cải cách hành chính ở việt nam giai đoạn từ 2001 đến 2010 - Pdf 14

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2001 ĐẾN 2010
1. Nội dung cải cách hành chính từ 2001 đến 2005
Từ việc xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế
xã hội trầm trọng, Đại hội VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là
công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức
bộ máy các cơ quan nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ
máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối.
Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước vẫn còn quá
cồng kềnh, nặng nề. Đến Đại hội VII, Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy
nhà nước và đề ra những nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và
hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của
Chính phủ, của chính quyền địa phương. Sau Đại hội VII, từ 1992 đến 1995 là
giai đoạn phát triển mạnh tư duy, quan niệm, nhận thức của Đảng về nền hành
chính nhà nước và về cải cách hành chính. Hội nghị Trung ương 8 khoá VII
(l/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính
nhà nước. Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định là trọng
tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêu là xây
dựng một nền hành chính trong sạch có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và
từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà
nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời
sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội. Tiếp
tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện
Nhà nước trong những năm trước mắt, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VIII (năm 1996) nhấn mạnh yêu cầu tiến hành cải cách hành chính đồng bộ,
dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện các nhiệm
vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996-2000.
Đại hội IX (năm 2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành
chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đã ra
một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính
thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của

công chức Nhà nước trong khi thi hành công vụ; thẩm quyền, trách nhiệm của
cơ quan hành chính và của Tòa án trong việc giải quyết khiếu kiện của nhân
dân:
- Hoàn thiện thể chế về thẩm quyền quản lý Nhà nước đối với doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp Nhà nước nói riêng; phân biệt rõ quyền của
chủ sở hữu, quyền quản lý hành chính Nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh
của doanh nghiệp.
* Thứ hai, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính:
- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu
quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính. Loại bỏ
những thủ tục rườm rà, chồng chéo đễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn
cho dân. Mở rộng cải cách thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực, xóa bỏ
kịp thời những quy định không cần thiết về cấp phép và thanh tra, kiểm tra,
kiểm soát, kiểm dịch, giám định;
- Mẫu hóa thống nhất trong cả nước các loại giấy tờ mà công dân hoặc
doanh nghiệp cần phải làm khi có yêu cầu giải quyết các công việc về Sản xuất
kinh doanh và đời sống;
- Ban hành cơ chế kiểm tra cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết
công việc của dân; xử lý nghiêm người có hành vi sách nhiễu, hách dịch vô
trách nhiệm; khen thưởng những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao;
.
- Mở rộng thực hiện cơ chế "một cửa" trong việc giải quyết công việc của
cá nhân và tổ chức ở các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp. Cơ quan hành
chính các cấp có trách nhiệm giải quyết công việc của cá nhân và tổ chức phải
www.vanthuluutru.com
2
niêm yết công khai, đầy đủ mọi thủ tục, trình tự, lệ phí, lịch công tác tại trụ sở
làm việc;
- Quy định cụ thể và rõ ràng trách nhiệm cá nhân trong khi thi hành công
vụ việc xác định quyền thi hành công vụ. Việc xác định quyền hạn và trách

quyền và trách nhiệm quản lý cán bộ, công chức của chính quyền địa phương.
Phân cấp quản lý về nhân sự đi liền với phân cấp về nhiệm vụ và phân cấp về tài
chính;
- Đánh giá lại công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, xây dựng và
triển khai kế hoạch về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong bộ máy hành
chính Nhà nước theo từng loại: Cán bộ, công chức đảm nhiệm vụ tham mưu
www.vanthuluutru.com
3
hoạch định chính sách; cán bộ, công chức các ngạch hành chính, sự nghiệp và
cán bộ chính quyền cơ sở.
Tiếp lục đổi mới nội dung chương trình và phương thức đào tạo, bồi
dưỡng, chú trọng nâng cao kiến thức, kỹ năng hành chính cho đội ngũ cán bộ,
công chức theo chức trách, nhiệm vụ đang đảm nhận. Mỗi loại cán bộ, công
chức có chương trình, nội dung đào tạo và bồi dưỡng phù hợp.
- Kết hợp đào tạo chính quy với các hình thức đào tạo không chính quy,
đào tạo trong nước và gửi đi đào tạo ngoài nước. Khuyến khích cán bộ, công
chức tự học có sự giúp đỡ của Nhà nước:
- Tổ chức lại hệ thống cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức; điều
chỉnh sự phân công giữa các cơ sở đào tạo. Tạo điều kiện để Học hiện Hành
chính Quốc gia các trường đào tạo cán bộ của các tỉnh, thành phố có thể chủ
động đào tạo một bộ phận nhân lực phục vụ bộ máy hành chính Nhà nước ở
trung ương và địa phương;
- Tăng cường các biện pháp giáo dục cán bộ, công chức về tinh thần trách
nhiệm, ý thức tận tâm, tận tụy với công việc;
- Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy
Nhà nước. Thực hiện chế độ kiểm toán và các chế độ bảo vệ công sản và ngân
sách Nhà nước.
* Thứ tư, về cải cách tài chính công
+ Cải cách tiền lương theo quan điểm: coi tiền lương là hình thức đầu tư
trực tiếp cho con người, đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng

tính độc lập tương đối và vai trò tự chủ của các tổ chức này trong hoạt động,
giảm dần chi từ ngân sách Nhà nước tiến tới thực hiện chế độ tự quản tài chính.
2. Cải cách hành chính từ 2006-2010
Trong giai đoạn này, ngoài việc tiếp tục các công việc đã thực hiện trong
giai đoạn 2001-2005 thì nội dung cải cách hành chính được tập trung vào các
nội dung sau:
Thứ nhất, về cải cách thể chế
+ Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
Pháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản; dề
cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế; phát huy
dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy
phạm Pháp luật. Ban hành các quy định bảo đảm sự tham gia có hiệu quả của
nhân dân vào quá trình xây dựng Pháp luật, tổ chức tốt việc lấy ý kiến đóng góp
của các tầng lớp nhân dân, của những người là đối tượng điều chỉnh của văn bản
trước khi ban hành;
+ Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rờm rà.
gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân: hoàn thiện các thủ tục hành chính
mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân:
+ Rà soát rà hệ thống hóa các văn bản quy phạm Pháp luật theo từng lĩnh
vực loại bỏ những quy định Pháp luật không còn hiệu lực hoặc chồng chéo.
trong lắp. Phát huy hiệu quả của cơ sở dữ liệu quốc gia về Văn bản quy phạm
Pháp luật;
+ Tăng cường năng lực của các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung
ương và địa phương trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm Pháp
luật Khắc phục tình trạng luật, Pháp lệnh chờ nghị định và thông tư hướng dẫn
thi hành;
+ Để nâng cao chất lượng và tránh tình trạng thiếu khách quan, cục bộ
trong việc xây dựng văn bản quy phạm Pháp luật, cần thiết phải nghiên cứu đổi
mới phương thức, quy trình xây dựng Pháp luật từ khâu đầu cho đến khâu Chính
phủ xem xét, quyết định hoặc thông qua để trình Quốc hội;

ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương đảm nhiệm để
khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ. Chuyển cho
các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công
việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính Nhà nước trực tiếp
thực hiện. Thứ ba, về đội ngũ cán bộ, công chức
+ Tiếp tục cải cách đội ngũ cán bộ, công chức để đến năm 2010, đội ngũ
cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý chuyên nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại
bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ tận
tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân;
+ Đổi mới, nâng cao năng lực của các cơ quan và cán bộ làm nhiệm vụ
quản lý cán bộ, công chức, công vụ phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
www.vanthuluutru.com
6
+ Sửa đổi việc phân cấp trách nhiệm quản lý cán bộ, công chức. Mở rộng
quyền và trách nhiệm quản lý cán bộ, công chức của chính quyền địa phương.
Thực hiện phân cấp quản lý nhân sự; Phân cấp quản lý về nhân sự đi liền
với phân cấp về nhiệm vụ và phân cấp về tài chính. Đánh giá lại, sửa đổi việc
phân loại, ban hành tiêu chuẩn cán bộ, công chức;
+ Tăng cường các biện pháp giáo dục cán bộ, công chức về tinh thần
trách nhiệm, ý thức tận tâm, tận tụy với công việc. Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức
nghề nghiệp cán bộ, công chức. Tôn vinh nghề nghiệp, danh dự của người cán
bộ, công chức;
+ Ban hành và thực hiện nghiêm Quy chế công vụ, gắn với thực hiện Quy
chế dân chủ trong các cơ quan hành chính Nhà nước, thực hiện triệt để nguyên
tắc công khai hóa hoạt động công vụ, nhất là trong các công việc có quan hệ trực
tiếp với công dân, trong lĩnh vực tài chính, ngân sách; bảo đảm thực hiện ký c-
ương của bộ máy, nâng cao trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của đội ngũ cán
bộ, công chức;
+ Đấy mạnh cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy

chức xã hội và nhân dân trực tiếp làm các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống
dới sự hướng dẫn, hỗ trợ và kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hành chính Nhà
nước,
+ Xóa bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu “xin - cho", ban hành các cơ
chế, chính sách thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có
điều kiện như trưởng đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu,v.v. trên cơ sở xác
định nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách Nhà nước và
phần còn lại do các đơn vị tự trang trải;
+ Thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới
như: Cho thuê đơn vị sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở và trưởng,
bệnh viện; chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức
chuyển từ các đơn vị công lập sang dân lập; cơ chế khuyến khích các nhà đầu t
trong nước, nước ngoài đầu t phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên
đại học, cơ sở chữa bệnh có chất lượng cao ở các thành phố, khu công nghiệp;
khuyến khích liên doanh và đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào lĩnh vực này;
thực hiện cơ chế khoán một số loại dịch vụ công cộng như: Vệ sinh đô thị, cấp,
thoát nước, cây xanh công viên, nước phục vụ nông nghiệp ; thực hiện cơ chế
hợp đồng một số dịch vụ công trong cơ quan hành chính;
+ Đổi mới công tác kiểm toán đối với các cơ quan hành chính đơn vị sự
nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách
Nhà nước, xóa bỏ tình trạng nhiều đầu mối thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với
các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Thực hiện dân chủ, công khai, minh
bạch về tài chính công, tất cả các chỉ tiêu tài chính đều được công bố công khai.
Thứ năm, hiện đại hoá nền hành chính Nhà nước
+ Nền hành chính Nhà nước được hiện đại hóa một bước rõ rệt . . . Hiện
đại hóa công sở, bảo đảm trang thiết bị và điều kiện làm việc tương đối hiện đại
cho các cơ quan hành chính phục vụ yêu cầu quản lý Nhà nước kịp thời và thông
suốt;
+ Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều
hành của hệ thống hành chính Nhà nước; áp dụng các công cụ, phương pháp

dựng và hình thành một hệ thống thể chế kinh tế và hành chính phù hợp đã thu
được nhiều kết quả tích cực. Một khối lượng lớn các văn bản pháp luật bao gồm
luật, pháp lệnh do Chính phủ chuẩn bị trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội thông qua cho đến nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng
Chính phủ đã được ban hành. Trong đó có nhiều văn bản pháp luật quan trọng
như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân, Luật Đất đai, Luật Hải quan, Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà
nước. Luật Xây dựng, Luật Hợp tác xã, Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi
(2003). . .
Trong đó, chủ trương xây dựng hệ thống thể chế, đặc biệt là các thể chế
kinh tế tạo cho dân, doanh nghiệp, xã hội lòng tin được tự do làm văn bản theo
pháp luật những việc đã rõ được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật, việc
mới bắt đầu cho làm thí điểm, làm thử, thể hiện một sự tìm tòi, thử nghiệm để
cho dân, doanh nghiệp và xã hội phát triển, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà
trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, thể dục thể thao
3
.
1
Cần lưu ý l nà ội dung cải cách h nh chính cà ủa hai giai đoạn l không tách rà ời. Việc thực hiện cải cách
h nh chính giai à đoạn 2001-2005 sẽ cho chúng ta kinh nghiệm, cơ sở, tiền đề để thực hiện tiếp giai đoạn
2006-2010
2
Tham khảo thêm trang thông tin điện tử: ww.caicachhanhchinh.gov.vn
3
Chỉ tính riêng sự ra đời của Luật Doanh nghiệp cùng với những sửa đổi về thủ tục h nh chính trong cà ấp
hép đăng ký kinh doanh. Bãi bỏ khoảng 170 giấy phép các loại không phù hợp, đã cho kết quả, từ năm 2000
đến tháng 7/2003 đã có hơn 17.500 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (gấp 1,6 lần giai đoạn 1991-1999) với
số vốn đăn ký khoảng 9,5 tỷ USD, hơn 15.000 chi nhánh văn phòng đại diện v khoà ảng 80.000 hộ kinh doanh
cá thể đăng ký kinh doanh. Trên cơ sở đó đã tạo thêm 2 triệu chỗ l m vià ệc cho người lao đọng, góp phần
đáng kể v o sà ự tăng trưởng kinh tế của đất nước.

thủ tục kiểm soát chi qua kho bạc nhà nước; triển khai mạnh cơ chế "một cửa",
đơn giản thủ tục hành chính thuế, quy định rõ ràng và công khai thủ tục xét
miễn, giảm, hoàn thuế; thực hiện thí điểm cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh tự
kê khai, tự nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, quy trình
làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu được tổ chức lại mộtư
cách hoàn chỉnh, độc lập, thống nhất, một cửa, qua đó bỏ được các khâu trung
gian. Thông qua cơ chế một cửa", các thủ tục hành chính đã phần nào được đơn
giản hoá, công khai hoá, mối quan hệ giữa cơ quan hành chính công quyền với
người dân được cải thiện, từng bước thể hiện tính chất phục vụ dân, phục vụ xã
hội của bộ máy hành chính nhà nước
4
.
4
Tính đến tháng 6/2004 cá nước có 34,79% đơn vi cấp sở và 74% đơn vị cấp huyện đã thực
hiện cơ chế "một cửa". Mặc dù từ tháng 01/2005 cấp xã mới phái triển khai nhưng cho đến nay đã có
9,4% đơn vị cấp xã thực hiện cơ chế này.
www.vanthuluutru.com
10
Thứ hai, cải cách tổ chức bộ máy hành chính Cải cách tổ chức bộ máy
hành chính là đã điều chỉnh được một bước chức năng của Chính phủ, các bộ,
ngành trung ương và chính quyền địa phương cho phù hợp với yêu cầu quản lý
nền kinh tế thị trưởng định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính phủ đã ban hành
nhiều Nghị định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Theo đó, chức năng chủ yếu
của các bộ, cơ quan ngang bộ là tập trung vào quản lý vĩ mô, bao gồm hoạch
định chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và thanh tra, kiểm tra.
Bộ máy của Chính phủ và chính quyền địa phương đã được sắp xếp gọn
hơn; số lượng các đầu mối giảm nhiều so với trước năm 2001. Ngoài ra, tổ chức
và hoạt động của cơ quan hành chính được thay đổi thông qua một số các biện
pháp như:

phát triển đội ngũ cán bộ, công chức với các cơ chế tài chính, ngân sách của các
cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp dịch vụ công. Vì vậy, thời gian qua,
Chính phủ đã tập trung chỉ đạo thực hiện cải cách tài chính công thông qua các
chủ trương và giải pháp chủ yếu sau:
+ Chỉ đạo thực hiện Luật ngân sách nhà nước, cụ thể hoá các quy định
của Luật về thẩm quyền ngân sách của 4 cấp chính quyền là Trung ương, tỉnh,
huyện và xã;
+ Công khai hoá các vấn đề như ngân sách, phân bổ ngân sách, vốn xây
dựng v.v thông qua một loạt văn bản như quy chế dân chủ, quy chế đấu thầu
+ Tách rõ cơ chế tài chính cho hoạt động của cơ quan hành chính với các
đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công, cụ thể là:
Xây dựng và tổ chức thực hiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý
hành chính cho các cơ quan hành chính;
Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu. Thông
qua thực hiện các cơ chế này, các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự
nghiệp đã phát huy được tính chủ động trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh
giản biên chế, tiết kiệm trong chi tiêu, năng động trong giải quyết công việc .
Nhờ vậy, vừa có điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ
công, vừa tăng thu nhập, cải thiện được đời sống của cán bộ, viên chức. Đây là
bước đi thích hợp nhằm tách rõ các đơn vị sự nghiệp với cơ quan hành chính
công quyền.
b. Những hạn chế của cải cách hành chính
Thứ nhất, chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của bộ máy hành chính
trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa chưa được xác định
thật rõ và phù hợp; sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp chưa thật
rành mạch;
Thứ hai, hệ thống thể chế hành chính chưa đồng bộ, còn chồng chéo và
thiếu thống nhất; thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp;
trật tự, kỷ cương chưa nghiêm;
Thứ ba, tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; phương thức quản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status