sự tăng trưởng kinh tế đất nước kéo theo sự phát triển của ngành bảo hiểm - Pdf 14

ĐỀ TÀI 3 :
SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐẤT NƯỚC
KÉO THEO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
NGÀNH BẢO HIỂM
SVTH: l p NH04-K33ớ
NGUY N TH C M HÂN_stt:11Ễ Ị Ẩ
NGUY N TH THANH LAN_stt:17Ễ Ị
NGÔ TH M LINH_stt:19Ị Ỹ
NGUY N TH QU NH TRANG_stt:39Ễ Ị Ỳ
NGUY N TH KIM UYÊN_stt:43Ễ Ị
Page | 1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I.Mối quan hệ 2 chiều giữa bảo hiểm và tăng trưởng kinh tế: 2
1.1.Tác động của phát triển kinh tế đối với bảo hiểm: 2
1.2.Vai trò của bảo hiểm trong việc góp phần tăng trưởng kinh tế: 2
II.Sự phát triển kinh tế tại Việt Nam trong những năm qua tạo tiền đề
quan trọng cho ngành bảo hiểm phát triển: 5
2.1.Kinh tế tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng tác động tích cực
đến mọi mặt đời sống xã hội: 5
2.2. Những bước tiến về phát triển kinh tế tác động tích cực đến ngành
bảo hiểm: 8
2.3.Diễn biến của tăng trưởng ngành bảo hiểm theo sát với diễn biến
tăng trưởng của nền kinh tế: 11
2.4.Đánh giá chung về thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay: 13
Page | 2
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu của tất cả các
quốc gia. Một nền kinh tế tăng trưởng tốt, ổn định cả về qui mô lẫn chiều
sâu sẽ tạo ra một nền tảng và động lực phát triển cho tất cả các ngành
trong nền kinh tế cũng như đóng góp vào an sinh xã hội. Lĩnh vực bảo

động nữ)…
1.2.Vai trò của bảo hiểm trong việc góp phần tăng trưởng kinh tế:
• Huy động vốn để đầu tư cho những dự án trung và dài hạn nhằm
góp phần phát triển đất nước
 Với vai trò trung gian tài chính, các tổ chức bảo hiểm thực hiện các
hoạt động thu hút, tập trung các nguồn vốn, chuyển hoá vốn và đầu tư
vốn. Trên phương diện quan hệ cung - cầu vốn, việc gom góp nhiều
khoản phí bảo hiểm, hoặc các khoản đóng góp “nhỏ” từ số lượng lớn
các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm chính là quá trình “huy động,
tập trung vốn” của bảo hiểm. Hoạt động bảo hiểm tạo nên các kênh
huy động vốn quan trọng trong nền kinh tế.
 Mặt khác phần lớn lượng tiền mà các tổ chức bảo hiểm tập trung được
từ phí bảo hiểm, hoặc tiền đóng góp bảo hiểm có thời gian tạm thời
Page | 4
nhàn rỗi. Hơn nữa, việc vận dụng luật số lớn đã tạo tiền đề cho việc
chuyển hoá thời hạn vốn bằng cơ chế chạy tiếp sức của nhiều khoản
phí bảo hiểm, tiền đóng góp và qua hoạt động bảo hiểm, các khoản
tiền nhỏ, lẻ, ngắn hạn được tập hợp để hình thành nguồn vốn lớn, tập
trung có thể đáp ứng các nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế.
 Thực tế, các tổ chức bảo hiểm vẫn sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi đó để đầu tư vào nhiều lĩnh vực và chủ yếu là đầu tư gián tiếp trên
thị trường tài chính, nhất là thị trường chứng khoán. Hoạt động đầu tư
tích cực của các doanh nghiệp bảo hiểm còn có tác dụng tăng quy mô
và độ lưu hoạt của thị trường tài chính, kích thích các luồng vốn vận
động theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng tính khả thi của
những dự án lớn, nâng cao hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực
tài chính có hạn trong nền kinh tế
 Trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện các Hiệp định thương
mại song phương và đa phương của Việt Nam, bảo hiểm là một lĩnh
vực quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tác thương mại lớn

chỗ dựa tinh thần cho người được bảo hiểm. Khi một người trụ cột
trong gia đình bị tai nạn dẫn đến thương tật hoặc chết, bản thân người
đó hoặc những người sống phụ thuộc sẽ rơi vào tình trạng khó khăn
về mặt tài chính. Hơn lúc nào hết, họ sẽ cần đến nguồn tài chính kịp
thời để bù đắp thiệt hại, lấy lại sự cân bằng, ổn định tình hình tài
chính.Do đó ,bảo hiểm ra đời để đáp ứng nhằm đáp ứng nhu cầu đó
một cách nhanh chóng giúp họ sớm ổn định để tiếp tục hoạt động tạo
của cải cho xã hội.
• Tạo công ăn việc làm cho nhiều người ,góp phần ổn định an ninh,
trật tự cho xã hội và tăng trưởng kinh tế cho đất nước .
 Trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ, các công ty BH muốn phát
triển sản phẩm và mở rộng thị trường của mình thì phải cần đến một
hệ thống đại lý có quy mô lớn để giúp tuyên truyền, tư vấn và phân
phối các sản phẩm BH của doanh nghiệp đến khách hàng. . Do đó, các
công ty BH cần một số lượng lớn các nhân viên sử dụng máy vi tính,
nhân viên thống kê, kế toán…vì đối tượng và phạm vi rộng, thời gian
dài, Nhờ đó tạo được việc làm cho hàng ngàn lao động, góp phần ổn
định an ninh, trật tự cho xã hội và tăng trưởng kinh tế cho đất nước .
Page | 6
⇒ Như vậy có thể nói BH vừa là nguồn bổ sung vốn đầu tư phát triển,
vừa tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt khó khăn cho
cá nhân và gia đình người gặp rủi ro, nhằm góp phần bảo vệ an ninh
quốc gia, bảo đảm và ổn định đời sống kinh tế – xã hội ở mỗi quốc
gia. Do vậy, đối với những quốc gia vai trò đảm bảo xã hội của Nhà
nước còn chưa mạnh thì cần đẩy mạnh dịch vụ BH dài hạn vì nó góp
phần hỗ trợ cho ngân sách Nhà nước giải quyết được một số khó khăn
vể kinh phí đảm bảo xã hội và đầu tư phát triển.
Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm đã đóng góp một phần không nhỏ vào
sự phát triển cuả nền kinh tế trên thế giới. Ngày nay tham gia bảo hiểm trở
thành một nhu cầu tất yếu của người dân các nước phát triển cũng như các

lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng ngày càng được cải thiện.
Điều đó thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau:
• Thu nhập theo đầu người ngày càng tăng. Trước thời kỳ đổi mới, phần
lớn dân số nước ta sống bằng nghề nông, Việt Nam bị đánh giá là một
đất nước nghèo nàn, lạc hậu, với mức thu nhập bình quân đầu người
rất thấp và có nhiều người trong diện nghèo đói. Đường lối đổi mới và
chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm
cho người lao động, dẫn đến nâng cao thu nhập cho người dân. Tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn
1990 - 2002 đạt trung bình 5,2%. Thu nhập bình quân đầu người năm
2007 của người dân Việt Nam đã đạt 820 USD/năm. So với năm
1995, mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay của Việt Nam đã
tăng khoảng 2,8 lần.
• Tỷ lệ nghèo đói có xu hướng giảm mạnh. Trên cơ sở kinh tế tăng
trưởng nhanh, mức độ nghèo đói của dân cư giảm mạnh. Năm 2006,
tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam là 18,1% (tính theo chuẩn nghèo quốc tế)
và được thế giới đánh giá là thành công trong việc chống nghèo đói.
• Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng lên đáng kể.
Nhờ chú trọng giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, hạn chế tỷ lệ
sinh, nên chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã được cải thiện
đáng kể. Năm 2006, HDI của Việt Nam đạt 0,709, cao hơn nhiều
nước có cùng trình độ phát triển kinh tế. Tính trong giai đoạn 1995-
2007 mỗi năm chỉ số HDI của Việt Nam tăng 1,16%.
Page | 8
• Đời sống kinh tế, sinh hoạt của người dân ngày càng được cải thiện.
Đến nay ở Việt Nam có 89,4% xã đã có điện, 94,6% xã có đường trải
nhựa, 98,9% xã có trường tiểu học và 99% các xã có trạm y tế. Nhiều
mục tiêu đề ra đã đạt được hoặc vượt mức như tỷ lệ chết ở trẻ em dưới
1 tuổi chỉ còn 2,1%, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 25%,
tỷ lệ thôn bản có cán bộ y tế cộng đồng đạt 79,8%. Tuổi thọ của người

điều tiết, tôn trọng quan hệ cung cầu, khuyến khích kinh tế tư nhân,
hình thành hàng loạt các thị trường, Việt Nam đã có Luật Đầu tư
nước ngoài từ năm 1987, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty
(năm 1991). Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đã bảo đảm sự tồn tại và
phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trường và khu vực đầu tư nước ngoài. Tiếp theo đó là hàng
loạt đạo luật quan trọng để vận hành nền kinh tế thị trường đã ra đời
như Luật Đất đai, Luật Thuế, Luật Phá sản, Luật Môi trường, Luật
Lao động và hàng trăm pháp lệnh, nghị định khác của Chính phủ
nhằm cụ thể hóa việc thực hiện luật và thực hiện các chương trình
phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với việc hình thành khuôn khổ pháp
lý cho nền kinh tế thị trường, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng
từng bước được hình thành. Chính phủ đã chủ trương xóa bỏ cơ chế
tập trung, quan liêu, bao cấp, nhấn mạnh quan hệ hàng hóa - tiền tệ,
tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế, thành lập hàng loạt các tổ
chức tài chính ngân hàng, hình thành những thị trường cơ bản như: thị
trường tiền tệ, lao động, hàng hóa, đất đai, khoa học và công nghệ,
Cải cách hành chính được đẩy mạnh. Chiến lược cải cách hành chính
giai đoạn 2001 - 2010 chính là một quyết tâm lớn của Chính phủ Việt
Nam, trong đó nhấn mạnh đến việc sửa đổi các thủ tục hành chính,
luật pháp, cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra sự năng động, đáp ứng
nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
2.2. Những bước tiến về phát triển kinh tế tác động tích cực đến ngành
bảo hiểm:
• Nền kinh tế phát triển tạo tiền đề cho các ngành nghề phát triển
như giao thông vận tải đường bộ, hàng không, xuất nhập khẩu
làm tiền đề cho BH phát triển. Nền kinh tế tăng trưởng cao đòi hỏi
nhu cầu vốn và nhu cầu BH phải đáp ứng, từ đó làm tiền đề cho BH
nhân thọ, tín dụng ngân hàng, chứng khoán phát triển. Vốn tích lũy
tích tụ từ dự phòng nghiệp vụ BH có nhiều cơ hội đầu tư sinh lãi cao,

• Môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng
ngày càng được hoàn thiện. Pháp luật ngày càng hoàn thiện và mang
tính tương thích với nhau nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của người tiêu dùng của DN ngày một tốt hơn làm phát sinh theo nhu
cầu BH như:BH trách nhiệm nghề nghiệp bác sĩ, luật sư, tư vấn thiết
Page | 11
kế…; BH tài sản; BH rủi ro tài chính; BH trách nhiệm sản phẩm của
các tổ chức sản xuất, kinh doanh; BH trách nhiệm dân sự của các chủ
doanh nghiệp… Luật KDBH sẽ được sửa đổi, bổ sung, tăng cường
hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy tính chủ động, sáng tạo của
DNBH, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia BH là
môi trường thuận lợi để thị trường BH phát triển.
• Tầng lớp dân cư có thu nhập cao ngày càng đông đảo, bao gồm
giới chủ DN tư nhân, các chuyên gia giỏi trong DNVN và DN có vốn
đầu tư nước ngoài, các chủ hộ kinh doanh, các chủ trang trại đều có
nhu cầu BH Nhân thọ cho mình và người thân.Theo đà phát triển kinh
tế - xã hội và sự hình thành gia đình hạt nhân (bố mẹ và con), làm cho
nhu cầu hoạch định tài chính và nhu cầu độc lập tài chính ngày càng
cao, nhằm tạo lập một cuộc sống ổn định, tự chủ và có mức hưởng thụ
cao. Chẳng hạn, quan niệm “trẻ cậy cha, già cậy con” của người Việt
Nam đến nay đã có nhiều thay đổi, đặc biệt ở các thành phố lớn. Các
cá nhân đã quan tâm nhiều hơn đến nguồn tài chính khi nghỉ hưu, hết
sức lao động để có thể sống độc lập về tài chính, không phải lệ thuộc
hoặc dựa vào con cái, người thân.
Page | 12
2.3.Diễn biến của tăng trưởng ngành bảo hiểm theo sát với diễn biến
tăng trưởng của nền kinh tế:
Đơn vị tính : tỷ đồng
Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng trưởng của doanh thu
ngành bảo hiểm và GDP tại Việt Nam qua các năm

tốc độ tăng trưởng GDP, trong đó doanh thu phí bảo hiểm tăng từ
10.390 tỷ đồng lên 21.195 tỷ đồng (tăng 15,33%), doanh thu hoạt
động đầu tư tăng từ 985 tỷ đồng lên 4.926 tỷ đồng (tăng 37,95%).
Thống kê của Hiệp hội BH Việt Nam cho thấy, nếu như năm 1999, thị
trường này mới chỉ có 20 sản phẩm BH, đến nay khối BH phi nhân
thọ đã có 600 sản phẩm do DN BH đăng ký với Bộ Tài chính và 3 sản
phẩm bắt buộc. Khối BH nhân thọ cũng có gần 200 sản phẩm BH
được Bộ Tài chính phê duyệt, với nhiều sản phẩm BH đòi hỏi công
nghệ BH cao như BH hàng không, dầu khí, đóng tàu hay các công
trình ngầm Trong năm 2009, hình thức liên kết giữa ngân hàng và
bảo hiểm là Banccassurance cũng có bước phát triển sâu hơn, những
sản phẩm của loại hình này gắn liền với những sản phẩm dịch vụ của
ngân hàng, tạo nhiều tiện ích cho người tham gia bảo hiểm.
• Về tốc độ tăng trưởng doanh thu: Sự xuất hiện của nhiều DN BH trên
thị trường là điều kiện để cho khách hàng có thêm lựa chọn khi quyết
định mua BH, đồng thời tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.
Những năm gần đây, ngành BH liên tục đạt tốc độ tăng trưởng
Page | 14
caoNếu như năm 1993, doanh thu ngành BH mới chỉ đạt 700 tỷ đồng,
chiếm 0,37% GDP, thì đến năm 2008, con số này ước đạt 21.314 tỷ
đồng, chiếm 2,22% GDP. Năng lực tài chính của các DN BH cũng
liên tục được cải thiện. Nếu như năm 1993, ngành BH có vốn chủ sở
hữu 145 tỷ đồng, dự phòng nghiệp vụ 188 tỷ đồng, thì đến nay vốn
chủ sở hữu đã lên tới hơn 17.500 tỷ đồng, dự phòng nghiệp vụ đạt tới
35.485 tỷ đồng.
2.4.Đánh giá chung về thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay:
• Tính đến hết tháng 6 năm 2010, tổng số DN bảo hiểm trên thị trường
là 50 đơn vị, trong đó có 28 DN bảo hiểm phi nhân thọ, 11 DN bảo
hiểm nhân thọ, 10 DN môi giới bảo hiểm và 1 DN tái bảo hiểm. Theo
số liệu từ Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, tổng doanh thu phí bảo

Nam năm 2009 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng sâu rộng đến các ngành
kinh tế. Trong khi đó, theo nhận định của Hiệp hội BH Việt Nam, thị
trường này đang bộc lộ nhiều yếu kém. Tình trạng cạnh tranh gay gắt
thông qua hình thức hạ phí BH, hạ tỷ lệ bồi thường, trích lập dự
phòng chưa đủ, để hồ sơ bồi thường tồn đọng nhiều… vẫn xảy ra phổ
biến. Những tồn tại này khiến uy tín của các DN BH giảm, đồng thời
gây ra những bức xúc cho khách hàng. Gần đây nhất, việc 16 DN BH
phi nhân thọ thỏa thuận cùng nhau nâng phí BH đã khiến dư luận
phản ứng gay gắt. Vụ việc đã khiến Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công
thương phải vào cuộc điều tra do nhận thấy có dấu hiệu vi phạm Luật
Cạnh tranh. Ngay sau đó, Hiệp hội BH cũng đã phải ra quyết định
ngừng thực hiện quyết định tăng phí gây tranh cãi này…
 Cơ hội và thách thức cho bảo hiểm Việt Nam:
∗ Cơ hội: thống kê cho thấy, thị trường BH hiện rất giàu tiềm
năng bởi hiện tại mới chỉ có 5% người dân có hợp đồng BH
nhân thọ. Bên cạnh đó,kinh tế hồi phục và hoạt động sản xuất,
kinh doanh du lịch sôi động được kỳ vọng sẽ tiếp tục mang lại
nhu cầu cho các DN bảo hiểm. Năm 2010, GDP kế hoạch đạt
6,5%. Theo đó, với tốc độ tăng trưởng của thị trường bảo hiểm
VN thường cao hơn tăng trưởng GDP khoảng 3 lần, ngành bảo
hiểm có thể tăng khoảng 17% trong năm 2010. 3 DN BH lớn là
BVH, BMI, PVI đều đưa kế hoạch tăng trưởng 10% trong năm
nay. Nếu xét dưới góc độ là kênh đầu tư tài chính, các yếu tố
Page | 16
kinh tế vĩ mô ổn định cũng là điều kiện thuận lợi cho ngành bảo
hiểm. Thị trường trái phiếu được kỳ vọng sẽ sôi động do lãi
suất tăng cao. Thị trường chứng khoán quý I có những dấu hiệu
tích cực trong những phiên đầu tháng 3 cho thấy cơ hội đầu tư
đối với các DN có nguồn vốn dồi dào như bảo hiểm.
∗ Thách thức đối với ngành bảo hiểm: Cạnh tranh thị phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status