Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Nội dung
1. UBND
2. HĐND
3. CNTT
4. CNH-HĐH
5. QLNN
6. CBCC
Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân
Công nghệ thông tin
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Quản lý Nhà nước
Cán bộ công chức
Báo cáo thực tập
1
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
PHẦN I: BÁO CÁO QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
A. Nhật ký thực tập
STT TUẦN NỘI DUNG KẾ HOẠCH
1 Tuần 1
- Liên hệ gặp mặt đơn vị thực tập.
- Bước đầu làm quen với hướng dẫn của cán bộ, công
chức của Văn phòng Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc.
2 Tuần 2
- Tham gia sắp xếp lại hồ sơ, tài liệu theo từng mục.
- Làm một số công việc hành chính văn phòng như xin
dấu, photocoppy tài liệu.
nhiều hơn với những công việc thực tế, tiếp xúc với các hình thức, phương pháp và
nội dung đào tạo đội ngũ CBCC, công tác quản lý CBCC. Với đề tài đã lựa chọn,
em đã được Lãnh đạo cũng như các anh chị chuyên viên tại Văn phòng Sở Nội vụ
tỉnh Vĩnh Phúc luôn tạo điều kiện, cung cấp đầy đủ tư liệu và hướng dẫn nhiệt tình
trong quá trình thực hiện các công việc được giao, cũng như trong quá trình hình
thành đề cương viết báo cáo.
Hơn nữa, quá trình thực tập tại đây, với môi trường làm việc đoàn kết, chan
hòa, tác phong làm việc nhanh lẹ, năng động, sáng tạo và tận tâm của các CBCC là
tấm gương lớn để em học tập và noi theo. Em nhận thức được rằng, thời gian đi
thực tập không chỉ giúp em có điều kiện tiếp xúc với công việc thực tế, có điều kiện
vận dụng sáng tạo những kiến thức có trong nhà trường, mà em còn có thể thu được
những kinh nghiệm thực tế như: rèn luyện được khả năng giao tiếp, lối sống, văn
hóa ứng xử trong các cơ quan hành chính Nhà nước cũng như trong cuộc sống; rèn
luyện sự tự tin, sáng tạo của bản thân.
Sau quá trình thực tập, em có thể soạn thảo các văn bản theo đúng yêu cầu về
thể thức và nội dung; kỹ năng sử dụng tin học văn phòng ngày càng hoàn thiện hơn;
đồng thời biết sử dụng các thiết bị văn phòng như máy in, máy photocoppy; biết
đóng dấu, vào sổ văn bản, biết phân loại các giấy tờ hành, chính…
Thời gian thực tập là một quá trình vô cùng hữu ích và cần thiết giúp em có
những kinh nghiệm thực tiễn, tiếp cận những công việc từ thực tiễn để bổ sung kiến
Báo cáo thực tập
3
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
thức cho phần lý thuyết đã được tiếp thu trên giảng đường nhằm nâng cao trình độ
lý luận của mình sau khi ra trường.
Một lần nữa, em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Học viện, tới Cô hướng
dẫn thực tập, và các anh chị tại Văn phòng Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp em
hoàn thành tốt quá trình thực tập này!
Báo cáo thực tập
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
Chính vì những lý do đó, để tìm hiểu rõ hơn về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức, trong đợt thực tập tại Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc, em chọn đề tài thực
tập “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức tại Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc ”.
Do kiến thức của em còn nhiều hạn chế, đồng thời thiếu những kinh nghiệm
thực tiễn nên bản báo cáo này còn nhiều thiếu sót. Em mong nhận được sự chỉ bảo,
giúp đỡ của các thầy cô và những nhận xét, đóng góp của các bạn để bản báo cáo
của em đạt kết quả tốt hơn!
Báo cáo thực tập
6
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỞ NỘI VỤ TỈNH VĨNH PHÚC VÀ
VĂN PHÒNG SỞ NỘI VỤ TỈNH VĨNH PHÚC
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc miền núi trung du Bắc bộ, cách thủ đô Hà Nội 60km.
Vĩnh Phúc tiếp giáp các tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên về phía Bắc; phía Đông
và Đông nam giáp Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp tỉnh Hà Tây.
Địa hình của tỉnh chủ yếu là trung du và đồng bằng, đồi núi thấp. Nhiệt độ
trung bình năm khoảng 23,4ºC. Vùng núi Tam Đảo khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung
bình năm khoảng 21ºC, là nơi nghỉ mát lý tưởng của miền Bắc. Chảy qua Vĩnh
Phúc có 4 dòng chính: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ. Với các
công trình di tích lịch sử có giá trị, tập trung xung quanh Vĩnh Phúc, tạo cho Tỉnh
trở thành một trong những danh lam thắng cảnh nổi bật của cả nước.
1.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Nền kinh tế của Tỉnh trong những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng ổn
định. Năng suất cây trồng khá, chăn nuôi gia súc, thuỷ sản phát triển ở hầu hết các
địa phương trong tỉnh. Hiện nay, Vĩnh Phúc đã vươn lên đứng thứ 7 trong cả nước
đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Nội vụ.
1.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn
Căn cứ thông tư số 04/2008/TT-BNV ngày 04/92008 của Bộ Nội vụ và Quyết
định số 3007/QĐ-UBND ngày 03/8/2008 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc hướng dẫn về
chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ, có thể tóm tắt một
số nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản như sau:
Báo cáo thực tập
8
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
- Trình UBND tỉnh dự thảo các quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài
hạn, năm năm, hàng năm và các đề án, dự án; chương trình thuộc phạm vi quản lý
Nhà nước của Sở trên địa bàn tỉnh.
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề
án, dự án, chương trình đã được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn,
kiểm tra, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý.
- Thẩm định và trình UBND tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn, các chi cục thuộc cơ quan chuyên môn và đơn
vị sự nghiệp Nhà nước thuộc UBND tỉnh; đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các
đơn vị sự nghiệp Nhà nước thuộc UBND tỉnh để UBND tỉnh quyết định theo quy
định;
- Xây dựng và báo cáo UBND tỉnh kế hoạch biên chế của địa phương để trình
HĐND tỉnh quyết định tổng biên chế sự nghiệp ở địa phương và thông qua tổng
biên chế hành chính của địa phương trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định;
- Theo dõi, quản lý công tác địa giới hành chính trong tỉnh theo quy định của
pháp luật và hướng dẫn của Bộ Nội vụ; chuẩn bị các đề án, thủ tục liên quan tới
việc thành lập, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới, đổi tên đơn vị hành chính,
nâng cấp đô thị trong tỉnh để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Giúp
Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện, hướng dẫn và quản lý việc phân loại đơn vị hành
chính các cấp theo quy định của pháp luật;
P.Giám đốc
2
P.Giám đốc
3
Văn phòng
Phòng cải cách hành chính
Thanh tra
Phòng xây dựng chính quyền
Phòng công chức, viên chức
Phòng đào tạo CBCC
Phòng văn thư, lưu trữ
Ban thi đua khen thửong
Ban tôn giáo
Trung tâm lưu trữ
P.Giám đốc
4
11
Giám đốc
Sở
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
Thực hiện theo Quyết định số 106/QĐ-SNV ban hành quy chế về tổ chức và
hoạt động của Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc. Văn phòng giúp giám đốc thực hiện
những nhiệm vụ sau:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác hàng tháng, quý, năm của Sở;
Trình lãnh đạo Sở , đôn đốc các phòng, ban chuyên môn và các đơn vị liên quan
thực hiện chương trình, kế hoạch công tác đã được Lãnh đạo Sở duyệt.
- Xây dựng công tác tháng, quý, 6 tháng, năm và báo cáo đột xuất trình Tỉnh
ủy, UBND tỉnh và Bộ Nội vụ; phối hợp với các phòng chuyên môn theo dõi, tổng
hợp báo cáo với các cơ quan có thẩm quyền về tổ chức thực hiện công tác dân vận
viên
1
Chu
yên
viên
2
Chu
yên
viên
3
Hợp
đồn
g 1Hợ
đồn
g 1
Hợp
đồn
g 2
Hợp
đồn
g 3
Hợp
đồn
g 4
13
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
Bồi dưỡng là quá trình cập nhật những kiến thức mới, bổ sung những kiến thức
còn thiếu, lạc hậu để nâng cao trình độ, năng lực hoặc phẩm chất, củng cố kỹ năng
nghề nghiệp theo các chuyên đề. Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người
lao động có cơ hội củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ
năng chuyên môn, nghề nghiệp có sẵn để lao động nghề nghiệp có hiệu quả hơn.
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thường được tiến hành tại các trường lớp, các
trung tâm đào tạo bồi dưỡng và được xác nhận bằng văn bàng, chứng chỉ.
Trong lĩnh vực hành chính, đào tạo bồi dưỡng là hoạt động của các cơ quan
quản lý CBCC, của cơ sở đào tạo bồi dưỡng nhằm trang bị và nâng cao kiến thức,
kỹ năng làm việc, phẩm chất đạo đức… cho CBCC theo tiêu chuẩn quy định của
từng ngạch, từng chức vụ.
2.1.3. Vai trò của đào tạo – bồi dưỡng CBCC
Công tác đào tạo – bồi dưỡng CBCC là một vấn đề quan trọng của công tác
cán bộ. Vấn đề này đã, đang và sẽ tiếp tục được Đảng, Nhà nước quan tâm, nhất là
khi Việt Nam đã trở thành viên của WTO, vị thế của nước ta trên trường quốc tế
ngày càng được nâng cao thì nó càng trở nên cần thiết.
Trong giai đọan hiện nay, công tác đào tạo – bồi dưỡng CBCC hiện nay có
những vai trò sau đây:
- Công tác đào tạo – bồi dưỡng CBCC nhằm phục vụ cho công tác chuẩn hóa
cán bộ. Đây có thể coi là vấn đề quan trọng khi mà đội ngũ CBCC hiện nay còn
thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, trình độ, năng lực, phẩm chất còn bộc lộ nhiều
yếu kém. Điều này đã làm giảm sút chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc,
gây nhiều bức xúc trong dân nhân. Vì vậy trong thời gian tới công tác đào tạo – bồi
dưỡng CBCC cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa để nâng cao trình độ, kiến
thức, kỹ năng cho đội ngũ CBCC.
Báo cáo thực tập
15
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
- Đào tạo – bồi dưỡng CBCC nhằm phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất
CBCC có năng lực, phẩm chất là vô cùng cấp bách và cần thiết.
- Cơ sở hạ tầng tại Vĩnh Phúc còn yếu kém và chưa đồng bộ, chưa đáp ứng
được yêu cầu của nền sản xuất hàng hoá và phát triển thương mại trong cơ chế thị
trường. Những năm gần đây, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng chưa đủ
để đảm bảo phát triển ổn định và bền vững. Đó là những thách thức cơ bản của
Vĩnh Phúc khi bước vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó đòi hỏi
phải có một đội ngũ CBCC có chuyên môn, nghiệp vụ cao trong công tác quản lý,
hoạch định và điều hành. Muốn vậy, tỉnh Vĩnh Phúc phải không ngừng đầu tư, đẩy
nhanh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC, tìm kiếm nhân tài.
2.3. Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC tại Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh
Phúc
2.3.1. Về xác định nhu cầu đào tạo
Cũng giống như nhiều cơ quan quản lý Nhà nước khác, trước đây, Sở Nội vụ
tỉnh chưa quan tâm đúng mức tới nhu cầu đào tạo. Do đó, các chương trình đào tạo
chủ yếu là những nội dung lý thuyết rất chung và cứng nhắc. điều này làm cho
người học cũng như giảng viên không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của
mình trong quá trình đào tạo; ngược lại còn làm cho họ trở lên bị động và phụ thuộc
vào giáo trình với nội dung đã định trước. Vì vậy, những yêu cầu mới của thực tế
công việc không được đáp ứng, dẫn đến công tác ĐTBD chỉ mang tính hình thức
không theo nhu cầu thực tế, không mang lại hiệu quả cao.
Nhưng hiện nay, khi việc xác định nhu cầu đào tạo được Sở quan tâm hơn thì
công tác đào tạo lúc này không chỉ với mong muốn lấp đầy, khắc phục những hụt
hẫng về năng lực công tác của CBCC trong Sở, mà còn quan tâm tới việc xác định
và thỏa mãn nhu cầu đào tạo được thực hiên theo các mức độ khác nhau như: nhu
cầu của toàn cơ quan, nhu cầu của từng bộ phận và nhu cầu của từng cá nhân
Báo cáo thực tập
17
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
CBCC. Song tại Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc, việc xác định nhu cầu lại chủ yếu dựa
thị trường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế kinh tế mới. Đây là nội dung quan
trọng mà Đảng và Nhà nước đã và đang phấn đấu hoàn thành, do đó, nhiệm vụ này
nhanh chóng có kết quả, Sở đã chú trọng đào tạo bồi dưỡng kiến thức về quản lý
hành chính Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cho CBCC.
Đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ
năng nghề nghiệp để xây dựng đội ngũ CBCC giỏi, có năng lực xây dựng, hoạch
định, triển khai và tổ chức thực hiện các chính sách, quản lý các chương trình, dự án
của Nhà nước có hiệu quả, đáp ứng mục tiêu phát triển của Sở đề ra.
Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho CBCC Nhà nước để tăng cường khả năng
giao tiếp, nghiên cứu tài liệu nước ngoài trong lĩnh vực chuyên môn.
Trang bị những kiến thức cơ bản về tin học, sử dụng công cụ tin học nhằm
từng bước hiện đại hóa và tăng cường năng lực của nền hành chính Nhà nước.
2.3.3. Hình thức đào tạo
Đảm bảo công việc được sắp xếp một cách khoa học, hoạt động thông suốt,
đồng thời để các đối tượng có thể tham gia hoạt động thuận tiện, trong quá trình đào
tạo, bồi dưỡng CBCC, Sở đã sử dụng nhiều hình thức đào tạo khác nhau. Có thể kể
đến một số hình thức:
- Đào tạo chính quy tập trung: đây là hình thức đào tạo mà đầu vào thông qua
các kỳ thi quốc gia để tuyển chọn những người có đủ tiêu chuẩn vào học theo hình
thức tập trung tại trường. Hình thức đào tạo này tạo ra nguồn lực CBCC trẻ, dự
nguồn cho quy hoạch cán bộ. Đào tạo tập trung cung cấp cho xã hội đội ngũ những
CBCC giỏi về chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt có năng lực nghiên cứu, có
trình độ ngoại ngữ và tin học phục vụ tốt cho việc nghiên cứu và quản lý.
Báo cáo thực tập
19
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
- Đào tạo tại chức: đây là bộ phận của giáo dục thường xuyên, người học có
thể vừa học vừa làm, học tập và tích lũy kiến thức dần dần với các phương thức đào
tạo linh hoạt, đa dạng trong khoảng thời gian và không gian thích hợp, mềm dẻo để
Về số lượng đào tạo, bồi dưỡng:
Tổng số CBCC được đào tạo, bồi dưỡng: 23.161 lượt người, cụ thể:
- Bồi dưỡng: 18.250 lượt người.
- Đào tạo trình độ trung cấp trở lên: 4.911 người, trong đó:
+ Đào tạo lý luận chính trị: 628 cao cấp; 1.108 trung cấp.
+ Đào tạo quản lý Nhà nước: 35 chuyên viên cao cấp; 410 chuyên viên chính;
992 chuyên viên.
+ Đào tạo chuyên môn: 12 tiến sĩ; 312 thạc sĩ; 560 đại học, cao đẳng; 854
trung cấp.
Về hiệu quả sau đào tạo:
- Đa số cán bộ, công chức sau khi tốt nghiệp trở về cơ quan, đơn vị công tác
và được bố trí, sử dụng phù hợp chuyên ngành đào tạo, vị trí công tác; trình độ năng
lực được nâng lên, đổi mới phong cách làm việc theo hướng tích cực, đáp ứng được
yêu cầu thực thi công vụ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác.
- Đáp ứng được yêu cầu quy hoạch cán bộ, đề bạt cán bộ và chuẩn hóa đội ngũ
cán bộ, công chức
Nhận xét :Nhìn chung, Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC đã có những chuyển
biến tích cực, quy mô được mở rộng; nội dung đào tạo, bồi dưỡng được đổi mới
theo hướng chú trọng bồi dưỡng kỹ năng giải quyết công việc, góp phần nâng cao
trình độ, kỹ năng giải quyết công việc của CBCCVC. Công tác đào tạo phát triển
nguồn nhân lực được lựa chọn và tập trung vào một số lĩnh vực trọng điểm. Tuy
nhiên việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đào tạo còn hạn chế, chế độ
Báo cáo thực tập
21
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
tổng hợp, báo cáo về công tác đào tạo, bồi dưõng CBCC ở một số cơ quan, đơn vị
chưa đều, chưa thường xuyên.
2.4. Một số đánh giá về hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC của Sở Nội
vụ tỉnh Vĩnh Phúc
làm tăng thêm phong trào học tập CBCC. CBCC đã coi đào tạo, bồi dưỡng vừa là
nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của mình.
2.4.2. Những tồn tại
Bên cạnh những thành công, song công tác đào tạo bồi dưỡng CBCC tại Sở
Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế cần khắc phục:
- Chương trình, giáo trình giảng dạy, học tập chậm được đổi mới, chưa theo
kịp xu hướng phát triển của thời đại và chất lượng chưa cao. Chương trình đào tạo
còn nhiều trùng lặp, đặc biệt là chương trình đào tạo về Quản lý Nhà nước và lý
luận chính trị, giáo trình phần lớn được biên soạn chung, do đó không phù hợp với
tình hình cụ thể của từng địa phương. Mục đích “học để làm việc”, nghĩa là học để
vận dụng, thực hành thành thạo kỹ năng, nghiệp vụ hành chính, giỏi về thực hành
quản lý vẫn chưa được cả cơ quan quản lý, cơ quan có chức năng đào tạo, bồi
dưỡng và đa số học viên thật sự coi trọng.
- Nhận thức của CBCC về vai trò của hoạt động đào tạo bồi dưỡng chưa cao.
Một số cán bộ công chức còn thiếu ý thức phấn đấu và ngần ngại trong học tập. Một
bộ phận cán bộ có tâm lý chạy theo bằng cấp để “có chỗ” trong bộ máy Nhà nước.
Đội ngũ công chức (đặc biệt là ở cấp cơ sở) tuy được đào tạo lại nhưng còn nhiều
yếu kém, đông về số lượng nhưng còn hạn chế về trình độ chuyên môn, tính chuyên
nghiêp chưa cao nhất là kiến thức quản lý hiện đại. Mặt khác, trình độ cán bộ công
chức còn chưa đồng đều, điều này gây khó khăn cho quá trình thực hiện công vụ,
làm ảnh hưởng đến tiến độ cũng như chất lượng công việc do sự phối hợp kém.
Báo cáo thực tập
23
Nguyễn Thị Hường-KH8E GVHD: ThS Đỗ Thị Kim Tiên
Trình độ tin học, ngoại ngữ của cán bộ công chức còn nhiều hạn chế, đây là một trở
ngại không nhỏ cho quá trình hội nhập quốc tế của nước ta.
- Sự kết hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm trong đào tạo bồi dưỡng còn
chưa nhịp nhàng, việc theo dõi kiểm soát lớp học chưa thật sự được quan tâm nên
khó nắm bắt được tình hình cán bộ công chức đi học cũng như đáp ứng yêu cầu
2.4.3.1 Nguyên nhân chủ quan
- Do cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo còn thiếu hoặc một số chương trình,
giáo trình Trung ương chưa tổ chức tập huấn chuyển giao cho giảng viên của
tỉnh, cho nên chưa đáp ứng nhu cầu học tập của cán bộ, công chức như: lớp bồi
dưỡng về quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên, chuyên viên chính; các lớp
bồi dưỡng về kỹ năng chuyên môn, giao tiếp hành chính, …
- Một số đơn vị thực hiện công tác quy hoạch cán bộ còn chưa tốt; việc bố trí
công tác ở một số nơi còn kiêm nhiệm có cán bộ kiêm nhiệm quá nhiều công việc
do vậy khi tham gia các lớp bồi dương không được đầy đủ.
- Một số cơ quan, đơn vị thực hiện chế độ hỗ trợ, bồi hoàn kinh phí đào tạo
cho can bộ, CCVC chưa kịp thời.
- Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch chưa hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học
và căn cứ thực tiễn, chưa có sự điều tra cơ bản để nắm bắt chính xác tình hình thực
tế về trình độ khả năng, điều kiện và triển vọng của từng đối tượng CBCC. Vì vậy,
chưa xác định được những điều kiện phải có trong đào tạo bồi dưỡng.
- Một bộ phận CBCC có suy nghĩ học để có bằng cấp, chứng chỉ để đạt tiêu
chuẩn theo quy định hoặc thi chuyển nâng ngạch lương; công tác quản lý một số lớp
học theo hình thức đào tạo không chính quy chưa chặt chẽ, hiệu quả sau đào tạo
chưa cao, là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến tiến trình cải cách
hành chính tại cơ quan, đơn vị.
Báo cáo thực tập
25