MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mọi hoạt động kinh tế- xã hội (KT-XH) đều có quan hệ mật thiết với môi
trường không khí. Các điều kiện và tài nguyên khí hạu là thành phần quan trọng
của hệ sinh thái và là cơ sở quyết định cho sự phát triển KT-XH mỗi khu vực. Việc
khai thác và sử dụng hợp lý dạng tài nguyên này có ý nghĩa quan trọng trong sự
phát triển bền vững của mỗi địa phương. Trong các ngành kinh tế, thì du lịch cùng
với nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng không nhỏ của các đặc điểm và tài nguyên khí
hậu.
Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc nhưng lại là
một trong những tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Sự phát triển đột phá
của Quảng Ninh trong những năm qua dựa trên hai thế mạnh là công nghiệp khai
thác than và du lịch. Trong đó, du lịch “ngành công nghiệp không khói” sẽ là
hướng phát triển bền vững của tỉnh. Sự phát triển của du lịch chịu sự chi phối của
nhiều điều kiện, trong đó khí hậu có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của ngành.
Vì vậy, tiểu luận sẽ xem xét ảnh hưởng của tài nguyên khí hậu đến hoạt động
du lịch tỉnh Quảng Ninh nhằm phát huy những thuận lợi và khắc phục phần nào
những khó khăn do nó tạo ra với tiêu đề: “Tài nguyên khí hậu và một số ảnh
hưởng của nó đến hoạt động du lịch tỉnh Quảng Ninh”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ
2.1. Mục tiêu
- Phân tích các đặc điểm của tài nguyên khí hậu Quảng Ninh.
- Đưa ra những ảnh hưởng của tài nguyên khí hậu đối với hoạt động du lịch
và một số giải pháp.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu.
1
- Vận dụng các kiến thức trong học phần “ Tài nguyên khí hậu” để giải quyết
những nội dung của tiểu luận.
NỘI DUNG
học với chỉ tiêu chính là nhiệt độ, độ ẩm không khí và một số chỉ tiêu khác như gió,
lượng mưa, số giờ nắng, áp suất khí quyển…[6]
Nếu điều kiện khí hậu thuận lợi làm cho con người có sức khoẻ dồi dào, tinh
thần thoải mái và hiệu quả làm việc cao thì rất thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng,
tham quan, giải trí cuối tuần… Khí hậu điều hoà, ít thiên tai, bao lũ sẽ không gây
trở ngại cho việc tổ chức các hoạt động du lịch cũng như gây thiệt hại đối với cơ sở
hạ tầng phục vụ du lịch. Những nơi có khí hậu điều hoà thường được du khách ưa
thích. Nhiều cuộc thăm dò cho thấy, khách du lịch thường tránh những nơi quá
lạnh, quá ẩm hoặc quá nóng, quá khô.
Mặt khác, sự phân hoá mùa của khí hậu còn quyết định mùa vụ du lịch.
1.4. Tổng quan về điều kiện tự nhiên và KT-XH tỉnh Quảng Ninh
1.4.1. Vị trí địa lý
Quảng Ninh là tỉnh nằm ở vùng duyên hải Đông Bắc Việt Nam. Tỉnh được
xác định bởi toạ độ địa lý 20
0
40’B- 21
0
44’B và 106
0
25’Đ- 108
0
25’Đ. Phía Bắc giáp
Trung Quốc, phía Tây giáp Lạng Sơn, Bắc Giang; nam giáp Hải Dương, Hải
Phòng; phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ. Tổng chiều dài ranh giới khoảng 550 km,
trong đó đường biên giới với Trung Quốc dài 92 km và đường bờ biển là 250 km.
Diện tích toàn tỉnh là 5.938 km
2
, trong đó đất liền chiếm 85%, còn hải đảo
chiếm 15%. Quảng Ninh là một tỉnh dài và hẹp như vòng cung quay bề lõm về phía
3
* Sự tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế: Tỉnh đã tập trung ưu tiên phát
triển công nghiệp và du lịch ở những khu vực trọng điểm như thành phố Hạ Long,
Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí… Do đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức
trung bình cả nước và ổn định. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1996-
2000 là 9,6%. [7]
Cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh trong những năm qua có sự chuyển dịch
mạnh mẽ, phù hợp với lợi thế của tỉnh. Tỷ trọng nông- lâm- ngư nghiệp giảm, từ
năm 2000 đến 2005 tương ứng là 8,6% xuống còn 5,2%. Tỷ trọng du lịch- dịch vụ
cũng giảm từ 45,9% còn 40,3 %. Cùng thời kỳ công nghiêp- xây dựng tăng từ
45,3% lên 51%. [7].
Sự phát triển kinh tế của Quảng Ninh còn rất nhiều triển vọng của một tỉnh
trong vùng kinh tế trọng điểm.
* Cơ sở hạ tầng: Tiếp tục nâng cấp và hoàn thiện các tuyến đường giao thông
quan trọng từ Hạ Long đi Móng Cái. Đã xây dựng các công trình quan trọng như
5
cầu Bãi Cháy, cảng Cái Lân, cầu Tài Xá…Hoàn thành dự án cấp thoát nước ở
thành phố Hạ Long. Mở rộng mạng lưới điện.
* Văn hoá- giáo dục và quản lý bảo vệ môi trường: Văn hoá- giáo dục được
nâng cao đáp ứng nhu cầu học tập, giải trí của người dân. Tăng cường quản lý bảo
vệ tài nguyên môi trường, nhất là các dự án bảo vệ vịnh Hạ Long.
Như vây, Quảng Ninh là vùng đất có nguồn tài nguyên rất đa dạng, đặc biệt
là phát triển du lịch. Kinh tế- xã hội của tỉnh có sự phát triển mạnh mẽ, trong đó du
lịch được xác định là ngành chủ lực.
6
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở QUẢNG NINH
2.1. Các nhân tố hình thành khí hậu của tỉnh Quảng Ninh
2.1.1. Bức xạ Mặt Trời
Do nằm trong khu vực nội chí tuyến (giữa chí tuyến Bắc và xích đạo) nên
luôn được Mặt Trời chiếu sáng quanh năm với độ cao lớn.Vì thế, bức xạ tổng cộng
- Gió mùa mùa hè có thể là gió mùa Tây Nam Á (từ Ấn Độ Dương tàn sang)
và tín phong Nam Bán Cầu thổi lên theo hướng Đông Nam. Quảng Ninh không
chịu tác dụng của gió mùa Tây Nam.
Hai loại gió mùa này đã tạo nên hai mùa tương phản: mùa đông và mùa hè
cho miền Bắc Việt Nam, trong đó có Quảng Ninh. Gió mùa mùa đông đã tạo nên
một mùa đông lạnh với hai loại thời tiết: lạnh khô vào đầu mùa do khối không khí
cực đới lục địa và lạnh ẩm vào cuối mùa do khối không khí này qua biển đã bị biến
tính. Gió mùa mùa hè với hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới đã tạo nên thời tiết
nóng ẩm cho Quảng Ninh.
Hoạt động của hai loại gió này cũng kèm theo các nhiễu động gây mưa như
frônt lạnh, dải hội tụ nhiệt đới, bão…làm cho khí hậu càng thêm phức tạp.
2.1.3. Các nhân tố địa lý
* Vị trí địa lý
Vĩ độ địa lý quyết định độ cao Mặt Trời, thời gian chiếu sáng nên quyết định
lượng bức xạ Mặt Trời. Quảng Ninh nằm trong khu vực nội chí tuyến, bức xạ Mặt
Trời lớn nên nền nhiệt độ khá cao (trừ mùa đông cho khối khí cực làm biến tính).
[3]
Mặt khác, do vị trí giáp biển nên khí hậu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hải
dương. Mùa đông, biển có tác dụng làm ấm không khí nên vào cuối mùa đây là khu
8
vực đầu tiên đón gió mùa Đông Bắc qua biển. Gió này đem lại thời tiết ấm, ẩm với
hiện tượng mưa phùn rất điển hình. Mùa hè gió từ biển thổi vào làm cho thời tiết
mát mẻ và ẩm hơn. Tác dụng của bão đến Quảng Ninh không mạnh mẽ do sự che
chắn của hệ thống đảo trên vịnh. Tuy nhiên, một số nhiễu động như lốc xoáy, mưa
lớn… cũng thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
* Địa hình: Địa hình có hướng vòng cung do các dãy núi trong cánh cung
Đông Triều tạo thành. Cánh cung này cùng với sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn
chụm đầu ở Tam Đảo giống như hình nan quạt có tác dụng hút gió mùa Đông Bắc.
Vì thế, mùa đông Quảng Ninh chịu tác dụng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc tạo
nên một mùa đông sâu sắc, nhiệt độ xuống thấp (Tiên Yên nhiệt độ xuống tới 1
2
). Các
tháng có bức xạ tổng cộng đạt cực tiểu là tháng I, tháng II ( xấp xỉ 5 kcal/cm
2
).
Bảng 2.1: Bức xạ tổng cộng (kcal/cm
2
) [1]
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Trước
1975
5,8 5,7 6,9 10,
0
12,2 11,5 12,3 11,8 11,6 11,5 8,9 7,1 115,3
1976-
1985
5,6 5,2 6,6 6,3 12,2 10,3 10,4 11,4 11,2 9,9 9,3 8,1 106,5
1986-
1995
4,8 4,7 6,0 7,2 11,3 10,9 11,8 12,3 11,6 10,1 8,6 8,2 107,5
Khoảng thời gian lên xuống của bức xạ tương ứng với hai mùa trong năm:
mùa hạ và mùa đông. Bức xạ tổng cộng lớn tạo cơ sở cho một nền nhiệt dồi dào.
* Số giờ nắng: Liên quan trực tiếp đến bức xạ là chế độ nắng. Số giờ nắng
trong năm ở Quảng Ninh xê dịch trong khoảng 1.500- 1.800 giờ (trung bình cả
nước là 1.400- 3.000 giờ). Như vây, Quảng Ninh có số giờ nắng thuộc loại khá cao.
Cô Tô có số giờ nắng lớn nhất (1.941 giờ) và ít nhất ở Tiên Yên (1.514 giờ).
Không những có sự phân hoá theo không gian, số giờ nắng còn có sự phân hoá theo
thời gian trong năm. Tháng có số giờ nắng lớn nhất là tháng IX, tháng X (trên
1.800 giờ) do trời quang, ít mây. Ngược lại các tháng II và III, số gời nắng rất ít,
chỉ khoảng trên 400 giờ. Đây là thời điểm mùa xuân, nhiều mây và mưa phùn. [5]
0
C thì ở những vùng thấp
mùa nóng bắt đầu từ cuối tháng IV và đầu tháng V, kết thúc vào cuối tháng IX, đầu
tháng X; mùa lạnh bắt đầu từ tháng XI và kết thúc vào cuối tháng III năm sau. [5]
Mùa hè có nhiệt độ khá cao, trị số trung bình tháng VII ở hầu hết các nơi
trong tỉnh dao động từ 27,9 đến 28,8
0
C. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới trị số
38,8
0
C, ở các nơi dao động từ 36,2 đến 38,0
0
C. [5]
Mùa đông, nhiệt độ trung bình dao động từ 13 đến 15
0
C. Nhiệt độ tối thấp
tuyệt đối xuống thấp tới 0,9
0
C. [5]
11
Ở Quảng Ninh, tháng lạnh nhất là tháng I, tháng nóng nhất là tháng VII Biên
độ dao động nhiệt độ trong năm lớn (trên 10
0
C). Biên độ cực đại lên đến 30
0
C.
Biên độ năm ở miền Đông khoảng 12- 13
0
C, miền Tây khoảng 11- 12
0
t
0
≤
10
0
C
2,3 2,4 0,1 0 0 0 0 0 0 0 0 0,5
t
0
≤
15
0
C
6,7 12,9 4,9 0,2 0 0 0 0 0 0 1,1 8,5
t
0
≥
30
0
C
0 0 0 0 0 0,5 1,1 0,9 0,1 0 0 0
Cửa
Ông
t
0
≤
10
0
C
0,9 1,5 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0,5
lượng mưa này giống như lượng mưa năm. Mùa đông, lượng mưa phần lớn các nơi
150- 400 mm. Càng về phía biển và hải ddaor càng lớn dần lên. Cô Tô, lượng mưa
trong mùa đông là 250 mm.
Như vậy, mặc dù trong phạm vi một tỉnh nhưng lượng mưa có sự khác nhau
giữa các nơi vào các thời điểm.
* Số ngày mưa và cường độ mưa
Số ngày mưa và cường độ mưa quyết định lượng mưa. Các cực đại và cực
tiểu mưa của Quảng Ninh cũng là các cực đại, cực tiểu của vùng Đồng bằng Bắc
Bộ. Móng Cái và Tiên Yên là hai địa phương có số ngày mưa nhiều nhất trên 160
ngày. Vùng núi Nam Châu Lãnh và các khu vực xung quanh có số ngày mưa trên
120 ngày. Ngược lại, vùng giáp ranh với Hải Phòng, Hải Dương, có số ngày mưa ít
(không quá 100 ngày). [5]
13
Bảng 2.3: Số ngày mưa trung bình của một số
địa điểm thời kỳ 1946- 1995 [5]
Trạm I II III IV V VI VII VII
I
IX X XI XII Tổng
Uông Bí 7 10 13 12 13 16 16 19 14 10 5 4 141
Hòn Gai 6 9 12 10 11 15 16 19 14 9 5 5 132
Móng
Cái
10 12 15 15 15 19 21 16 14 10 7 8 163
Cô Tô 7 8 10 9 9 12 12 20 14 9 6 5 117
Lượng mưa nhiều hay ít một phần do số ngày mưa nhưng chủ yếu do cường
độ mưa quyết định. Nếu phân ngày mưa theo các cấp thì cường độ mưa ngàng phổ
biến trong mùa đông là 0,1- 5,0 mm; mùa hè là 0,1- 25,0; trong các mùa chuyển
tiếp là 0,1-10 mm. Riêng Tiên Yên, Móng Cái cường độ mưa lớn hơn, cực đại
trong mùa đông là 10 mm; mùa hè là 50 mm; còn mùa xuân, mùa thu là 26 mm. [5]
Như vậy, các vùng mưa nhiều của tỉnh đều có số ngày mưa và cường độ mưa
Cái
79 83 87 88 86 86 86 86 82 78 76 76 83
Cô Tô 83 88 90 90 88 87 85 86 82 78 77 79 84
TB 81 85 88 88 85 85 86 83 79 78 76 77 83
Xét về độ ẩm tương đối có thể chia mùa đông thành hai thời kỳ. Nửa đầu
mùa đông độ ẩm rất thấp, tháng XII và tháng I có độ ẩm thấp nhất trong năm. Nửa
cuối mùa đông và tháng II, III độ ẩm xấp xỉ các tháng trong mùa hạ, thậm chí lớn
hơn cả mùa hè như đảo Cô Tô. Trong mùa đông, phân bố của độ ẩm tương đối phù
hợp với sự phân bố của lượng mưa.
* Lượng bốc hơi
Lượng bốc hơi toàn năm của vùng thấp 700- 1.300 mm, lớn nhất ở Đông
Triều và thấp nhất ở Móng Cái. Trong mùa hè, lượng bốc hơi từ 400- 650 mmm, ít
nhất là các tháng VII, VIII. Sang đông xuân lượng bốc hơi là 350- 700 mm, trong
đó các tháng XII, I có lượng bốc hơi nhiều nhất.
15
Sự tăng hay giảm của nhiệt độ không ảnh hưởng nhiều đến lượng bốc hơi. ở
đây, mưa và độ ẩm không khí ảnh hưởng chủ yếu đến lượng bốc hơi. Do đó biến
trình năm của lượng bốc hơi về cơ bản phù hợp với biến trìn năm của hai yếu tố
này.
Để đánh giá khả năng cung cấp nước tự nhiên cho các hoạt động KT- XH,
người ta thường dùng chỉ số khô hạn, hay chỉ số ẩm ướt. Chỉ số khô hạn là là tỷ số
giữa lượng bốc hơi và lượng mưa và ngược lại chỉ số ẩm ướt là tỷ số giữa lượng
mưa và lượng bốc hơi. Chỉ số khô hạn của Quảng Ninh rất nhỏ. Nơi mưa ít như
Đông Triều chỉ số khô hạn ≤ 0,5. Nơi mưa nhiều như Móng Cái, Tiên Yên chỉ số
khô hạn là 0,2. Đồng thời, chỉ số khô hạn cũng có sự khác nhau giữa các tháng
trong năm. Các tháng có chỉ số khô hạn nhỏ nhất là tháng VII, VIII (0,1- 0,4).
Trung bình chỉ số khô hạn các tháng mùa hè là ≤ 1,0. Những tháng mùa đông, chỉ
số khô hạn ≥ 1,0.
Như vậy, Quảng Ninh hầu như không bị đe doạ bởi nạn hạn hán.
16
sáng, bức xạ, nhiệt và ẩm tương đối thuận lợi cho các hoạt động KT- XH.
17
2.5. Một số bất lợi của khí hậu Quảng Ninh
Bên cạnh những thuận lợi, còn có một số hiện tượng thời tiết đặc biệt gây bất
lợi cho con người.
2.5.1. Sương mù và sương muối
Đây là những hiện tượng thường xuất hiện ở Quảng Ninh.
Sương mù xuất hiện nhiều nhất ở vùng đồi khuất sau núi Nam Châu Lãnh.
Khu vực này quanh năm có sương mù. Còn các khu vực khác trong tỉnh, sương mù
thường xảy ra vào cuối mùa hè, đầu mùa đông, nhiều nhất vào tháng VIII. Số ngày
có sương mù trong năm là 15- 20 ngày. Cửa Ông và Cô Tô là hai địa điểm có
sương mù nhất (20- 29 ngày). Sương mù ít nhất ở Uông Bí (0,9 ngày). Sương mù
gây khó khăn cho các hoạt động, nhất là giao thông vận tải vì cản trở tầm nhìn.
Khác với sương mù, sương muối chỉ xuất hiện vào mùa đông, nhất là vào
những đợt gió mùa Đông Bắc, khi nhiệt độ hạ thấp xuống dưới điểm sương (< 0
0
C).
Những đợt sương muối của Quảng Ninh thường xảy ra vào các tháng XII, I, II.
Nhiệt độ có nơi xuống dưới 0
0
C, rất nguy hiểm đối với sản xuất nông nghiệp, đặc
biệt là gia súc, gia cầm.
2.5.2. Dông
Hàng thángở Quảng Ninh có khá nhiều dông. Móng Cái, Tiên Yên trung
bình năm 40- 55 ngày có dông. Đảo Cô Tô có ít dông nhất, khoảng 33 ngày.
Mùa hè thường xảy ra dông nhiệt vào những ngày có nhiệt độ cao, bốc hơi
mạnh, độ ẩm không khí lớn. Lớp không khí sát mặt đất trở lên kém ổn định nên
thường xảy ra dông, mưa lớn kèm theo gió mạnh. Trong mùa hè, mỗi tháng ít nhất
cũng có 6- 8 ngày dông.
Bảng 2.5 : Số ngày có dông tại một số trạm [5]
Các cơn bão ảnh hưởng gián tiếp nhiều, chủ yếu là những cơn đổ bổ vào bờ
biển Bắc Bộ và khu Bốn cũ. Bão vào Quảng Đông (Trung Quốc ) ít ảnh hưởng đến
Quảng Ninh. Bão là nguyên nhân chủ yếu gây mưa lớn và những thiệt hại về người
và của.
19
Tóm lại, khí hậu Quảng Ninh khá điều hoà, ít thiên tai bão lũ thuận lợi cho
các hoạt động KT- XH của người dân. Theo bảng Phân hạng các khu vực địa lý
theo tài nguyên khí hậu của Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Hiệu tài nguyên
mưa và mưa mùa hè được xếp hạng 1, gió hạng 2 và bức xạ, nhiệt độ hạng 3, 4.
Qua đó cho thấy Quảng Ninh cũng có tiềm năng về tài nguyên khí hậu.
2.3. Ảnh hưởng của tài nguyên khí hậu đến hoạt động du lịch của tỉnh Quảng
Ninh
Ngoài nông nghiệp chịu sự chi phối trực tiếp thì các hoạt động du lịch cũng
bị ảnh hưởng lớn bởi khí hậu. Bất cứ tác động nào cũng có tính chất hai mặt: thuận
lợi và không thuận lợi, song tuỳ từng đối tượng mà một trong hai mặt sẽ là yếu tố
trội. Ảnh hưởng của tài nguyên khí hậu Quảng Ninh đến hoạt động du lịch cũng thể
hiện ở hai mặt thuận lợi và khó khăn.
2.3.1. Một số ảnh hưởng có lợi của tài nguyên khí hậu đối với hoạt động du
lịch
a, Khí hậu là thành phần tự nhiên chủ yếu tạo nên cảnh quan nhiệt đới ẩm gió
mùa và một số cảnh quan đặc biệt phục vụ cho du lịch
Động lực của mọi quá trình tự nhiên là bức xạ Mặt Trời, biểu hiện cụ thể là
nhiệt và ẩm. Hai yếu tố này chi phối sự hình thành, phát triển và đặc điểm của các
thành phần tự nhiên khác. Mang đặc điểm chung của khí hậu Việt Nam với nguồn
nhiệt và ẩm dồi dào đã tạo cho Quảng Ninh cảnh quan của vùng nhiệt đới ấm gió
mùa. Thổ nhưỡng từ đất feralit, đất phù sa, đất mặn đến đất mùn trên núi. Sông
ngòi dày đặc, quanh năm có nước. Từ đó, lớp “áo” cảnh quan là thảm thực vật rừng
thường xanh với độ đa dạng sinh học khá cao còn được bảo tồn ở một số nơi như
Cô Tô, Hoành Bồ… Ở đây thích hợp cho hoạt động du lịch nghiên cứu, tham quan,
dã ngoại…
nhất (
0
C)
Biên độ dao
động nhiệt độ
(
0
C)
Lượng mưa
năm (mm)
1 Thích nghi 18- 24 24- 27 < 6 1.250-
1.950
2 Khá thích nghi 24- 27 27- 29 6- 8 1.950-
2.250
3 Nóng 27- 29 29- 32 8- 14 >2.250
4 Rất nóng 29- 32 32- 35 14- 19 < 1.250
5 Không thích
nghi
> 32 > 35 > 19 < 680
Đối chiếu bảng này với các đặc điểm khí hậu của Quảng Ninh ở phần trên
cho kết quả là thích nghi và khá thích nghi với sức khoẻ con người:
21
- Nhiệt độ trung bình năm > 21
0
C vào loại thích nghi.
- Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 27,9- 28,8
0
C vào loại khá thích nghi.
- Biên độ dao động nhiệt độ 13
0
nhưng chủ yếu là có hai mùa khác nhau rõ rệt. Là một tỉnh ven biển, nên các hoạt
động du lịch biển chỉ sôi động trong mùa nóng. Vì thế, mùa hè và đầu thu mới là
mùa du lịch. Đến đây vào mùa hè, các hoạt động du lịch rất nhộn nhịp, khách du
lịch tập trung đông. Như vậy, sự phân mùa của khí hậu đã qui định tính mùa vụ của
du lịch. Từ đó, các cơ sở hoạt động phải tận dụng để phát huy thế mạnh của từng
mùa, phát triển các loại hình phù hợp. Đồng thời, du khách năm được để lựa chọn
hình thức du lịch, thời điểm đi du lịch hợp lý. Tuy nhiên, chính tính mùa vụ này
thường gây sức ép vào mùa du lịch như phòng nghỉ, giao thông…
2.3.2. Một số ảnh hưởng bất lợi của khí hậu đến du lịch
Mặc dù, khí hậu Quảng Ninh khá lý tưởng cho các hoạt động du lịch nhưng
cũng tạo nên không ít những khó khăn. Bản thân tính mùa vụ cũng là một hạn chế.
Thời gian mùa đông kéo dài vài tháng hoạt động du lịch gần như tạm ngừng. Thời
tiết giá rét, nhất là khi có gió mùa Đông Bắc thì ngay cả tham quan vịnh cũng khó
có thể tiến hành mà không nói đến tắm biển. Cuối mùa đông, mưa phùn kèm theo
giá rét và hiện tượng nồm thì du lịch gần như “bất động”.
Mùa hè mặc dù là mùa du lịch nhưng lại kèm theo mưa, nhất là những tháng
mưa ngâu các hoạt động du lịch cũng khó tiến hành. Các hiện tượng thời tiết bất
thường như bão, lốc xoáy không những làm ngừng trệ các hoạt động du lịch mà
còn phá hoại các công trình du lịch ven biển như các khu du lịch, tàu thuyền tham
quan
KẾT LUẬN
Sự phát triển của du lịch không thể tách rời với các tác động của khí hậu. Tác
động ấy có thể là thuận lợi hoặc khó khăn. Quảng Ninh một mảnh đất có thể coi
như là “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” đã được thiên nhiên ban tặng cho những kiệt
23
tác của tạo hoá, phong cảnh tươi đẹp, tài nguyên phong phú. Tất cả những tiềm
năng đó càng được phát huy trong ngành du lịch bởi một điều kiện khí hậu hết sức
thuận lợi. Khí hậu miền duyên hải điều hoà, với một mùa hè nóng ẩm và mùa đông
lạnh. Mảnh đất này cũng không nhiều những thiên tai, nếu có thì mức độ cũng
không mạnh. Đặc điểm đó rất thuận lợi cho các hoạt động du lịch, đặc biệt du lịch