
Tiêu chuẩn lâm sàng
Tổng số
Tủy chết Tủy sống
Thử điện
Đáp ứng (-) 47 14 61
Đáp ứng (+) 6 96 102
Tổng số 53 110 163
*Hệ số Kappa là 0,731 với p<0,001
Độ nhạy
Độ đặc
hiệu
Giá trị dự báo
dương tính
Giá trị dự báo
âm tính
Độ chính xác
0,88 0,87 0,77 0,94 0,88
Hệ số Kappa = 0,731 (p < 0,001). Nghiệm pháp thử điện có
độ nhạy là 0,88, độ đặc hiệu là 0,87, giá trị chẩn báo dương tính là
0,77, giá trị dự báo âm tính là 0,94 và độ chính xác là 0,88 so với
chuẩn lâm sàng.
Bảng 3.15: Giá trị của nghiệm pháp đo ĐBHO so với tiêu chuẩn
lâm sàng
Tiêu chuẩn lâm sàng
Tổng số
Tủy chết Tủy sống
Đo ĐBHO
<70% 51 2 53
3.1.3.5. ĐBHO theo chẩn đoán mô bệnh học
Bảng 3.16: ĐBHO trung bình theo chẩn đoán mô bệnh học
n
ĐBHO
(%)
Độ
lệch
chuẩn
Giá trị thấp
nhất (%)
Giá trị
cao nhất
(%)
p
Tủy bình
thường
31 86,87 3,95 78,00 95,00
<0,01
XH, VTC nhẹ 36 79,49 4,58 71,50 88,50
VTC, VTM 35 75,24 3,41 70,00 85,00
Vôi hóa lan tỏa 4* 69,75 9,78 56,50 78,50
Tủy hoại tử 37* 66,32 5,15 56,00 70,50
Có 20 trường hợp thuộc nhóm răng vôi hóa lan tỏa và tủy
hoại tử có ĐBHO đo được là 0%. Độ bão hòa oxy ở nhóm tủy bình
thường cao nhất là 86,87% ± 3,95, sau đó đến nhóm xung huyết và
viêm tủy cấp nhẹ có độ bão hòa oxy là 79,49 ± 4,58, nhóm viêm tủy
cấp nặng và viêm tủy mạn tính có độ bão hòa oxy là 75,24% ± 3,41.
Nhóm tủy hoại tử có ĐBHO trung bình là 66,32% ± 5,15 và nhóm
vôi hóa lan tỏa là 69,75% ± 9,78, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <
0,01).
hiệu
Giá trị dự báo
dương tính
Giá trị dự báo
âm tính
Độ chính xác
0,84 0,82 0,74 0,89 0,83
Hệ số Kappa là 0,643 (p < 0,01). Độ nhạy của nghiệm pháp
thử lạnh so với chẩn đoán mô bệnh học là 0,84, độ đặc hiệu là 0,82,
giá trị dự báo dương tính là 0,74, giá trị dự báo âm tính là 0,89 và độ
chính xác là 0,83.
Bảng 3.20: Giá trị của nghệm pháp thử nóng so với chuẩn vàng mô
bệnh học
Tiêu chuẩn mô bệnh học
Tổng số
Tủy chết Tủy sống
Thử nóng
Đáp ứng (-) 48 53 101
Đáp ứng (+) 13 49 62
Tổng số 61 102 163
* Hệ số phù hợp Kappa là 0,236 với p<0,01
Độ nhạy
Độ đặc
hiệu
Giá trị dự báo
dương tính
Giá trị dự báo
âm tính
Độ chính xác
0,79 0,48 0,47 0,79 0,60
Tủy chết Tủy sống
ĐBHO
< 70 53 0 53
≥70%
8 102 110
Tổng số
61 102 163
* Hệ số phù hợp Kappa là 0,906 với p<0,01
Độ nhạy
Độ đặc
hiệu
Giá trị dự báo
dương tính
Giá trị dự báo
âm tính
Độ chính xác
0,87 1,00 1,00 0,93 0,96
Hệ số Kappa là 0,906 (p<0,01). Trong nhóm nghiên cứu
này, nghiệm pháp đo ĐBHO phát hiện được 100% (102/102) các
trường hợp tủy sống. Các chỉ số giá trị chẩn đoán: độ nhạy 0,87, độ
đặc hiệu 1,0, giá trị dự báo dương tính 1,0, giá trị dự báo âm tính
0,93, độ chính xác là 0,96.
3.1.4. Đặc điểm mô bệnh học
Bảng 3.25: Kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch
Vimenti
n
SMA CD34 CD3 CD20
PAX
5
MMP
% 88,9%
61,1
%
94,4
%
11,1
%
16,7
%
5,6% 72,2%
Trên các tiêu bản nhuộm hóa mô miễn dịch, CD34 dương tính
100% mô tủy bình thường và viêm tủy cấp, 94,4% mô tủy viêm mạn
tính.
CD3 dương tính ở 12,5% các trường hợp tủy bình thường,
12,5% các trường hợp viêm tủy cấp và 11,1% các trường hợp viêm
tủy mạn tính. CD20 và PAX-5 giúp xác định các lympho bào B,
dương tính ở một số ít các trường hợp. MMP-9 dương tính mạnh
trong thể viêm tủy cấp, chiếm tỷ lệ 75% các trường hợp, sau đó đến
viêm tủy mạn tính, chiếm tỷ lệ 72,2% các trường hợp và thấp nhất ở
tủy bình thường, 62,5% các trường hợp.
3.2. Nghiên cứu theo dõi chấn thương
3.2.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Có 29 bệnh nhân được theo dõi 45 răng, trong đó có 16 bệnh
nhân nam và 13 bệnh nhân nữ. Số răng chấn thương trung bình là
1,55 răng / bệnh nhân. Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là
16,06±5,95. Nhóm răng cửa giữa gặp nhiều nhất, chiếm 37,8% sau
đó đến nhóm răng cửa bên trên, răng nanh trên và răng hàm nhỏ,
chiếm tỷ lệ tương ứng là 22,2%, 22,2% và 15,6%.
3.2.1.3. Độ bão hòa oxy ngay sau chấn thương theo tổn thương
Độ bão hòa oxy trung bình của nhóm nứt gãy men răng là
răng, tổn thương nứt gãy men- ngà không lộ tủy gặp nhiều nhất.
Nguyên nhân của chấn thương răng cửa giữa chiếm tỷ lệ cao có liên
quan đến độ cắn chìa và thiếu độ phủ môi trên.
4.1.2. Độ bão hòa oxy và các đáp ứng nhạy cảm tủy của nhóm răng bình
thường
Độ bão hòa oxy mạch là một chỉ số đánh giá chức năng tuần
hoàn của. Trong nghiên cứu của chúng tôi, phương pháp đo ĐBHO
mạch được thực hiện với máy Nellcor Oxi-Max N65 với đầu dò
OxiMax Dura- Y D- YS. Đây là đầu dò dành cho trẻ thiếu tháng
nhẹ cân (<1kg) có kích thước 4x5mm, nhỏ hơn kích thước gần- xa
của răng.
Độ bão hòa oxy cao nhất ở nhóm răng nanh dưới với giá trị
89,56% ± 1,21, sau đó đến nhóm răng nanh trên có giá trị 88,56% ±
2,50. Các nhóm răng cửa giữa trên, răng cửa dưới và răng hàm nhỏ
dưới có giá trị lần lượt là 87,59% ± 2,58; 87,19 ± 2,48 và 87,39 ±
1,76. Răng cửa bên trên và răng hàm nhỏ trên có giá trị nhỏ nhất là
85,82% ± 3,91 và 85,71± 4,01. Độ bão hòa oxy ở ngón tay là
97,32% ± 1,7, cao hơn độ bão hòa oxy của các nhóm răng có ý
nghĩa thống kê (p < 0,01), do đặc điểm chuyển hóa và tuần hoàn của
mô tủy, số lượng tế bào ít, lưu lượng máu và thể tích máu mất cân
xứng nên nhịp độ hô hấp thấp và hiệu suất sử dụng oxy cao, nên độ
bão hòa oxy của mô thấp.
4.2. Giá trị của các phương pháp chẩn đoán
4.2.1. Tiêu chuẩn đánh giá giá trị chẩn đoán
Trong nghiên của chúng tôi, giá trị chẩn đoán được so sánh
với hai tiêu chuẩn được coi là chuẩn vàng trong chẩn đoán tình trạng
tủy răng, đó là tiêu chuẩn lâm sàng và tiêu chuẩn mô bệnh học.
Khi mở tủy có 110 trường hợp tủy chảy máu coi là tủy sống
và 53 trường hợp tủy không chảy máu coi là tủy chết.
Tiêu chuẩn mô bệnh học được xác lập trên các tiêu bản mô
báo âm tính: 0,89 và độ chính xác là 0,83. Kết quả tương tự cũng đã
được khẳng định trong những nghiên cứu trước đây của Seltzer và
Dummer, Petersson (1999), Kamburoglu (2005), Saeed (2011).
Những trường hợp dương tính giả và âm tính giả được giải thích do
đáp ứng kích thích của sợi thần kinh A- δ và C khác nhau ở các giai
đoạn viêm và trong một số trường hợp chấn thương mới.
4.2.4. Giá trị chẩn đoán của nghiệm pháp thử nóng
So với tiêu chuẩn lâm sàng, thử nóng có độ nhạy là 0,87; độ
đặc hiệu là 0,50; giá trị dự báo dương tính là 0,45; giá trị dự báo âm
tính là 0,88; độ chính xác là 0,62. Hệ số phù hợp Kappa so với chẩn
đoán lâm sàng là 0,236 (p<0,01) cho thấy chỉ có sự phù hợp ở mức
yếu giữa kết quả thử nóng với chẩn đoán mô bệnh học. So sánh với
chẩn đoán mô bệnh học, độ nhạy của nghiệm pháp thử nóng là 0,79;
độ đặc hiệu là 0,48; giá trị chẩn đoán dương tính là 0,47; giá trị chẩn
đoán âm tính là 0,79 và độ chính xác là 0,60. Kết quả này tương
đồng với các tác giả khác như Seltzer và Dummer và Petersson
(1999). Thử nóng có giá trị dự báo dương tính rất thấp, cho thấy
nghiệm pháp này có ít khả năng chẩn đoán tủy hoại tử và ít đặc hiệu.
4.2.5. Giá trị chẩn đoán của nghiệm pháp thử điện
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nghiệm pháp thử điện được
thực hiện trên máy Parkell, ghi lại ngưỡng đáp ứng điện (cường độ dòng
điện tối thiểu gây cảm giác trên răng). So với tiêu chuẩn lâm sàng, thử
điện có độ nhạy là 0,88; độ đặc hiệu là 0,87; giá trị dự báo dương tính là
0,77; giá trị dự báo âm tính là 0,94 và độ chính xác là 0,88. Hệ số phù hợp
Kappa so với chẩn đoán mô bệnh học của nghiệm pháp thử điện là 0,686
với p < 0,01, phù hợp ở mức độ khá. Dựa trên tiêu chuẩn mô bệnh học,
chúng tôi tính được độ nhạy của nghiệm pháp thử điện là 0,80; độ đặc
hiệu là 0,88; giá trị dự báo dương tính là 0,80; giá trị dự báo âm tính là
0,88 và độ chính xác là 0,85. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu
của các tác giả khác trong hai phân tích meta của Levin (2009) và Shender
Pearson giữa độ bão hòa oxy và cường độ dòng điện ở hai thể bệnh
lần lượt là -0,111 và -0,122 (p > 0,05) trên nhóm răng chấn thương .
Điều đó chứng tỏ ở nhóm răng chấn thương, không có mối tương
quan hồi quy tuyến tính giữa hai đại lượng trên. Trong khi đó, hệ số
tương quan Pearson giữa độ bão hòa oxy và cường độ dòng điện là
0,921 (p=0,001) ở nhóm viêm tủy có triệu chứng là -0,883 (p=0,04)
ở nhóm viêm tủy không triệu chứng trên các răng bệnh lý. Hệ số
0,921 chứng tỏ rằng có mối tương quan tỷ lệ thuận gần tuyệt đối
giữa độ bão hòa oxy và ngưỡng đáp ứng điện. Kết quả này phù hợp
với nghiên cứu của Setzer (2012) . Mối tương quan tỷ lệ thuận có
nghĩa là, ở giai đoạn xung huyết và viêm tủy cấp nhẹ, độ bão hòa
oxy càng tăng thì ngưỡng đáp ứng điện càng giảm, tức là răng càng
nhạy cảm với kích thích điện, được giải thích do hậu quả của quá
trình viêm. Khi mô tủy viêm càng nặng, độ bão hòa oxy càng giảm,
kích thích lên các sợi thần A-δ càng tăng nên ngưỡng kích thích
càng thấp, răng càng nhạy cảm. Trong thể viêm tủy không triệu
chứng hay viêm tủy mạn tính trên mô bệnh học, tương quan này đảo
ngược với hệ số Pearson là -0,883 là mức tương quan rất mạnh. Tình
trạng viêm cấp chuyển sang giai đoạn mạn tính và thoái hóa là lúc
các sợi A-δ bị ức chế bởi hiện tượng thiếu oxy, đáp ứng điện với
ngưỡng tăng. Khi mô bắt đầu hoại tử bán phần, cường độ dòng điện
phải cao hơn bình thường mới có đáp ứng do lúc này, đáp ứng thuộc
về các sợi thần kinh C mà ngưỡng của các sợi thần kinh này rất cao.
Do đó, trong thể viêm tủy mạn tính, mức độ viêm càng trầm trọng,
độ bão hòa oxy càng giảm thì ngưỡng kích thích điện càng tăng,
răng càng ít nhạy cảm hơn. Tương quan giữa hai chỉ số này trong
chẩn đoán rất có ý nghĩa trong việc xác định giai đoạn bệnh.
4.2.6.3. Giá trị chẩn đoán của phương pháp đo ĐBHO mạch
Theo tiêu chuẩn lâm sàng, hệ số Kappa đạt được là 0,930
với p < 0,001, chứng tỏ có sự phù hợp gần tuyệt đối của phương
Có 5/45 răng có triệu chứng tăng nhạy cảm ngà sau chấn
thương, chiếm 11,1% thuộc tổn thương nứt gãy men- ngà không lộ
tủy. Độ bão hòa oxy ngay sau chấn thương, sau 2, 4, 7 ngày, sau 1,
2, 3, 6 tháng của các răng không thay đổi, thấp nhất là sau 2 tuần,
79,6% và cao nhất là thời điểm ngay sau chấn thương là 87,6% cho
thấy chức năng tuần hoàn không bị ảnh hưởng và ổn định sau 6
tháng theo dõi. Hiện tượng nhạy cảm là do hở các ống ngà.
Theo dõi sự thay đổi ngưỡng đáp ứng điện của nhóm răng
này thấy ngưỡng đáp ứng điện tại thời điểm ngay sau chấn thương là
2,5mA, sau 2 ngày là 3,25mA. Ngưỡng đáp ứng này giống ngưỡng
đáp ứng của nhóm răng viêm tủy hồi phục. Hiện tượng nhạy cảm
ngà sẽ mất sau 1 tuần, lúc này ngưỡng đáp ứng quay trở lại bình
thường như nhóm răng chứng, trung bình là 7,75mA.
4.3.2.1. Nhóm mất cảm giác
Sau 3 tuần, có 2 răng tủy hoại tử, độ bão hòa xuống thấp
dưới 70%. Các răng khác có độ bão hòa oxy ổn định ở mức độ bão
hòa oxy trung bình là 85,85% ở thời điểm ngay sau chấn thương và
86,26% sau 6 tháng theo dõi. Tỷ lệ răng tủy hoại tử là 4,4%, tỷ lệ
răng tủy sống là 95,6%. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu
Osburgh (2002). Một số nghiên cứu cho rằng tủy răng có thể ở giai
đoạn viêm nhẹ do lực sang chấn gây xung huyết nhẹ mô tủy, các sợi
thần kinh có thể bị biến đổi nên các nghiệm pháp thử tủy dựa trên
cảm giác đều không có đáp ứng. Hiện tượng hoại tử tủy răng dược
giải thích là do tổn thương trật khớp bị bỏ qua. Trong tổn thương
nứt- gãy men- ngà không lộ tủy, phản ứng viêm tủy là do sự xâm
nhập của các vi khuẩn từ ống ngà. Tuy nhiên, mô tủy có hai cơ chế