Tài liệu Đề án “Những biến động trên thị trường dầu mỏ thế giới và ảnh hưởng của nó tới hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam” - Pdf 90

ĐỀ ÁN ÁN

“Những biến động trên thị
trường dầu mỏ thế giới và ảnh
hưởng của nó tới hoạt động xuất
khẩu dầu mỏ của Việt Nam”

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của việc nghiên cứu đề tài
Nhận định chung cho rằng thế kỷ XIX là thế kỷ của than, thế kỷ XX là thế
kỷ của dầu mỏ và trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, chắc chắn loại
nhiên liệu không thể tái sinh được này vẫn chưa thể bị thay thế bởi khí đốt,
than, thuỷ điện, năng lượng hạt nhân, năng l
ượng gió, mặt trời, địa nhiệt, bởi
hơn 80% năng lượng hiện nay được tạo ra bởi dầu mỏ.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, mặt hàng dầu thô (dầu mỏ
chưa qua tinh chế) là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực, luôn chiếm vị trí số
một về giá trị kim ngạch xuất khẩu (tổng trị giá xuất khẩu của toàn bộ
nền

khẩu dầu mỏ Việt Nam do sự biến động này tạo ra.
- Phạm vi nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam từ
năm
1991 trở lại đây, đặc biệt là trong những năm gần đây: 2003 và 2004.
4. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với
thống kê, phân tích để từ đó rút ra các kết luận làm cơ sở đưa ra các giải
pháp làm cơ sở cho việc nghiên cứu.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kế
t luận và phụ lục tham khảo, đề tài gồm những phần
sau:
Chương I:
Tổng quan chung về dầu mỏ và thị trường dầu mỏ
Chương II
: Tác động của sự biến động thị trường dầu mỏ thế giới đối với
hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam
Chương III
: Các giải pháp nâng cao híệu qủa hoạt động xuất khẩu dầu mỏ
của Việt Nam trước biến động trên thị trường dầu mỏ thế giới CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ DẦU MỎ VÀ
THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ
I. Dầu mỏ và ngành công nghiệp dầu mỏ
1. Khái niệm dầu mỏ
Dầu mỏ là một loại tài nguyên khoáng sản quý mà thiên nhiên ban tặng cho
con người. So với các khoáng sản khác như: than đá, đồng, chì, nhôm,
sắt…thì dầu mỏ được con người biết đến và sử dụng tương đối muộn hơn.
Dầu mỏ là hợp chất hydrocacbon được khai thác lên từ lòng đất, thường ở

nhiều loại tài nguyên khoáng sản khác, dầu mỏ được hình thành do kết quả
quá trình vận động phức tạp lâu dài hàng triệu năm về vật lý, hoá học, địa
chất, sinh học…trong vỏ trái đất. Thông thường dầu mỏ sau khi khai thác có
thể xử lý, tàng trữ và xuất khẩu ngay.
2. Vai trò của dầu mỏ
Dầu mỏ cùng với các loại khí đốt được coi là “Vàng đen”, đóng vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế toàn cầu. Đây cũng là một trong những
nguyên liệu quan trọng nhất của xã hội hi
ện đại dùng để sản xuất điện và cũng
là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông vận tải. Hơn nữa dầu mỏ
cũng được sử dụng trong công nghiệp hoá dầu để sản xuất các chất dẻo và
nhiều sản phẩm khác.
Dầu mỏ mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho các quốc gia và dân tộc trên thế
giới đang sở hữu và tham gia trực ti
ếp kinh doanh nguồn tài nguyên trời cho
này.
Hiện nay, trong cán cân năng lượng, dầu mỏ vẫn giữ vai trò quan trọng
nhất so với các dạng năng lượng khác. Cùng với than đá, dầu mỏ cùng các
loại khí đốt khác chiếm tới 90% tổng tiêu thụ năng lượng toàn cầu.
Không ít các cuộc chiến tranh, các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị có
nguyên nhân sâu xa từ các hoạt động cạnh tranh sản xuất kinh doanh trong
lĩnh vực dầu mỏ. Không phải ng
ẫu nhiên mà giá cổ phiếu của các công ty sản
xuất kinh doanh dầu mỏ biến động tuỳ thuộc rất lớn vào những kết quả tìm

kiếm thăm dò của chính các công ty đó trên thế giới. Lợi dụng hiện tượng
biến động này, không ít các những thông tin không đúng sự thật về các kết
quả thăm dò dầu mỏ được tung ra làm điêu đứng những nhà đầu tư chứng
khoán trên lĩnh vực này, thậm chí làm khuynh đảo cả chính sách của các quốc
gia.

con đẻ của ngành công nghiệp nặng. Tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực thăm
dò, khoan, khai thác, xây dựng công trình biển…có nhiều bước nhảy vọt . Có
thể nói, ngành công nghiệp dầu mỏ nói riêng và công nghiệp dầu khí noi
chung đang sử dụng những công nghệ hiện đại nhất trong tất cả các lĩnh vực
và đang là ngành dẫn đầu trong phát triển và ứng dụng các công nghệ
ngày
càng tiên tiến hơn.
Thứ ba, công nghiệp dầu mỏ là một ngành mang tính quốc tế cao, khác với
than đá trước đây, việc thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối dầu khí đã
nhanh chóng mang tính toàn cầu. Có lẽ, hiện tượng toàn cầu hoá xảy ra sớm
nhất trong ngành này. Trong quá trình phát triển của mình, đặc biệt nhất là
trong “thập kỷ vàng”, các hoạt động dầu khí chủ yếu được tiến hành thông
qua các hợp đồng ký giữa các công ty đa qu
ốc gia với nước chủ nhà có nguồn
tài nguyên dầu. Có nhiều dạng hợp đồng đã được sử dụng, nhưng phổ biến và
vẫn còn ý nghĩa cho tới ngày nay là dạng “hợp đồng phân chia sản phẩm”.
Điều khoản cơ bản của dạng hợp đồng này là nhà đầu tư (các công ty dầu mỏ)
đồng ý tiến hành mọi hoạt động tìm kiếm, thăm dò bằng nguồn tài chính của
riêng mình. Nếu có phát hi
ện thương mại, nhà đầu tư tiếp tục chi cho các hoạt
động phát triển, khai thác. Lượng dầu khí khai thác lên sau khi nộp cho thuế
tài nguyên sẽ được chia theo tỷ lệ sản lượng cho nước chủ nhà. Để san sẻ rủi
ro và đảm bảo lợi nhuận ổn định, ngoài việc liên minh, liên kết trong các hợp
đồng phân chia sản phẩm, hầu hết các công ty dầu mỏ có chiến lược phát triển
theo mạng đầu tư ở nhiều n
ơi, nhiều nước và theo chiều dọc.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng phân chia sản phẩm, các nước sở
hữu dầu mỏ nhận thấy rằng cần phải giảm thiểu sự phụ thuộc vào các công ty
đa quốc gia, tiếp cận trực tiếp với ngành công nghiệp này và đảm bảo an ninh
năng lượng cho mình vì thế các công ty dầu mỏ ở các quốc gia ra đời. Quá

2004 của Exxon Mobil). Trữ lượng dầu mỏ tìm thấy và có khả năng khai thác
mang lại hiệu quả kinh tế với kỹ thuật hiện đại đã tăng lên trong những nă
m
gần đây và đạt mức cao nhất vào năm 2003. Người ta dự đoán rằng trữ lượng
dầu mỏ sẽ đủ dùng cho 50 năm nữa.

Việt Nam được xếp vào các nước xuất khẩu dầu mỏ là từ năm 1991, khi sản
lượng khai thác mới đạt vài ba triệu tấn. Đến nay, sản lượng dầu khí khai thác
và xuất khẩu hàng năm đã đạt hơn hai chục triệu tấn. Công việc khai thác đã
từng bước được hoàn thiện.

II. Thị trường dầu mỏ thế giới
1. Đặc điểm thị trường dầu m
ỏ thế giới
Thị trường dầu mỏ thế giới là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán
về dầu mỏ giữa các quốc gia trên khắp thế giới. Nó có những đặc điểm chung
song cũng có những điểm hết sức khác biệt so với các thị trường khác.
Thứ nhất, đây là một thị trường lớn do nhu cầu phong phú, đa dạng về dầu
m
ỏ của các quốc gia trên khắp thế giới. Trong khi mà các nguồn tài nguyên
không thể tái sinh ngày càng cạn kiệt và những nguồn năng lượng khác chưa
thể thay thế được vai trò chiến lược của dầu mỏ thì nhu cầu về dầu mỏ vẫn
ngày một tăng với một số lượng lớn các giao dịch mua bán dầu mỏ giữa các
quốc gia, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên thế giới.
Thứ hai, thị tr
ường dầu mỏ còn hết sức nhạy cảm với những biến động về
kinh tế, chính trị trên toàn cầu từ đó dẫn đến những biến động trên chính thị
trường dầu mỏ. Chỉ cần xảy ra một sự bất ổn định về mặt chính trị của một
trong những quốc gia xuất khẩu dầu như là sự căng thẳng về chính tr
ị tại


Dầu thô Bren biển Bắc, kỳ hạn

Dầu thô, kỳ hạn
- Giao tháng 5/2004 30,02 32,45
- Giao tháng 6/2004 30,02 32,26 33,64
- Giao tháng 7/2004 29,84
Giá sản phẩm dầu tại thị trường
Singapore, FOB Singapore

- Xăng 97 RON 46,95-47,05 45,70-45,80
- Xăng 95 RON 43,65-43,75 43,55-43,65
Nguồn: Viện nghiên cứu Bộ Thương mại
2. Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC

Thị trường dầu mỏ thế giới chịu sự chi phối và phụ thuộc rất nhiều vào tổ
chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC. Đây là một tổ chức đa chính phủ được thành
lập bởi các nước Iran, I-rắc, Kwait, Ả Rập Saudi và Venezuela trong hội nghị
tại Baghda (từ ngày 10 tháng 9 đến 14 tháng 9 năm 1960). Các thành viên
gồm Qatar (1961), Nam Dương (1962), LiBi (1962). Các tiểu vương quốc Ả
Rập thống nhất (1967), Algeria (1969) và Nigeria (1971) lầ
n lượt gia nhập tổ
chức sau đó. Ecuador (1973 - 1992) và Gabon (1975 - 1994) cũng từng là
thành viên của OPEC. Trong năm năm đầu tiên đặt trụ sở cuả OPEC tại
Geneve, Thuỵ Sĩ, sau đó chuyển về Viên, Áo từ tháng 9/1965. Các nước
thành viên OPEC khai thác vào khoảng 40% tổng sản lượng dầu thế giới và
nắm giữ khoảng 3/4 trữ lượng dầu thế giới.
OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu củ
a các nước thành
viên và qua đó có khả năng khống chế giá dầu trên thị trường thế giới. Hội

Tiến tới đạt tỷ lệ quốc gia hoá 50% các tập đoàn.
* 1973: Tăng giá dầu từ 2,89 USD một thùng lên 11,65USD. Thời gian
này được gọi là cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, OPEC khai thác 55%
lượng dầu của thế giới.
* Từ 1974 đến 1978: tăng giá dầu 5-10% hầu như mỗi nử
a năm một lần
để chống lại việc USD bị lạm phát.
* 1979: Khủng hoảng dầu lần thứ hai. Sau cuộc cách mạng Hồi giáo, giá
dầu từ 15,5 USD/1 thùng được nâng lên 24USD. Lybia, Algeria và Iraq thậm
chí đòi đến 30 USD cho một barrel.
* 1980: Đỉnh điểm chính sách cao giá của OPEC. Lybia đòi 41 USD, Ả
Rập Saudi đòi 32 USD và các nước thành viên còn lại là 36 USD cho một
thùng dầu.
* 1981: Lượng tiêu thụ dầu giảm do các nước công nghiệp lâm vào cuộc
khủng hoảng kinh tế và b
ắt nguồn từ cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, do
giá dầu cao, nhiều nước trên thế giới đầu tư vào các nguồn năng lượng khác.
Lượng tiêu thụ dầu trên thế giới giảm 11% trong thời gian từ năm 1979 đến
1983, thị phần dầu của OPEC trên thị trường giảm còn 40%.

* 1982: Quyết định cắt giảm sản lượng sản xuất tuy được thông qua
nhưng lại không được các thành viên giữ đúng. Thị phần của OPEC giảm
xuống còn 33% và vào năm 1985 còn 30% trên tổng số lượng khai thác dầu
trên thế giới. Lượng khai thác dầu giảm xuống mức kỷ lục là 17,43 triệu
thùng một ngày.
* 1983: Giảm giá dầu từ 34 USD xuống 29 USD/1 thùng. Giảm hạn
ngạch khai thác từ 13,5 triệu xuống 16 triệu thùng một ngày.
* 1986: Giá dầu rơi xuống đến dưới 10 USD một thùng do sản xuất dư
thừa và do một số nước trong OPEC giảm giá dầu.
* 1990: Giá dầu được nâng lên trong tầm từ 18 đến 21 USD/1 thùng.

tăng 400%. Từ năm 1972 - 1978, giá dầu dao động từ 12 - 14 USD/1 thùng so
với giai đoạn trước chỉ có 3 USD/1 thùng. Lần biến động tiếp theo được châm
ngòi bằng cuộc chiến tranh gi
ữa Iran và Iraq năm 1979. Kết quả là lượng dầu
sản xuất của hai quốc gia này sụt giảm. Giá dầu lập tức tăng từ 14 USD/1
thùng năm 1978 lên 38 USD/1 thùng năm 1981, tức tăng 271%. Cú sốc giá
dầu thứ ba xảy ra vào giai đoạn Iraq tấn công Kuwait năm 1990 - 1991. Giá
dầu từ mức 20 USD/1 thùng đã tăng lên 35 USD/1 thùng vào tháng 10/1990.
Lần giá dầu tăng vọt gần đây là vào năm 2002. Theo dõi diễn biến giá dầu
thô từ đầu năm 2002 đế
n nay, nếu bỏ qua các thăng giáng đột xuất, ngắn
ngày, thì khuynh hướng chung là tăng tuyến tính theo thời gian đặc biệt là
biến động tăng giá dầu trong những năm gần đây. Giá dầu thị trường thế giới
vào tháng 1/2003 là khoảng 32 USD/1 thùng, đến tháng 1/2004 là 34 USD/1
thùng và cứ tăng dần.
Bảng 2: Sự biến động giá dầu từ năm 2003 đến 2004
Đơn vị: USD/1 thùng
2003 (Quý) 8 tháng 2004 (Tháng)
Loại dầu
Q1 Q2 Q3 Q4 T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8
Dầu nhẹ - rập 28 23 26 27 28 27 28 29 30 32 35 40

Dầu Brent 29 26 28 29 30 31 32 33 34 38 41 45
Dầu WTI (Mỹ) 29 34 30 32 34 35 36 38 40 42 44 48
Nguồn: Viện nghiên cứu Bộ Thương mại

4. Nguyên nhân của biến động
Giá dầu thô cùng với những sản phẩm của nó có những vị trí hết sức quan
trọng. Khi giá dầu lên cao có thể gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế các nước
và tác động đến nền kinh tế toàn cầu nói chung, làm cho thương mại và đầu tư

nguồn cung dầu bằng các biện pháp quân sự, gây bất ổn định chính trị xã hội.
Những tác động về mặt kinh tế toàn cầu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến
sự biến động của giá dầu. Nền kinh tế thế giới ngày càng tăng trưởng mạnh.
Cùng với việc tăng trưởng, thì nhu cầu sử d
ụng dầu thô cũng tăng theo; đặc
biệt là nhu cầu dầu thô của Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ trong đó Trung Quốc
chiếm đến 40% lượng dầu tăng của toàn thế giới. Năm 2003, Trung Quốc đã
vượt Nhật Bản và trở thành quốc gia thứ hai tiêu thụ dầu thô trên thế giới, sau
Mỹ. Nhìn chung các nguồn năng lượng của Trung Quốc tương đối phong phú
nhưng chủ yếu là than đá, còn d
ầu mỏ và khí đốt là để phục vụ nhu cầu trong
nước vẫn còn thiếu hụt. Trong 10 năm qua mức tiêu thụ dầu mỏ của Trung
Quốc tăng khoảng 6%/năm trong khi sản lượng dầu chỉ tăng 1,5%. Chính
sách truyền thống về tự cung tự cấp dầu mỏ nay đã trở thành dĩ vãng. Là nước
nhập khẩu lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ và chiếm 40% mức tăng tiêu thụ

dầu mỏ thế giới, hàng ngày Trung Quốc nhập khẩu khoảng hai triệu thùng,
tương đương 270.000 tấn. Chính phủ Trung Quốc dự báo đến năm 2030, con
số này sẽ tăng lên 9,8 triệu thùng, tương đương 1,35 triệu tấn. Đến năm 2020,
theo như cam kết tăng gấp bốn lần GDP hiện nay tại Đại hội Đảng thứ XVI,
Trung Quốc sẽ nhập khẩu khoảng 250 triệu tấn dầu mỗ
i năm và trở thành
quốc gia nhập khẩu dầu lớn nhất trên thế giới.
Bên cạnh đó, chính trị cũng là một nhân tố rất quan trọng gây nên sự biến
động trên thị trường dầu mỏ. Trước mắt, chính trị dầu mỏ không phải liên
quan đến vấn đề thế giới sẽ thiếu dầu mà liên quan đến sự ra đời và ảnh
hưởng ngày càng tăng của Tổ chức các n
ước xuất khẩu dầu mỏ OPEC đối với
nền kinh tế thế giới, tình hình bất ổn ở Trung Đông và các cuộc xung đột,
tranh chấp biên giới, lãnh thổ ở các khu vực hiện nay đặc biệt ở các khu vực

đa dạng hoá nguồn cung, đa dạng hoá nguồn nhiên liệu (sử dụng điện, hydro
thay xăng hoặc sản xuất xăng dầu từ khí đố
t, than đá…), tiết kiệm năng lượng
kể cả đánh thuế cao, nhằm hạn chế nhu cầu sử dụng, đồng thời đầu tư nghiên
cứu các nguồn năng lượng mới. Để giữ cho giá xăng dầu nội địa ít biến động,

các nước này rất tích cực lập kho dự trữ chiến lược, đặc biệt là Mỹ, mục tiêu
dầu dự trữ phải đủ dùng trong 9 tháng, Trung Quốc mục tiêu này là 3 tháng.

CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ BIẾN ĐỘNG THỊ
TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ GIỚI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU DẦU MỎ CỦA VIỆT NAM.
I. Thực trạng xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam
1. Khai thác dầu mỏ ở Việt Nam
Công tác tìm kiếm thăm dò dầu mỏ trên đất liền miền Bắc đã bắt đầu từ
những năm 60 của thế kỷ trước và thực sự được mở rộng ra toàn lãnh thổ và
lãnh hải Việt Nam từ sau ngày đất nước thống nhất. Ngày 26/6/1986 đã đánh
dấu sự bắ
t đầu của ngành công nghiệp khai thác dầu khi mỏ Bạch Hổ (thuộc
thềm lục địa phía Nam, ngoài khơi tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đã khai thác dòng
dầu đầu tiên và chính thức đưa Việt Nam vào danh sách các nước xuất khẩu
dầu thô từ năm 1991. Điều đặc biệt quan trọng mang tính bước ngoặt là vào
năm 1988 đã khẳng định nguồn trữ lượng dầu lớn tích tụ trong đá móng granít
nứt nẻ và đ
ã được khai thác. Từ đó đến nay, móng granít nứt nẻ thuộc mỏ
Bạch Hổ luôn đóng vai trò chủ lực trong khai thác dầu của Việt Nam. Với
việc phát hiện và đưa vào khai thác dầu từ móng granít nứt nẻ tại mỏ Bạch
Hổ, ngành dầu khí Việt Nam chẳng những đã chứng tỏ được sự lớn mạnh của
mình mà còn mang đến cho nền công nghiệp dầu thế giới những quan đi
ểm

với doanh thu trên 30 tỷ USD.
Bảng 3: Xuất khẩu dầu thô của Việt Nam từ 1991 - 2000
Đơn vị: triệu tấn
Năm Sản lượng
1991 2078,1
1992 2580,7
1993 2985,2
1994 4054,3
1995 5448,9
1996 7255,9
1997 9185,0

Trích đoạn Dự báo về thị trường dầu mỏ và những biến động về giá trên thị trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status