nguyễn ái quốc truyền bá chủ nghĩa mác-lênin vào việt nam và các tổ chức tiền thân của đảng - Pdf 14

NGUYỄN ÁI QUỐC TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VÀO VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC TIỀN THÂN CỦA ĐẢNG
Giảng viên phụ trách: Tiến sĩ Lê Văn Manh
1. Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác-
Lênin và xác định luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc theo con
đường CMVS
1.1. Qúa trình Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước đúng
đắn, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành người cộng sản
a. Cuộc khủng hoảng về con đường cứu nước cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX
* Xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược,
thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa. Để bóc lột được lợi nhuận
thuộc địa tối đa, thực dân Pháp duy trì phương thức sản xuất phong kiến,
thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chúng
thực hiện chính sách độc quyền kinh tế về các mặt: xuất nhập khẩu, khai
thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, thuốc phiện, muối, rượu,
chiếm đất lập đồn điền, lập ra hàng trăm thứ thuế vô lý và vô nhân đạo.
Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho dân ta càng nghèo khổ,
nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng thực hành chính sách chuyên chế về chính
trị, làm cho dân ta không có một chút tự do, dân chủ nào. Để ngăn chặn tình
đoàn kết của dân tộc ta, chúng thực hiện chính sách "chia để trị".
Cùng với độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, về văn hoá,
thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân, nhằm giam hãm dân tộc ta trong
vòng nô lệ.
Những chính sách trên của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam
thay đổi, từ một xã hội phong kiến độc lập, Việt Nam trở thành một xã hội
thuộc địa, nửa phong kiến.
Về cơ cấu xã hội, bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp
nông dân đã tồn tại từ lâu, xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản
thành thị và giai cấp tư sản.

biểu cho ý chí chiến đấu bất khuất, kiên cường, bền bỉ của nông dân Việt
Nam là cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Thực dân
Pháp đã bốn lần dùng lực lượng lớn tiến công Yên Thế, nhưng đều bị nghĩa
quân đánh bại. Chỉ sau khi Hoàng Hoa Thám hy sinh (10-3-1913), cuộc khởi
nghĩa Yên Thế (kéo dài 30 năm từ 1883-1913) mới kết thúc.
- Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
Sau khi phong trào "Cần Vương" thất bại, nhiều sĩ phu yêu nước
hướng ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mới.
Đầu thế kỷ XX, trào lưu dân chủ tư sản qua sách báo của Khang Hữu
Vi, Lương Khải Siêu, gương Duy Tân của Nhật Bản, cuộc vận động hiến
pháp của Trung Quốc (1898), cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã
lôi cuốn nhiều sĩ phu yêu nước, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu
Trinh.
Là ngọn cờ của phong trào yêu nước chống Pháp hồi đầu thế kỷ, lúc
đầu Phan Bội Châu chủ trương lập chế độ quân chủ lập hiến, năm 1904 đã
lập Duy Tân hội để khôi phục độc lập dân tộc. Tuy vậy, ông vẫn chưa thấy
vai trò chủ lực của nông dân.
Năm 1912, ông cùng một số nhà yêu nước lập ra Việt Nam Quang
phục hội, từ bỏ lập trường quân chủ lập hiến, chuyển sang lập trường dân
chủ tư sản với chủ trương: đánh đuổi giặc Pháp, thành lập Cộng hoà dân
quốc Việt Nam. Năm 1924, ông quyết định cải tổ Việt Nam Quang phục
hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng, vạch đường lối chính trị phỏng theo
cương lĩnh Trung Hoa Quốc dân Đảng do Tôn Dật Tiên lãnh đạo. Ông
cũng có cảm tình với nước Nga Xôviết, chủ nghĩa xã hội và có ý đặt hy
vọng vào Nguyễn Ái Quốc.
Hạn chế lớn của ông là chủ trương dựa vào Nhật để đuổi Pháp. Sau
này, trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch,
Trần Dân Tiên đã nhận xét con đường đó chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước,
rước beo cửa sau".
Con đường cứu nước của Phan Bội Châu đã không thành công. Trong

Nguyễn Sinh Cung, ra đời tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng
Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay
thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862, quê ở làng Kim Liên
(thường gọi là làng Sen), cùng thuộc xã Chung Cự, cách Hoàng Trù 2km
(nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Xuất thân từ gia
đình nông dân, sớm mồ côi cha, mẹ, từ nhỏ đã chịu khó lao động và ham
học. Vì vậy, được cụ Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh
đem về nuôi. Ông vừa lao động vừa tiếp tục học tập. Khi trưởng thành ông
thành hôn với người con gái đầu của cụ.
Thân mẫu là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868. Bà là một phụ nữ cần
mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng
chăm lo cho chồng con ăn học.
Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba trong gia đình.
Chị là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh
năm 1884.
Anh là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm
1888.
Gia đình Nguyễn Sinh Cung sống trong một căn nhà nhỏ ba gian, lợp
tranh, trên đất vườn của ông bà ngoại tại Hoàng Trù.
Năm 1890 - 1895, Nguyễn Sinh Cung sống ở làng Hoàng Trù trong
tình thương yêu và chăm sóc của bố mẹ và ông bà ngoại. Ông ngoại là
Hoàng Đường, dạy chữ Hán ngay tại nhà cho một số trẻ em trong làng. Bà
ngoại là Nguyễn Thị Kép, làm ruộng để nuôi gia đình.
Ngày 22 tháng 5 năm 1893, Nguyễn Sinh Cung chịu tang ông ngoại.
Khoảng tháng 6 năm 1894, Nguyễn Sinh Cung đón nhận tin vui: Cha
đậu cử nhân, khoa thi giáp Ngọ năm thành Thái thứ 6 tại trường thi Nghệ
An.
Khoảng gần cuối năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha mẹ
vào Huế. Thời kỳ này từ Nghệ An đi Huế chưa có đường xe lửa và ô tô. Mọi

(Sinh Cung).
Cũng như nhiều vùng khác ở nông thôn Nghệ An, Làng Sen vốn đã
nghèo lại càng nghèo thêm từ khi mất nước. Tại đây, ngoài nghề làm ruộng,
bà con nông dân còn làm nhiều nghề khác như dệt vải, đan lát hoặc nghề sơn
tràng, kiếm củi, đốt than
Xưa kia, vùng này gọi là Trại Sen với những địa danh toàn sen: nào
Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu, Giếng Sen, Đầm Sen; nào Vực Sen, Bàu Sen,
Chợ Sen, Cồn Sen
Sen góp phần tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây nên mới gọi là
Làng Sen. Nhân dân Làng Sen tự hào vì làng mình đẹp, lại có nhiều nho sĩ
thường hay lui tới đàm đạo văn chương, thời thế.
Với tâm hồn thơ mộng, rất yêu thiên nhiên, Nguyễn Tất Thành tự hào
với cảnh đẹp của làng quê mình. Nhưng điều đáng tự hào hơn cả là làng Kim
Liên có nhiều di tích lịch sử và anh hùng hào kiệt. Ngay trước ngõ nhà cậu,
chếch về phía phải là Giếng Cốc, nơi bọn thực dân Pháp đã ra lệnh tát cạn
nước để tìm vũ khí của "chung nghĩa binh", khi chúng đã đàn áp được cuộc
khởi nghĩa Vương Thúc Mậu (năm 1886). Hình ảnh người anh hùng của quê
hương, người bạn dạy học của ông ngoại cậu đã hy sinh ngay tại làng để bảo
toàn khí tiết đã từng gây xúc động mạnh trong lòng Nguyễn Tất Thành.
Sau tháng 9 năm 1901, một vinh dự lớn cho Nguyễn Tất Thành là
được cha gửi sang học chữ Hán với thầy Vương Thúc Quý và thầy Trần
Thân ở ngay trong làng Kim Liên. Thầy Vương Thúc Quý vốn là nhà nho,
giàu lòng yêu nước cho nên Nguyễn Tất Thành và bạn học đều chịu ảnh
hưởng chí hướng của thầy. Nguyễn Tất Thành là một học trò nhanh trí và có
trí nhớ tốt, được thầy yêu mến. Học với thầy Vương Thúc Quý, Tất Thành
cảm thấy thoải mái, dễ hiểu vì thầy thức thời, không nệ cổ, không bắt học trò
nhồi sọ cổ văn theo lối "tầm chương trích cú". Là tấm gương sáng cho học
trò noi theo, thầy gợi cho Nguyễn Tất Thành những vấn đề mà trong bước
trưởng thành, anh còn phải tìm hiểu cho đến nơi đến chốn.
Khoảng năm 1901-1902, Nguyễn Tất Thành bước đầu tiếp thu tư

Xương, tỉnh Thái Bình trong dịp ông Nguyễn Sinh Sắc đi gặp các sĩ phu ở
vùng đó.
Theo cha đi khắp đó đây, tầm mắt Tất Thành được mở rộng, quả là "đi
một đoạn đàng, học một sàng khôn". Anh thấy đâu đâu cảnh nghèo đó cũng
phơi bày ra trước mắt. Nhan nhản người ăn xin ở khắp mọi nơi. Hầu như
làng quê nào cũng chỉ nổi lên vài ba ngôi nhà đồ sộ bên cạnh hàng trăm túp
lều xơ xác, tiêu điều. Mùa đông giá lạnh càng nhiều cảnh thê thảm hơn.
Không đủ manh áo che thân, nhiều người phải quấn tơi, chiếu hoặc bao tải
rách. Bọn đế quốc và địa chủ phong kiến đang hút tủy, rút xương dân chúng
bằng hàng trăm thứ thuế nặng nề và phu đài, tạp dịch. Từ người lớn đến trẻ
con ai ai cũng sợ "ông Tây". Anh Thành cảm thấy nỗi nhục mất nước hằn rõ
trên gương mặt mỗi người Việt Nam.
Tháng 9 năm 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được thân
phụ xin cho theo học lớp dự bị Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố
Vinh, cách Kim Liên khoảng 14 km.
Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu Rầm (Vinh) và thường
thường chiều thứ bảy đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh.
Chính tại Trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp
xúc với khẩu hiệu TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI.
Cái nôi quê hương giàu truyền thống bất khuất với bản sắc riêng của
xứ Nghệ đã tạo cho Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, thương dân,
căm thù giặc và ý chí "Làm trai cho đáng nên trai". Những tấm gương của
các thầy giáo và những hoạt động sôi nổi của các bậc cha chú như Phan Bội
Châu đã kích thích cao độ chí làm trai của anh. Thái độ bất hợp tác, ngầm
chống đối thực dân, phong kiến và nhận thức được thời cuộc, lòng thương
dân, yêu nước của thân phụ có ảnh hưởng sâu xa đến sự hình thành nhân
cách của anh.
b. Qúa trình Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước đúng
đắn và trở thành người cộng sản
Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19-5-1890, quê ở làng Kim Liên, huyện

Thần Tự do, Nguyễn Tất Thành không để ý đến ánh hào quang quanh đầu
tượng mà xúc động trước cảnh những nô lệ da đen dưới chân tượng.
Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành từ Mỹ sang Anh và cuối năm
1917 trở lại Pháp.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) giết hại biết bao sinh
mạng, phá huỷ vô vàn của cải. Qua đó, Nguyễn Ái Quốc càng hiểu thêm bản
chất của chủ nghĩa tư bản.
Quá trình nghiên cứu, xem xét Cách mạng tư sản Mỹ (1776) và Cách
mạng tư sản Pháp (1789) đã giúp Nguyễn Ái Quốc học hỏi được nhiều điều.
Tuy vậy, Người vẫn đánh giá những cuộc cách mạng tư sản là "những cuộc
cách mạng không đến nơi".
Chiến tranh kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị hoà bình ở
Vécxây (Pháp) để chia phần. Thay mặt Hội những người Việt Nam yêu
nước, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị bản yêu sách 8 điểm. Trong khi
chờ đợi giải quyết vấn đề dân tộc tự quyết, Người chỉ đề cập những yêu sách
"tối thiểu" và "cấp thiết". Tổng thống Mỹ Uynxơn (Wilson), tác giả chương
trình 14 điểm với chiêu bài dân tộc tự quyết cũng có mặt ở Hội nghị. Nhưng
những yêu sách dù khiêm tốn của Người không được Hội nghị đáp ứng.
Sự kiện này đã giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ "chủ nghĩa Uynxơn chỉ
là một trò bịp bợm lớn ". Những lời tuyên bố tự do của nhà chính trị tư sản
trong lúc chiến tranh thực ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân
tộc. Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông
cậy vào lực lượng của bản thân mình. Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia
nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ hồi bấy giờ, Người có dịp tiếp
xúc, hoạt động với nhiều nhà chính trị nổi tiếng ở Pháp. Nguyễn Ái Quốc
tìm hiểu và hoạt động trong phong trào công nhân, liên lạc và cùng hoạt
động với nhiều nhà cách mạng ở nhiều thuộc địa Pháp.
Ba là: Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo
Quốc tế Cộng sản.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi là sự kiện chính trị

nhanh chóng nhận ra chân lý thời đại: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao
động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Khác với các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc có một phương
pháp nghiên cứu độc lập, tự chủ, sáng tạo, đem lý luận đối chiếu với thực
tiễn, lấy mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội làm tiêu chuẩn đánh
giá các học thuyết, tiếp thu kinh nghiệm cách mạng thế giới có chọn lọc.
Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã được thể hiện
nổi bật trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin, vạch ra đường lối cứu
nước đúng đắn cho dân tộc ta.
1.2.Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin và xác định
luận điểm cách mạng theo con đường CMVS
Nguyễn Ái Quốc phác thảo đường lối cứu nước từ năm 1921 và thể
hiện tập trung trong tập bài giảng ở lớp chính trị tại Quảng Châu, năm 1927
được in thành sách lấy tên là Đường Cách mệnh. Nội dung cơ bản của tác
phẩm như sau:
Một là: Chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của
đại đa số dân chúng.
Nguyễn Ái Quốc giới thiệu những cuộc cách mạng điển hình trên thế
giới, từ Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776 đến Cách mạng tư sản Pháp năm
1789, từ Công xã Pari năm 1871 đến Cách mạng Tháng Mười Nga năm
1917 và sau khi so sánh cách mạng tư sản với cách mạng vô sản, Người
khẳng định: "Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh
tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực
trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.Cách mệnh đã
4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa
mới hòng thoát khỏi vòng áp bức".
Người khẳng định: "Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là
đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái
hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như

hướng mới.
Gần mười nǎm bôn ba khắp các châu lục (1911-1920), Người đến những
nước thuộc địa và những nước đế quốc như Anh, Mỹ, Pháp quan sát,
nghiên cứu, suy nghĩ, đã phát hiện một chân lý: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa
đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ của giai cấp công nhân với
nhân dân lao đồng ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa
Dưới ánh sáng Cách mạng tháng Mười, Đề cương về vấn đề dân tộc và
thuộc địa của Lênin và ảnh hưởng của cuộc đấu tranh thành lập Đảng công
sản Pháp , chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý cách mạng của thời đại đã sớm
được khẳng định trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc.
Tháng 12 nǎm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua,
đồng chí Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản
và chủ trương thành lập Đảng cộng sản Pháp. Giải thích việc làm đầy ý
nghĩa đó, đồng chí Nguyễn ái Quốc viết: "Đệ tam Quốc tế nói sẽ giúp đỡ các
dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Còn Đệ nhị Quốc tế
không hề nhắc đến vận mạng các thuộc địa. Vì vậy, tôi đã bỏ phiếu tán thành
Đệ tam Quốc tế. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đây là tất
cả những điều tôi muốn."
Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập
trường chính trị của đồng chí Nguyễn ái Quốc.
Từ đó Người xác định con đường giải phóng đúng đắn cho dân tộc Việt
Nam là: giải phóng giai cấp vô sản mới thực sự giải phóng được dân tộc; cả
hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp cua chủ nghĩa cộng sản và
của cách mạng thế giới .
Từ khi trở thành người cộng sản, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã xúc tiến mạnh
mẽ việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào giải phóng dân tộc
và phong trào vô sản ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Cuối nǎm 1921, tại Đại hội lân thứ nhất của Đảng cộng sản Pháp, đồng chí
Nguyễn ái Quốc đã trình bày dự thảo nghị quyết về vấn đề "chủ nghĩa cộng
sản và thuộc địa", và kiến nghị thành lập Ban nghiên cứu thuộc địa của

mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa, phải thực hiện sự liên minh chật
chẽ với nhau để chống kẻ thù chung, vì "chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm
cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng".
Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả nǎng cách mạng to lớn. Phải làm cho
các dân tộc thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau
hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai,
khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản".
Bản án chế đô thực dân. Pháp đã phê phán thái độ "cầu cạnh xin xỏ thay
đổi quốc tịch" của một số người mang tư tưởng cải lương tư sản, đồng thời
đề cao tinh thần tự lực, tự cường, tự mình giải phóng cho mình: "công cuộc
giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân
anh em" và hướng cách mạng thuộc địa phát triển theo con đường cách
mạng của Quốc tế cộng sản.
Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm lý luận đầu tiên của cách mạng
nước ta, góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Nhờ tác
phẩm đó và các bài viết của đồng chí Nguyễn ái Quốc, nhân dân ta, trước
hết là những người trí thức tiểu tư sản yêu nước, tiến bộ đã hướng về và tiếp
thụ chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tháng 6 nǎm 1923, đồng chí Nguyễn ái Quốc rời nước Pháp đến Mátxcơva
để tham dự Hội nghị nông dân quốc tế tân thứ nhất (10-1923); đồng thời trực
tiếp học tập, nghiên cứu kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga và chủ
nghĩa Lênin. Ngày 17-6-1924, đồng chí được Trung ương Đảng cộng sản
Pháp uỷ nhiệm tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản. Sau đó, đồng
chí còn tham gia các đại hội Quốc tế công hội đỏ, Quốc tế phụ nữ, Quốc tế
thanh niên, Quốc tế cứu tế đỏ Tại các Đại hội quốc tế nói trên, đồng chí
Nguyễn ái Quốc tiếp tục làm rõ những quan điểm của mình về vai trò lịch sử
của giai cấp vô sản thuộc địa, về mối quan hệ giữa phong trào cách mạng ở
thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc và nêu rõ sự cần thiết phải thủ
tiêu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc trước khi xoá bỏ chế độ thối
nát này trên toàn thế giới.

hay chống đi phu đi lính vẫn nhằm vào bọn tư bản thực dân và tay sai của
chúng, nhưng đã có tổ chức, có kỷ luật hơn.
Phản ánh bước phát triển này, đồng chí Tôn Đức Thắng, một chiến sĩ
cách mạng vô sản đã từng kéo cờ phản chiến trên hạm đội của Pháp ở Hắc
Hải để bảo vệ Cách mạng tháng Mười Nga, đã viết: Từ chỗ phong trào rời
rạc, nhờ ảnh hưởng của cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp, báo Người cùng
khổ, và mấy tờ Việt Nam hồn, mà bước đâu lan rộng, bước đâu có tổ chức,
để đầu nǎm 1927 công nhân đi vào phong trào Thanh niên cách mạng đồng
chí Hội một cách sâu rộng.
Từ hình thức các hội hữu ái, tương tế, giai cấp công nhân đã tự tổ
chức ra công hội. Từ công hội nhà máy Ba Son (1925) đã ra đời các công
hội nhà máy xe lửa Trường Thi (Vinh - Nghệ An), công hội nhà máy xi
mǎng Hải Phòng, công hội nhà máy dệt Nam Định, công hội các mỏ than
Mạo Khê, Hồng Gai v. v Ngày 28 tháng 4 nǎm 1929, Tổng công hội Bắc
Kỳ được thành lập. Tiếp đó, tháng 10 nǎm 1929, Tổng công hội Nam Kỳ
cũng ra đời.
Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội cũng hoạt động và phát
huy ảnh hưởng mạnh mẽ trong phong trào nông dân và có vai trò quyết định
trong việc làm cho phong trào nông dân ngày càng xích lại gần phong trào
công nhân.
Thực tế lịch sử Việt Nam chứng minh rằng, trong cuộc đấu tranh
giành quyền lãnh đạo cách mạng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản,
phần quyết định là giai cấp nào nắm được nông dân. Cương lĩnh của Việt
Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã đề ra: "Tịch ký và đem về công
tất cả ruộng đất của tụi đồn điền nhà chung và quý tộc, vua chúa. Tịch ký và
đem về công tất cả ruộng đất của địa chủ trên 100 mẫu. Đất ruộng tịch ký về
phân phối cho dân cày cày cấy chung". Khẩu hiệu đấu tranh của Việt Nam
thanh niên cách mang đồng chí Hội có nói: "Miễn thuế ruộng nǎm mất mùa"
"Đất bồi, đất hoang về dân cày. Phản đối sự cưỡng chiếm những đất ấy",
"Thực hành 1/4 lúa ruộng cho địa chủ, đồn điền", "miễn góp lúa ruộng nǎm

Chủ trương của hội là lãnh đạo quần chúng trong nước, và liên lạc với
các dân tộc bị áp bức trên thế giới nhằm" Đánh đổ đế quốc, xây dựng một xã
hội bình đẳng, bác ái ". Lực lượng chủ yếu là các trí thức,thanh niên tiểu tư
sản yêu nước. Hội hoạt động chủ yếu ở phạm vi các tỉnh Trung kỳ.
Đảng Tân Việt hoạt động trong điều kiện Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên phát triển mạnh nên các đảng viên Đảng Tân Việt chịu ảnh
hưởng từ tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, tác phẩm Đường Kách Mệnh được
coi như kim chỉ nam của hội viên Đảng Tân Việt. Một số đảng viên trẻ gia
nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, còn số đảng viên còn lại thì ở lại
tích cực chuẩn bị thành lập một chính đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng của Nguyễn Ái Quốc.
Đến tháng 9 năm 1929, một số đảng viên tiên tiến của Đảng Tân Việt
tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn, hình thành nhiều chi bộ
ở Trung kì, Nam kì và cả ở Bắc kì. Theo kế hoạch Đông Dương Cộng sản
liên đoàn chính thức họp đại hội ngày 1 tháng 1 năm 1930, song do nhiều
đại biểu trên đường đi bị địch bắt, nên đại hội không thể tiến hành được. Tuy
vậy, với Tuyên đạt tháng 9-1929, Đông Dương Cộng sản liên đoàn vẫn
chính thức ra đời, hoạt động, lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Ngày 24 tháng
2 năm 1930, Đông Dương Cộng sản liên đoàn đã gia nhập Đảng Cộng sản
Việt Nam.
- Ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam
Cùng với tổ chức Việt Nam cách mạng Thanh niên, Tân Việt cách
mạng Đảng đã góp phần quan trọng cho sự phát triển của cách mạng Việt
Nam cuối thế XIX, đầu thế kỷ XX.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status