1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TÀI LIỆU MÔN HỌC
phương và trên thế giới.
NỘI DUNG
Sức khoẻ môi trường là nền tảng của Y tế công cộng, cung cấp rất nhiều lý luận cơ bản nền
tảng cho một xã hội hiện đại. Quá trình cải thiện tình trạng vệ sinh, chất lượng nước uống,
vệ sinh và an toàn thực phẩm, kiểm soát bệnh tật và cải thiện
điều kiện nhà ở là nhiệm vụ
trung tâm của quá trình thực hiện việc nâng cao chất lượng cuộc sống và tiếp tục những
kinh nghiệm quý báu của cả thế kỷ qua. Tuy nhiên, hiện nay cuộc sống của người dân
trong thời kỳ đổi mới có nhiều thay đổi:
việc đô thị hoá, tăng dân số, thay đổi lối sống,
nạn phá rừng, tăng sử dụng hoá chất
bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, sử dụng các hoóc
môn tăng trưởng trong chăn
nuôi, sự phát triển công nghiệp và không kiểm soát được
những chất thải công
nghiệp v.v… làm cho môi trường ngày càng bị suy thoái.
Trong những năm qua,
thảm hoạ thiên nhiên đã gây nên nhiều thiệt hại lớn như lũ quét ở
Lai Châu, Sơn La,
úng lụt ở Đồng bằng Sông Cửu Long, hạn hán ở nhiều nơi như Tây
Nguyên. Tại một số tỉnh phía nam hiện nay, những trường hợp bị nhiễm độc hoá chất,
ngộ độc các hoá chất bảo vệ thực vật và ngộ độc thực phẩm vẫn xẩy ra thường xuyên.
Có
nhiều chỉ thị và nghị quyết bàn về phương hướng phát triển bền vững, nghĩa là bảo đảm
cho môi trường và môi sinh trong sạch, giảm thiểu ô nhiễm nhằm nâng cao sức
khoẻ con
người như Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam, Nghị định hướng dẫn thi hành luật, v.v…
Bên cạnh đó còn phải kể đến môi trường xã hội, môi trường làm
việc cũng có nhiều ảnh
hưởng đến sức khoẻ con người. Do vậy, việc nghiên cứu, xử lý, phòng chống ô nhiễm môi
tố di truyền, v.v
1.2.3. Môi trường xã hội như stress, mối quan hệ giữa con người với con người, môi trường
làm việc, trả lương, làm ca, v.v
2. CÁC KHÍA CẠNH LỊCH SỬ CỦA SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG
2.1. Khái niệm về sức khoẻ môi trường
Sức khoẻ môi trường là gì? Theo quan điểm của nhiều người sức khoẻ môi
trường chính là sức khoẻ của môi trường. Đây là các ý niệm về đời sống hoang dã,
về rừng, sông, biển, v.v . và theo họ thì sức khoẻ môi trường đồng nghĩa với việc
bảo vệ môi trường. Những người khác thì cho rằng sức khoẻ môi trường là các vấn
đề về sức khoẻ của con người có liên quan đến điều kiện sống, sự nghèo nàn, lạc
hậu, không đủ nước sạch, lũ lụt, sự phá hoại của côn trùng và súc vật có hại - tất cả
các thách thức đó chúng ta đã trải qua, đã chống trả trong suốt quá trình hình thành
và phát triển của con người và cuộc sống, nhất là những năm gần đây và chúng ta đã
chiến thắng.
Cả hai quan điểm này đều chưa đúng, chưa chính xác, sức khoẻ môi trường
không đồng
nghĩa với sức khoẻ của môi trường và bảo vệ môi trường và cũng
không bó hẹp trong
việc kiểm soát các loại dịch bệnh của thế kỷ qua. Cho đến hiện nay nhiều tác giả đưa ra
khái niệm về sức khoẻ môi trường như sau:“Sức khoẻ môi
trường là tạo ra và duy trì một
môi trường trong lành, bền vững để nâng cao sức
khoẻ cộng đồng”.
4
2.2. Lịch sử phát triển của thực hành sức khoẻ môi trường
Mỗi sinh vật trên trái đất đều có môi trường sống của riêng mình, nếu thoát ra khỏi
môi trường tự nhiên đó hoặc sự biến đổi quá mức cho phép của môi trường mà chúng đang
sống thì chúng sẽ bị chết và bị huỷ diệt. Do đó, đảm bảo sự ổn định môi trường sống là điều
kiện cơ bản để duy trì sự sống của mọi loài sinh vật trên trái đất. Những ví dụ rất giản đơn
sức khoẻ cộng đồng. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đã làm cho
nước Anh trở
thành xứ sở sương mù do ô nhiễm không khí, thời gian này vấn đề ô nhiễm công nghiệp là
một vấn đề hết sức nghiêm trọng nhưng bị chính phủ lờ đi vì còn nhiều vấn đề xã hội khác
quan trọng hơn, mặc dù năm 1848 Quốc Hội Anh đã
thông qua Luật Y tế công cộng đầu
tiên trên thế giới. Trong quá trình phát triển
công nghiệp, ô nhiễm kéo dài cho đến giữa
thế kỷ 20 và hàng loạt những ô nhiễm mới song song với ô nhiễm công nghiệp là ô nhiễm
hoá học, hoá chất tổng hợp, nhất là trước và sau chiến tranh thế giới lần thứ 2. Những tiến
bộ của kỹ thuật, lĩnh vực hoá học, đặc biệt là ngành công nghiệp hoá chất đã tạo ra các hoá
chất tổng hợp như
cao su tổng hợp, nhựa, các dung môi, thuốc trừ sâu v.v đã tạo ra rất
5
nhiều chất
khó phân huỷ và tồn dư lâu dài trong môi trường như DDT, 666, Dioxin v.v
gây ra ô nhiễm môi trường nặng nề, dẫn tới sự phản đối kịch liệt của cộng đồng nhiều nước
trên thế giới trong suốt thời kỳ những năm 60 và 70 của thế kỷ 20.
Làn sóng lần thứ 2 về các vấn đề môi trường xẩy ra vào những năm giữa của thế
kỷ 20 với hai phong trào lớn là môi trường và sinh thái. Phong trào môi trường là việc
bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là những tài nguyên không tái tạo. Kết quả là động
vật trên đất liền ở nhiều vùng thiên nhiên hoang dã, các vùng đất, biển quý hiếm khác,
cảnh quan thiên nhiên được bảo tồn và tôn tạo. Về phong trào sinh thái tập trung vào các
chất có thể gây độc cho con người hoặc có khả năng gây huỷ hoại môi trường. Kết quả
của những phong trào này cùng với Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và con
người đã được tổ chức vào năm 1972 đã thuyết phục được nhiều chính phủ các nước
thông qua luật lệ nhằm hạn chế ô nhiễm công nghiệp và phát thải rác, phòng chống ô
nhiễm hoá học, đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, thuốc, v.v
Làn sóng lần thứ 3 về các vấn đề sức khoẻ môi trường là từ những năm 80, 90 đến nay,
qua Hiến chương Ottawa, trong đó định nghĩa nâng cao sức khoẻ là tạo điều
kiện cho con người kiểm soát những yếu tố quyết định tới sức khoẻ của họ.
-
1987 - Báo cáo của Uỷ ban Brundtland "Tương lai chung của chúng ta" (Our
Common Future) đã kêu gọi hướng tới "phát triển bền vững"; Nghị định thư
Montreal về hạn chế phát thải clorofluorocacbon (CFC) vào không khí để giảm
tốc độ suy giảm tầng ozon ở tâng bình lưu
-
1992 - Hội nghị thượng đỉnh trái đất (Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Môi
trường và Phát triển), Rio de Janeiro
- 1994 - Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển, Cairo
-
1995 - Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Phát triển Xã hội,
Copenhagen
- 1996 - Hội nghị của Liện Hiệp Quốc về vấn đề định cư (HABITAT II), Istanbul
- 1997 - Hiệp định khung của Liên Hiệp Quốc về Thay đổi Khí hậu, Kyoto
Nguồn: Yassi và cộng sự, 2001
3. NỘI DUNG KHOA HỌC MÔN SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG
Tất cả các khía cạnh của sức khoẻ môi trường là xác định, giám sát, kiểm
soát các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học và xã hội có ảnh hưởng đến sức khoẻ con
người.
Thực hành sức khoẻ môi trường bao gồm đánh giá, kiểm soát và phòng ngừa các yếu tố
trong môi trường ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ con người, đồng thời
phát huy các yếu
tố môi trường có lợi cho sức khoẻ. Việc này bao gồm tất cả các
biện pháp cần thiết để đối
mặt với các vấn đề như suy thoái môi trường, thay đổi khí hậu, các nguy cơ môi trường như
ô nhiễm đất, nước, không khí, ô nhiễm thực phẩm, tiếp xúc với hoá chất và vấn đề rác thải
- Đánh giá và quản lý các nguy cơ sức khoẻ ở các vùng bị ô nhiễm ví dụ như
dioxin, v.v
- Kiểm soát thuốc, chất độc, các sản phẩm y dược khác
- Chất độc học
- Kiểm soát thuốc lá
Bên cạnh đó còn nhiều các yếu tố khác cần phải kiểm soát như cung cấp đủ thức ăn dinh
dưỡng, cung cấp nước sạch, điều kiện vệ sinh và xử lý rác thải nhất là ở nông thôn hiện
nay; cung cấp nhà ở và bảo đảm mật độ dân số v.v
Ngoài ra, còn một số các yếu tố khác nhất là khả năng tiềm tàng của các
nguy cơ môi trường và suy thoái môi trường tác động lên sức khoẻ do các đặc điểm
sau:
Thường xẩy ra sau một thời gian dài tiếp xúc
Các bệnh liên quan đến môi trường thường do hoặc liên quan đến nhiều nguyên
nhân khác nhau, ví dụ như viêm phế quản mãn tính có thể là do môi trường bị ô
nhiễm, do vi khuẩn, thể lực v.v.
Thực hành sức khoẻ môi trường sử dụng kiến thức và kỹ năng của nhiều lĩnh vực khác nhau
để tập trung giải quyết các vấn đề sức khoẻ tiềm tàng.
“Loài người là trung tâm của phát triển bền vững. Họ có quyền sống một
cuộc sống khoẻ
8
mạnh và hoà hợp với tự nhiên”.
(Tuyên bố Rio de Janero về Môi trường và Phát triển)
4. QUAN HỆ GIỮA SỨC KHOẺ VÀ MÔI TRƯỜNG
Khi con người đầu tiên xuất hiện trên trái đất, tuổi thọ trung bình của họ chỉ
khoảng từ 30 đến 40 tuổi. Do sống trong môi trường khắc nghiệt, tuổi thọ của họ
thấp
hơn nhiều so với tuổi thọ của con người trong xã hội hiện nay. Tuy vậy, 30 - 40 năm cũng đủ
để cho họ có thể sinh con đẻ cái, tự thiết lập cho mình cuộc sống với
Trong một vài thập kỷ vừa qua, tuổi thọ của con người đã tăng lên đáng kể ở hầu hết
các quốc gia. Các nhà điều tra cho rằng có 3 lý do cơ bản dẫn tới việc tăng tuổi thọ
của con người:
Những tiến bộ trong môi trường sống của con người
Những cải thiện về vấn đề dinh dưỡng
Những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị y học đối với các loại bệnh tật
9
Những tiến bộ trong y tế luôn đi cùng với với những cải thiện về chất lượng môi
trường, dinh dưỡng và chăm sóc y tế. Ngày nay, những người ốm yếu có cơ hội sống sót cao
hơn nhiều do hệ thống chăm sóc y tế được cải thiện. Rất nhiều người
luôn sống khoẻ mạnh,
do có nguồn dinh dưỡng tốt và kiểm soát tốt các mối nguy
hiểm về sức khoẻ môi trường.
Khoa học môi trường là một môn học rất cần thiết và quan trọng dựa trên hai lý do
căn bản sau đây:
Nghiên cứu những mối nguy hiểm trong môi trường và những ảnh hưởng của
chúng lên sức khoẻ
Ứng dụng những phương pháp hiệu quả để bảo vệ con người khỏi những mối
nguy hại từ môi trường.
Muốn vậy chúng ta hãy xem xét thế nào là sức khoẻ và thế nào là môi
trường?
Trước hết chúng ta hãy điểm qua vài nét về hệ sinh thái:
Ra đời từ những năm 1930, thuật ngữ “hệ sinh thái” có thể được định nghĩa
như là
một hệ thống gồm những mối quan hệ tương tác qua lại giữa các sinh vật
sống và môi
trường tự nhiên của chúng. Đó là một thực thể đóng đã đạt được các cơ chế tự ổn định và nội
cân bằng đã tiến hoá qua hàng thế kỷ. Trong Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2005), hệ
sinh thái được định nghĩa là “hệ quần thể sinh vật trong một khu vực địa lý tự nhiên nhất
trên đều có thể ảnh hưởng
tới tình trạng sức khoẻ của quần thể” (Theo Annalee,
2001).
Định nghĩa này được dựa trên quan điểm là sức khoẻ của con người chủ yếu được
xác định do yếu tố di truyền và môi trường. Yếu tố di truyền (gen) do cha mẹ truyền lại,
bao gồm ADN trong mỗi tế bào cơ thể. Các gen này tồn tại khi phôi được hình thành và
không có sự thay đổi nào về di truyền trong suốt quá trình phát triển của con người. Nếu
như có sự thay đổi gen (như trong trường hợp đột biến), nó có thể dẫn tới sự mất chức
năng, chết tế bào và ung thư (ở một số trường hợp đột biến cụ thể). Cơ sở vật chất di truyền
của một cá thể là một trong những yếu tố chính xác định việc cá thể đó bị ảnh hưởng như
thế nào bởi các yếu tố môi trường.
Một số cá thể sẽ bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với các chất độc hại, các nguy hiểm môi
trường với hàm lượng lớn. Một số cá thể khác lại bị ảnh hưởng ở mức độ thấp hơn, bởi vì họ
có
các yếu tố nguy cơ/ điều kiện kép hoặc nguy cơ/ điều kiện đã có từ trước. Một số
người bị ảnh hưởng ở một mức độ rất thấp do tính nhạy cảm di truyền. Điều đó
minh
chứng cho những ảnh hưởng của môi trường đối với sức khoẻ. Tuy nhiên, đã một thời
chính con người đã làm huỷ hoại và suy thoái môi trường. Vì suy thoái môi
trường nên có
ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng như ung thư da tăng lên ở
Ôxtrâylia khi tầng ozon
bị suy giảm.
Con người đã phá rừng trong quá trình phát triển của mình và hậu quả là con
người
phải chịu những hậu quả của lũ quét, của thay đổi khí hậu toàn cầu, của ô
nhiễm các chất
thải công nghiệp. Khi con người huỷ hoại môi trường thì theo qui luật nhân quả học, con
người cũng phải chịu những mối đe doạ từ môi trường, đó là những mối nguy hiểm hiện
đại và truyền thống.
hệ hiện tại cũng như các thế hệ tương lai.
Định nghĩa 2:
Các dịch vụ sức khỏe môi trường là những dịch vụ nhằm cải thiện các chính sách
về sức khỏe môi trường qua các hoạt động giám sát, kiểm soát.
Chúng cũng thực hiện vai
trò tăng cường sự cải thiện những giới hạn của môi
trường và khuyến khích việc sử
dụng các công nghệ sạch và khuyến khích những
thái độ cũng như những cách cư xử tốt
đối với môi trường và sức khỏe. Những dịch vụ này cũng có vai trò quan trọng trong việc
phát triển và đề xuất những chính sách mới về sức khoẻ môi trường.
5. TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ, ĐÔ THỊ HOÁ LÊN SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG
VÀ
MÔI TRƯỜNG
Những thách thức về dân số Việt Nam là rất nghiêm trọng đối với tất cả các
vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Tăng dân số vẫn ở mức cao 1,7%
(1999) và di dân nội bộ từ các khu vực nghèo tài nguyên và kinh tế kém phát triển
vẫn đang tăng lên và không kiểm soát được. Theo Tổng cục Thống kê, cho đến cuối
năm 2006, dân số nước ta đã là hơn 84 triệu người. Theo dự báo đến năm 2020, dân
số nước ta xấp xỉ 100 triệu người, trong khi đó các nguồn tài nguyên đất, nước và
các dạng tài nguyên khác có xu thế suy giảm, vấn đề nghèo đói ở các vùng sâu,
vùng xa chưa được giải quyết triệt để. Hiện tại, cũng theo số liệu của Tổng cục
Thống kê (2006), thu nhập bình quân đầu người năm 2004 là 484.400 đồng/ tháng,
trong đó, sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị là gần 440.000
đồng/ tháng. Tỉ lệ hộ nghèo trong cả nước năm 2004 là 19,5%; và có sự chênh lệch
lớn giữa thành thị và nông thôn (3,6% ở thành thị và 25,0% ở nông thôn). Quá trình
đô thị hoá và phát triển kinh tế bằng con đường công nghiệp hoá đòi hỏi nhu cầu về
năng lượng, nguyên liệu ngày càng to lớn, kéo theo chất lượng môi trường sống
ngày càng xấu đi nếu không có các biện pháp hữu hiệu ngay từ đầu. Mặt khác, quá
trình đô thị hoá và công nghiệp hoá ở nhiều khu vực, vùng lãnh thổ lại không được
thoát
nước, điện lực, thông tin liên lạc, đường sá, nhà hát, sân thi đấu thể thao, nhà
ở liên tục
được sửa chữa, nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới. Có thể ví Hà Nội
hiện nay như một
đại công trường, hàng ngày tạo ra một lượng lớn bụi bẩn.
- Quá tải:
Nồng độ bụi bẩn ở Hà Nội ngày một nhiều hơn. Trung bình ở các nơi công cộng
trong thành phố nồng độ bụi vượt quá chuẩn cho phép từ 2 đến 4 lần (theo tiêu
chuẩn
của các nước phát triển ở châu Âu, châu Mỹ, nồng độ bụi ở các thành phố chỉ được phép
vượt quá tiêu chuẩn cho phép 1-2 lần). Hứng chịu nhiều nhất là các khu vực đang xây dựng,
cải tạo, sửa chữa: Mai Động, Thượng Đình, ngã tư Vọng, Cầu Diễn, Bắc Thăng Long,
Chèm, Văn Điển, Láng - Hoà Lạc, Trần Duy Hưng , vượt
quá chuẩn cho phép 5 lần.
Nồng độ các chất ô nhiễm khác đều vượt chuẩn nhiều
lần, cực độc có Pb, SO2. Ô nhiễm
do bụi cao nhất là vào hôm trời hành, gió mạnh.
- Nguyên nhân gây ra bụi
Ngoài chuyện đổ rác bừa bãi của dân, thì phế thải rắn trong xây dựng (đất, đá,
sỏi ), vật liệu thi công được coi là tác nhân chính gây bụi bẩn. Từ trung tâm đến ngoại ô, từ
các trục giao thông chính đến ngõ ngách, đâu đâu cũng thấy xây dựng. Thành phố đã quy
định về bảo đảm vệ sinh, tránh bụi bẩn, các công trình xây dựng nhà ở phải được che chắn
kỹ, nhưng không ít chủ công trình đã lờ đi. Nhiều chủ phương tiện chở vật liệu, phế thải
không che đậy kín, chở quá tải trọng, phóng nhanh làm rơi vãi ra đường phố.
Các công trình thi công, kè sông, đường giao thông, cầu vượt, đường hầm dành cho
13
người đi bộ không hoàn thành đúng tiến độ, đã tạo nên một lượng bụi rất lớn: cụ thể là
đường hầm ngã tư Vọng, hành lang Tây Sơn dài 6,8 km
sức
khoẻ môi trường một cách đúng đắn, đồng bộ và hợp lý trong giai đoạn phát
triển mới
của đất nước ta.
6. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN CHO MÔI TRƯỜNG LÀNH MẠNH
6.1. Bầu không khí trong sạch
Không khí rất cần thiết cho sự sống, nếu thiếu không khí, con người sẽ chết
chỉ sau một vài phút. Ô nhiễm không khí là một trong những vấn đề môi trường
trầm trọng nhất trong các xã hội ở tất cả các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau.
Hàng ngày, có khoảng 500 triệu người phải tiếp xúc với một hàm lượng lớn ô nhiễm
không khí trong nhà ở các dạng như: khói từ các lò sưởi không kín hoặc lò sưởi
được thiết kế tồi. Có khoảng 1,5 tỉ người ở các khu vực thành thị phải sống trong
môi trường bị ô nhiễm không khí nặng nề. Sự phát triển của ngành công nghiệp đi
14
đôi với việc thải ra số lượng lớn các khí và các chất hạt từ quá trình sản xuất công
nghiệp và từ quá trình đốt cháy các nhiên liệu hoá thạch cho nhu cầu giao thông vận
tải và lấy năng lượng. Khi các tiến bộ công nghệ đã bắt đầu chú trọng đến việc kiểm
soát ô nhiễm không khí bằng cách giảm việc thải ra các chất hạt thì người ta vẫn
tiếp tục thải ra các chất khí, do vậy ô nhiễm không khí vẫn còn là vấn đề lớn. Mặc
dù hiện nay nhiều nước phát triển đã có những nỗ lực lớn để kiểm soát cả việc thải
khí và các chất hạt, ô nhiễm không khí vẫn là nguy cơ đối với sức khoẻ của nhiều
người.
Ở những xã hội phát triển nhanh chóng, việc kiểm soát ô nhiễm không khí
không được đầu tư thích hợp vì còn những ưu tiên khác về kinh tế và xã hội. Việc
phát triển công nghiệp nhanh chóng ở những nước này đã xảy ra đồng thời với việc
gia tăng lượng ô tô và các loại xe tải khác, nhu cầu điện thắp sáng tại các hộ gia
đình cũng tăng lên, dân số tập trung ở các khu đô thị hoặc các thành phố lớn. Kết
quả là một số thảm hoạ ô nhiễm không khí tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới đã xẩy
ra.
nước khu vực Trung Đông). Việc khan hiếm nước dẫn đến đói nghèo và làm cằn cỗi
đất đai. Rất nhiều thành phố và các khu vực nông thôn đã khai thác nước từ các tầng
nước ngầm với số lượng rất lớn, lớn hơn cả khả năng mà bản thân các tầng nước
ngầm này có thể tự bổ sung lại được.
Chất lượng của nước ngọt có tầm quan trọng rất lớn trong việc duy trì sức
khoẻ
con người. Rất nhiều bệnh truyền nhiễm đe doạ sự sống và sức khoẻ con
người được
truyền qua nước hoặc thực phẩm bị nhiễm bẩn. Khoảng 80% các bệnh
tật ở các nước đang
phát triển là do thiếu nước sạch và thiếu các phương tiện phù
hợp để xử lý phân (WHO,
1992). Có khoảng một nửa dân số trên thế giới mắc phải
các bệnh do thiếu nước hoặc
nước bị nhiễm bẩn, gây ảnh hưởng chủ yếu đối với
tầng lớp người nghèo ở tất cả các
nước đang phát triển. Có khoảng 2 tỉ người trên
trái đất có nguy cơ mắc phải các bệnh ỉa
chảy lây lan qua đường nước hoặc thực
phẩm, đây là nguyên nhân chính gây ra tử vong
khoảng gần 4 triệu trẻ em mỗi năm.
Các vụ dịch tả, thường được truyền qua nước uống bị
nhiễm bẩn, đang tăng lên
nhanh chóng về mặt tần suất. Bệnh sán máng (200 triệu người
nhiễm bệnh) và bệnh giun (10 triệu người bị nhiễm bệnh) là 2 dạng bệnh phổ biến trầm
trọng nhất có liên quan tới nước. Các vectơ côn trùng sinh sản nhờ nước cũng truyền các
bệnh đe doạ sự sống của con người, chẳng hạn như sốt rét (267 triệu người bị nhiễm), giun
chỉ (90 triệu người nhiễm), giun dưới da (18 triệu người nhiễm) và sốt xuất huyết (30 60
triệu người nhiễm) (WHO, 1992).
Việc thiếu nước thường dẫn đến các vấn đề có liên quan tới chất lượng nước. Nước
triển. Việc phân bố và sử dụng thức ăn không hợp lý là
thủ phạm chính gây ra các ca bệnh này. Việc suy thoái đất và cạn kiệt các nguồn nước một
cách nhanh chóng cũng tạo ra mối đe doạ nguy hiểm đối với việc sản xuất lương thực trong
tương lai.
8. KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG HỖ TRỢ SỨC KHOẺ
Trong khái niệm môi trường hỗ trợ sức khoẻ, người ta bàn tới các yếu tố quyết định
sức khoẻ của toàn bộ quần thể, bao gồm các yếu tố sau:
Vai trò của các yếu tố môi trường địa phương trong sự phát triển lành mạnh của
một cộng đồng
Một cách tiếp cận tạo điều kiện nâng cao sức khoẻ cũng như bảo vệ khỏi tiếp xúc
với các yếu tố nguy cơ môi trường
Xây dựng công bằng trong y tế đối với một cộng đồng
Tầm quan trọng của phát triển bền vững như là một vấn đề sức khoẻ
Tầm hiểu biết của con người về môi trường trên một diện rộng
Nhận thức của con người về sự quan tâm và tham gia của cá nhân nhằm duy trì
hoặc tạo ra một môi trường lành mạnh
Nguồn: Haglund và cộng sự, 1992.
8. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ QUẢN LÝ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG
8.1. Tình hình thực hiện Chính sách và quản lý môi trường
Về chính sách bảo vệ môi trường. Vào những năm 80, lần đầu tiên các nhà
khoa
học đã đưa ra dự thảo chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia. Tháng 12/1992, Hội nghị
Quốc tế về Môi trường và Phát triển Bền vững đã thông qua kế hoạch 10 năm về môi
trường, đây được coi như một chiến lược quốc gia về môi trường cho giai đoạn 1991 - 2000.
Trên cơ sở đó, nhiều chính sách, văn bản pháp luật, hàng loạt các hoạt động về quản lý môi
trường đã được ban hành như Luật Bảo vệ Môi trường (1993, sửa đổi bổ sung năm 2005),
Nghị định 175/CP về "Hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường", Nghị định 26/CP về
"Xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường". Đặc biệt năm 1998, Bộ chính trị
Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 36/CT-TW về "Tăng cường công tác
sức khoẻ môi trường. Trong năm 2006, diễn đàn quốc gia về sức khoẻ môi trường
đã được tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với sự phối hợp của Cục Bảo
vệ Môi trường (Bộ Tài nguyên Môi trường) và Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế). Bản
thảo chiến lược quốc gia về sức khoẻ môi trường cũng đã được đưa ra bàn luận tại
diễn đàn để tiến hành thu thập ý kiến xây dựng.
8.2. Thực trạng và chiến lược về sức khoẻ môi trường
Tuy Việt Nam đã đạt nhiều kết quả về bảo vệ môi trường, tránh hiệu quả xấu tác
động lên sức khoẻ con người, nhưng còn nhiều vấn đề bất cập trong quản lý môi
trường,
sức khoẻ môi trường như qui hoạch môi trường chưa lồng ghép với phát
triển kinh tế -
xã hội, giáo dục-đào tạo, nâng cao nhận thức môi trường, qui hoạch phát triển đô thị, qui
hoạch quản lý tổng thể rừng, vùng ven biển, bảo tồn đa dạng sinh học, v.v . Hệ thống tổ
chức quản lý, cơ chế và chính sách còn nhiều hạn chế. Kinh phí ít, đầu tư dàn trải nên kết
quả nhiều khi không thấy rõ ràng, làm cộng đồng
dân cư thay đổi nhận thức còn quá chậm,
làm cho môi trường và sức khoẻ môi
trường hiện tại còn nhiều điều cần bàn.
8.2.1. Thực trạng
Môi trường tiếp tục xuống cấp
- Rừng tiếp tục bị suy thoái
18
- Đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển tiếp tục bị suy giảm
- Chất lượng các nguồn nước tiếp tục xuống cấp
- Môi trường đô thị và công nghiệp tiếp tục bị ô nhiễm
- Chất lượng môi trường nông thôn có xu hướng xuống cấp nhanh
- Môi trường lao động ngày càng bị nhiễm độc -Sự cố môi trường gia tăng mạnh
- Môi trường xã hội: phân hoá giầu nghèo ngày càng tăng, tệ nạn xã hội, v.v
Tác động của môi trường toàn cầu
trường
Tăng cường vai trò sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, tư nhân trong bảo
vệ môi trường
Tăng cường và đa dạng hoá đầu tư bảo vệ môi trường
Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về môi trường và sức khoẻ môi trường
Mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút tài trợ nước ngoài
Kết hợp chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia với chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội
Cần có một chiến lược quốc gia về sức khoẻ môi trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010. Định hướng kế hoạch hành
động ưu tiên về bảo vệ môi trường giai đoạn 2001-2005 (Kế hoạch hành động
môi trường 2001-2005), Hà Nội, 2001.
2. UNEP, 2001. Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam, 2001.
3. Annalee, Y. et al. Basic Environmental Heatlh, Oxford University Press, 2001.
4. Monroe T. Morgan. Environmental Health, 2
nd
Edition, Morton Publishing
Company, 1997.
5. The National Environmental Health Strategy, Publications Production Unit,
Commonwealth Department of Health and Aged Care, Commonwealth of
Australia, 1999.
20
mỡ cho đất, kiểm soát hầu hết các động thực vật có hại cho nông
nghiệp, tạo ra và
duy trì đa dạng sinh học cung cấp giống cho nông nghiệp, nguyên vật liệu cho công
nghiệp, dược liệu v.v. Những lợi ích này tương đương hàng nghìn tỉ đô la mỗi năm, tuy
nhiên hầu như không được quy ra tiền để có thể thức tỉnh nhận thức con
người nhằm
thay đổi các hành vi làm tổn hại tới hệ sinh thái.
1.2. Môi trường và sức khoẻ con người
Tần suất mắc các bệnh do các yếu tố môi trường gây ra phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện địa lý và tình trạng kinh tế của từng quốc gia. Việc phơi nhiễm với các nguy cơ
21
từ môi trường có liên quan chặt chẽ tới tình trạng phát triển của mỗi quốc gia và tình trạng
kinh tế - xã hội của từng cá nhân và từng cộng đồng. Những người nghèo thường ít được
bảo vệ khỏi các nguy cơ môi trường hơn những người giàu, cho dù đó là những nguy cơ
từ các nhà máy, chất thải độc hại, môi trường trong và ngoài nhà, nước sinh hoạt bị ô
nhiễm v.v…
Trong khoảng 3 - 4 thập kỷ trở lại đây, ở những quốc gia có nền công nghiệp phát
triển, việc kiểm soát ô nhiễm, thay đổi công nghệ, các quy định và luật môi trường được
thực hiện chặt chẽ đã góp phần làm giảm đáng kể việc phơi nhiễm của con người với các
tác nhân độc hại. Mặc dù những nước này đã cố gắng cắt giảm những nguy cơ trực tiếp
ảnh hưởng tới sức khoẻ con người từ các tác nhân môi trường, nhưng toàn thế giới hiện
đang phải đối mặt với việc thiếu nước sạch do dân số thế giới ngày một tăng, nhu cầu sử
dụng nước cũng ngày một tăng. Việc sử dụng nguyên liệu hoá thạch và thải ra những chất
khí gây ảnh hưởng tới tầng ô zôn là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” và
“phá huỷ tầng ô zôn”.
Con người luôn chịu những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ các nguy cơ môi
trường. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng ô nhiễm không khí làm tăng nguy cơ mắc
các bệnh về đường hô hấp, tăng nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch và các bệnh phổi
loạn kinh nguyệt, quái thai, dị dạng bẩm sinh v.v 50.000 người không thể quay trở lại làm
việc do bị chấn thương, nhiều người thậm chí không thể đi lại được.
Đến năm 1989, Liên hợp sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật đồng ý chi trả 470 triệu
đô la cho việc đền bù thiệt hại do vụ rò rỉ khí MIC gây ra. Tuy nhiên, các nạn nhân không
được tham gia ý kiến trong các buổi thương thảo về việc định cư của họ. Nhiều nạn nhân
cảm thấy mình bị lừa khi chỉ nhận được các khoản đền bù từ 300 đến 500 $ hoặc số tiền
tương đương với các điều trị về mặt y tế trong 5 năm.
(Nguồn: http://www.bhopal.org/whathappened.html, truy cập ngày 5/4/2007 và
http://en.wikipedia.org/wiki/Bhopal_Disaster, truy cập ngày 30/3/2007.)
1.3. Sự ổn định của hệ sinh thái: nền tảng của sức khỏe con người
Sức khỏe của con người không chỉ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những chất ô nhiễm
do con người hít phải, ăn phải, hay thấm qua da con người. Các chất độc hại còn ảnh hưởng
gián tiếp đến sức khỏe con người bằng cách phá vỡ sự ổn định của các hệ sinh thái, do vậy
làm giảm năng suất của hệ sinh thái và tạo điều kiện thuận lợi cho các tác nhân có hại cho
sức khỏe của con người sinh trưởng và phát triển.
Chẳng hạn, việc phá rừng lấy gỗ, đốn củi, lấy đất canh tác hoặc chăn nuôi làm giảm
khả năng giữ nước của rừng, tăng các dòng chảy xuống sông suối và gây nên lụt lội, trượt
đất, thậm chí lũ quét. Những hoạt động này đã gây ra các vụ lụt và trượt đất liên tiếp ở
Bangladesh và Philippines. Lụt lội làm giảm năng suất nông nghiệp, và ảnh hưởng lớn tới
sức khỏe con người, thậm chí tử vong do đuối nước hoặc do chấn thương. Lụt lội cũng làm
phá hủy các nhà máy xử lý nước và chất thải, tạo điều kiện cho các bệnh truyền
nhiễm lây lan. Ở những khu vực mà người dân sống quanh lưu vực các con sông, và
nguồn nước ăn, uống của họ là nước bề mặt tại các sông thì những ảnh hưởng tới sức
khỏe của dân cư tại vùng này trong và sau bão lụt lại càng nặng nề hơn. Việc phá các khu
rừng nhiệt đới cũng làm tăng sự lan truyền của bệnh sốt rét và một số bệnh do ký sinh
trùng, vì khi phá rừng con người đã làm tăng số lượng của các vũng nước tĩnh, nước đọng
xung quanh các khu rừng vừa bị đốn hạ và những con đường được tạo ra để chuyên chở
gỗ, củi.
23
mỡ
Kiểm soát chu trình nước
Việc chặt phá rừng bừa bãi và các hoạt
động khác của con người gây ra lụt lội, lũ
quét hay hạn hán ở nhiều nơi
Phân hủy các loại rác thải Nước thải, rác thải không qua xử lý và
24
nước thải chảy từ đồng ruộng, trang trại
chăn nuôi làm tăng ô nhiễm nước
Dòng năng lượng
Một số ngành công nghiệp và nhà máy hạt
nhân đã làm tăng ô nhiễm nhiệt độ đối với
môi
trường xung quanh. Các hoạt động đốt cháy
các nhiên liệu hoá thạch sẽ phát thải ra các
khí nhà kính và có thể dần dần làm tăng
nhiệt độ trái đất (Hiệu ứng nhà kính)
Chu trình tự nhiên của các chất dinh
dưỡng
Việc sử dụng các nguyên liệu không phân
huỷ được và các hoạt động chôn lấp rác đã
ngăn cản quá trình hoàn trả lại môi trường
nhiều nguyên liệu hữu ích
trong các khu rừng này
Làm gia tăng ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm đất, nước, không khí và phóng xạ
đã có nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới hệ sinh
thái
Gây ra những thay đổi trong khí quyển
Bao gồm sự gia tăng của các khí nhà kính
mà chủ yếu là hậu quả của quá trình đốt
cháy các loại nhiên liệu hoá thạch và sự suy
giảm ô zôn ở tầng bình lưu. Các chất ô
nhiễm khác cũng gây nhiều tác động tiêu
cực tới sinh vật sống.
Gia tăng dân số tác động trực tiếp tới quá trình đô thị hoá và sự lan tràn bệnh dịch.
Trong vòng một nghìn năm qua, dân số thế giới gia tăng với một tốc độ chóng mặt. Gia tăng
dân số làm tăng tốc độ đô thị hoá, người dân ở nông thôn di cư ra thành phố để mưu cầu
một cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân cũng như cho tương lai của thế hệ con cháu. Trước
những năm 1950, dân số sống ở đô thị trên thế giới chỉ chiếm khoảng dưới 30%, nhưng đến
năm 2050 thì con số này ước tính sẽ tăng lên tới hơn 60%. Vào năm 2000, trên thế giới có
khoảng 20 thành phố với số dân vượt quá 10 triệu người (McCartney, 2002). Điều kiện
sống đông đúc chật hẹp, vệ sinh môi trường kém do quá trình đô thị hoá xảy ra mạnh mẽ ở
nhiều nơi tạo điều kiện cho các bệnh truyền nhiễm phát triển và lây lan. Một số bệnh dịch
phổ biến trên thế giới làm nhiều người mắc và chết là các bệnh tiêu chảy, lao phổi, sốt rét và
tả. Ngoài ra còn có nhiều bệnh mới nảy sinh hay các bệnh cũ quay trở lại do sự thay đổi các
hệ sinh thái. Điều này chứng tỏ mối tương quan chặt chẽ giữa gia tăng dân số, thay đổi môi
trường sinh thái và sức khoẻ con người.
Các hoạt động của con người trong thời gian qua đã có những ảnh hưởng tiêu cực
tới trạng thái cân bằng của nhiều hệ sinh thái. Mối đe doạ trước mắt là sự phá hoại những
nơi sinh sống tự nhiên của sinh vật cũng như sự xâm nhập của các loài lạ xẩy ra sau khi sinh
cảnh bị tàn phá. Đối với hệ sinh thái biển thì việc đánh bắt cá và các loài hải sản tràn lan là