LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của việc nghiên cứu đề tài
Nhận định chung cho rằng thế kỷ XIX là thế kỷ của than, thế kỷ XX là thế kỷ của
dầu mỏ và trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, chắc chắn loại nhiên liệu không
thể tái sinh được này vẫn chưa thể bị thay thế bởi khí đốt, than, thuỷ điện, năng
lượng hạt nhân, năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt, bởi hơn 80% năng lượng hiện
nay được tạo ra bởi dầu mỏ.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, mặt hàng dầu thô (dầu mỏ chưa
qua tinh chế) là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực, luôn chiếm vị trí số một về giá trị
kim ngạch xuất khẩu (tổng trị giá xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam tính
từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2004 là 21331 triệu USD thì xuất khẩu dầu thô đạt
4600 triệu USD - tương đương 39,26% tổng trị giá kim ngạch xuất khẩu). Dự báo
trong những năm tới mặt hàng dầu thô sẽ là một trong những mũi nhọn xuất khẩu
của Việt Nam. Việc khai thác và xuất khẩu hiệu quả mặt hàng này sẽ mang lại rất
nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp Việt Nam, tăng doanh thu xuất khẩu cho đất
nước.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, thị trường dầu thô thế giới biến động không
ngừng do nhiều nguyên nhân khác nhau, do vậy làm ảnh hưởng rất nhiều tới tình
hình xuất khẩu dầu thô của Việt Nam. Giá dầu trên thế giới biến động lúc tăng, lúc
giảm tạo ra những thuận lợi và cả những khó khăn cho hoạt động xuất khẩu dầu
của Việt Nam. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Những biến động trên thị trường
dầu mỏ thế giới và ảnh hưởng của nó tới hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Việt
Nam” để tận dụng những thuận lợi, khắc phục khó khăn, tạo điều kiện cho hoạt
động xuất khẩu dầu thô một cách hiệu quả nhất là một tất yếu khách quan.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu những biến động trên thị trường dầu mỏ thế giới, nguyên nhân
của những biến động, đồng thời chỉ ra những thuận lợi và khó khăn mà biến động
Trang 1
đó tạo ra cho hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam. Từ đó đưa ra giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu mặt hàng này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
điều kiện nhiệt độ và áp suất khác nhau chúng kết hợp và tạo thành những hợp chất
hydrocacbon khác nhau. Loài người đã sớm biết sử dụng đặc tính quý giá này để
phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình.
Có nhiều lý thuyết giải thích việc hình thành dầu mỏ. Theo lý thuyết tổng hợp
sinh học được nhiều nhà khoa học đồng ý, dầu mỏ phát sinh từ những xác chết của
các sinh vật ở đáy biển, hay từ các thực vật bị chôn trong đất. Khi thiếu khí ôxy, bị
đè nén dưới áp suất và ở nhiệt độ cao các chất hữu cơ trong các sinh vật này được
chuyển hoá thành các hợp chất tạo nên dầu. Dầu tích tụ trong các lớp đá xốp, do nhẹ
hơn nước nên dầu đã chuyển dần dần lên trên cho đến khi gặp phải các lớp đá không
thẩm thấu thì tích tụ lại ở đấy và tạo thành mỏ dầu.Cuối thế kỷ XIX, nhà hoá học
người Nga Menđêleep đã đưa ra lý thuyết vô cơ giải thích sự hình thành của dầu
mỏ. Theo lý thuyết này, dầu mỏ phát sinh từ phản ứng hoá học giữa cacbua kim loại
với nước tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng đất tạo thành các hiđrôcacbon và sau đó
bị đẩy lên trên. Các vi sinh vật sống trong lòng đất qua hàng tỷ năm đã chuyển
chúng thành các hỗn hợp hiđrocacbon khác nhau. Lý thuyết này là một đề tài gây
nhiều tranh cãi trong giới khoa học.
Trang 3
Dầu mỏ là loại khoáng sản năng lượng, có tính “linh động” cao. Sau nữa, chúng
có bản chất sinh thành, di cư và tích tụ gần giống nhau. Giống như nhiều loại tài
nguyên khoáng sản khác, dầu mỏ được hình thành do kết quả quá trình vận động
phức tạp lâu dài hàng triệu năm về vật lý, hoá học, địa chất, sinh học…trong vỏ trái
đất. Thông thường dầu mỏ sau khi khai thác có thể xử lý, tàng trữ và xuất khẩu
ngay.
2. Vai trò của dầu mỏ
Dầu mỏ cùng với các loại khí đốt được coi là “Vàng đen”, đóng vai trò quan
trọng trong đời sống kinh tế toàn cầu. Đây cũng là một trong những nguyên liệu
quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của
tất cả các phương tiện giao thông vận tải. Hơn nữa dầu mỏ cũng được sử dụng trong
công nghiệp hoá dầu để sản xuất các chất dẻo và nhiều sản phẩm khác.
Dầu mỏ mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho các quốc gia và dân tộc trên thế giới
khai thác, vận chuyển dầu thường gây những tổn thất vô cùng lớn. Sự cố chìm giàn
khoan dầu P - 36 ngoài khơi Braxin tháng 3 - 2001 vừa qua đã gây tổn thất tới 450
triệu đôla Mỹ cho Công ty Petrobras. Vì vậy các công ty dầu mỏ thường liên minh
để giảm thiểu rủi ro và một khi phát hiện dòng dầu công nghiệp, thì họ càng khai
thác càng nhanh càng tốt để sớm thu hồi vốn đầu tư.
Thứ hai, ngành công nghiệp dầu mỏ cũng là ngành công nghệ cao và là con đẻ
của ngành công nghiệp nặng. Tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực thăm dò, khoan,
khai thác, xây dựng công trình biển…có nhiều bước nhảy vọt . Có thể nói, ngành
công nghiệp dầu mỏ nói riêng và công nghiệp dầu khí noi chung đang sử dụng
những công nghệ hiện đại nhất trong tất cả các lĩnh vực và đang là ngành dẫn đầu
trong phát triển và ứng dụng các công nghệ ngày càng tiên tiến hơn.
Thứ ba, công nghiệp dầu mỏ là một ngành mang tính quốc tế cao, khác với than
đá trước đây, việc thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối dầu khí đã nhanh chóng
mang tính toàn cầu. Có lẽ, hiện tượng toàn cầu hoá xảy ra sớm nhất trong ngành
này. Trong quá trình phát triển của mình, đặc biệt nhất là trong “thập kỷ vàng”, các
hoạt động dầu khí chủ yếu được tiến hành thông qua các hợp đồng ký giữa các công
ty đa quốc gia với nước chủ nhà có nguồn tài nguyên dầu. Có nhiều dạng hợp đồng
Trang 5
đã được sử dụng, nhưng phổ biến và vẫn còn ý nghĩa cho tới ngày nay là dạng “hợp
đồng phân chia sản phẩm”. Điều khoản cơ bản của dạng hợp đồng này là nhà đầu tư
(các công ty dầu mỏ) đồng ý tiến hành mọi hoạt động tìm kiếm, thăm dò bằng
nguồn tài chính của riêng mình. Nếu có phát hiện thương mại, nhà đầu tư tiếp tục
chi cho các hoạt động phát triển, khai thác. Lượng dầu khí khai thác lên sau khi nộp
cho thuế tài nguyên sẽ được chia theo tỷ lệ sản lượng cho nước chủ nhà. Để san sẻ
rủi ro và đảm bảo lợi nhuận ổn định, ngoài việc liên minh, liên kết trong các hợp
đồng phân chia sản phẩm, hầu hết các công ty dầu mỏ có chiến lược phát triển theo
mạng đầu tư ở nhiều nơi, nhiều nước và theo chiều dọc.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng phân chia sản phẩm, các nước sở hữu dầu
mỏ nhận thấy rằng cần phải giảm thiểu sự phụ thuộc vào các công ty đa quốc gia,
tiếp cận trực tiếp với ngành công nghiệp này và đảm bảo an ninh năng lượng cho
khai thác mới đạt vài ba triệu tấn. Đến nay, sản lượng dầu khí khai thác và xuất
khẩu hàng năm đã đạt hơn hai chục triệu tấn. Công việc khai thác đã từng bước
được hoàn thiện.
II. Thị trường dầu mỏ thế giới
1. Đặc điểm thị trường dầu mỏ thế giới
Thị trường dầu mỏ thế giới là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán về
dầu mỏ giữa các quốc gia trên khắp thế giới. Nó có những đặc điểm chung song
cũng có những điểm hết sức khác biệt so với các thị trường khác.
Thứ nhất, đây là một thị trường lớn do nhu cầu phong phú, đa dạng về dầu mỏ
của các quốc gia trên khắp thế giới. Trong khi mà các nguồn tài nguyên không thể
tái sinh ngày càng cạn kiệt và những nguồn năng lượng khác chưa thể thay thế được
vai trò chiến lược của dầu mỏ thì nhu cầu về dầu mỏ vẫn ngày một tăng với một số
lượng lớn các giao dịch mua bán dầu mỏ giữa các quốc gia, các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu trên thế giới.
Thứ hai, thị trường dầu mỏ còn hết sức nhạy cảm với những biến động về kinh tế,
chính trị trên toàn cầu từ đó dẫn đến những biến động trên chính thị trường dầu mỏ.
Chỉ cần xảy ra một sự bất ổn định về mặt chính trị của một trong những quốc gia
Trang 7
xuất khẩu dầu như là sự căng thẳng về chính trị tại Nigieria hay các hoạt động phá
hoại của lực lượng chống đối tại Iraq, sự bất ổn các nguồn cung từ Nga (vụ Yukos)
cũng có thể làm chao đảo thị trường dầu mỏ mà điển hình là sự tăng giá dầu đến
mức kỷ lục vào tháng 10/2004.
Thứ ba, thị trường dầu mỏ thế giới chịu sự chi phối rất lớn của tổ chức OPEC.
Các quyết định, chính sách của OPEC về cung cầu dầu mỏ cũng như giá dầu đều có
tác động rất lớn đến thị trường dầu mỏ thế giới. Chẳng hạn như khi OPEC ra quyết
định cắt giảm sản lượng vào tháng 4/2004, ngay lập tức thị trường đã có những phản
ứng và biến động khác nhau trước quyết định này. Trên các thị trường kỳ hạn, giá
dầu có xu hướng giảm nhẹ ngay sau khi OPEC cắt giảm sản lượng do các nhà giao
dịch bán ồ ạt các hợp đồng kỳ hạn để kiếm lợi. Ngày 1/4/2004, giá dầu thô tại thị
trường New York giao tháng 5 giảm 1,49 USD xuống còn 34,27 USD/1 thùng
Dương (1962), LiBi (1962). Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (1967), Algeria
(1969) và Nigeria (1971) lần lượt gia nhập tổ chức sau đó. Ecuador (1973 - 1992) và
Gabon (1975 - 1994) cũng từng là thành viên của OPEC. Trong năm năm đầu tiên
đặt trụ sở cuả OPEC tại Geneve, Thuỵ Sĩ, sau đó chuyển về Viên, Áo từ tháng
9/1965. Các nước thành viên OPEC khai thác vào khoảng 40% tổng sản lượng dầu
thế giới và nắm giữ khoảng 3/4 trữ lượng dầu thế giới.
OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu của các nước thành viên
và qua đó có khả năng khống chế giá dầu trên thị trường thế giới. Hội nghị các bộ
trưởng phụ trách vấn đề năng lượng và dầu mỏ thuộc tổ chức OPEC được tổ chức
mỗi năm hai lần nhằm đánh giá thị trường dầu mỏ và đề ra các biện pháp phù hợp
để đảm bảo việc cung cấp dầu trên thị trường dầu mỏ thế giới. Bộ trưởng các nước
thành viên thay nhau theo nguyên tắc xoay vòng làm chủ tịch của tổ chức hai năm
một nhiệm kỳ.
Mục tiêu chính thức được ghi vào hiệp định thành lập OPEC là ổn định thị trường
dầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, ổn định giá dầu thế giới và ủng hộ
về mặt chính trị cho các thành viên khi bị các biện pháp cưỡng chế vì các quyết định
của OPEC. Nhưng thật ra nhiều biện pháp được đề ra lại có động cơ bắt nguồn từ
quyền lợi quốc gia, thí dụ như trong cơn khủng hoảng dầu, OPEC đã không tìm
cách hạ giá dầu mà lại duy trì chính sách cao giá trong thời gian dài. Mục tiêu của
OPEC thật ra là một chính sách dầu chung nhằm để giữ giá.OPEC dựa vào việc
phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh lượng khai thác dầu, tạo ra
khan hiếm hoặc dư dầu giả, thông qua đó có thể có thể tăng, giảm hoặc giữ giá dầu
ổn định. Có thể coi OPEC như là một liên minh độc quyền luôn tìm cách giữ giá dầu
Trang 9
ở mức có lợi nhất cho mình. OPEC giữ một vị trí quan trọng nhất trên thị trường
dầu mỏ thế giới. Các mốc chính đánh dấu hoạt động của OPEC.
* 14/9/1960: thành lập tổ chức OPEC theo đề xuất của Venezuela tại Baghdad.
* 1965: Dời trụ sở về Viên. Các thành viên thống nhất một chính sách khai
thác chung để bảo vệ giá.
* 1970: Nâng giá dầu lên 30%., nâng thuế tối thiểu áp dụng cho các công ty
trong lịch sử. Nếu trong quý I, chỉ với 9 USD người ta cũng có thể mua được một
thùng dầu thì trong quý IV giá đã vượt trên 37 USD/thùng. Các nước thành viên của
OPEC đồng ý giữ giá dầu ở mức 22-28 USD/thùng.
* 1/2005: OPEC quyết định giữ nguyên lượng khai thác 27 triệu thùng. Các
thành viên đã nhất trí “tạm ngưng” không giữ giá dầu ở mức 22-28 USD/thùng.
3. Những biến động trên thị trường dầu mỏ thế giới
Kể từ khi có ngành công nghiệp dầu khí đến nay, với khởi đầu Công nghiệp dầu
khí Mỹ, rồi khi Nga bắt đầu xuất khẩu dầu (1884), và phát hiện vùng dầu Texas vào
cuối thế kỷ XIX, những năm đầu thế kỷ XX Venezuala bắt đầu khai thác dầu, đến
chiến tranh thế giới lần thứ hai thì về cơ bản giá dầu cũng chỉ ở mức từ 5 - 7 USD/1
thùng. Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đã liên tiếp xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng giá
dầu. Đặc biệt trong những năm gần đây giá dầu thế giới luôn ở mức cao, gây ra sự
biến động trên thị trường dầu mỏ đặc biệt là từ năm 2004 đến nay.
Từ năm 1948 đến những năm cuối 1960, giá dầu trung bình của thế giới chỉ dao
động từ 2,5 - 3 USD/1 thùng. Sự ra đời của các nước thành viên OPEC đảm bảo cho
sự ổn định về giá dầu. Cú sốc giá dầu lần thứ nhất bắt đầu vào cuối tháng 10/1973
khi Syria và Ai Cập tấn công Isarel. Mỹ và các nước phương tây đã hỗ trợ mạnh cho
Isarel. Trả đũa cho hành động này, hàng loạt các nước xuất khẩu dầu trong khối
Arab đã cấm vận xuất dầu cho các nước thân với Isarel. Họ đã cắt giảm lượng dầu
sản xuất từ 5 triệu thùng một ngày xuống còn một triệu thùng. Kết quả là trong vòng
6 tháng, giá dầu thế giới đã tăng 400%. Từ năm 1972 - 1978, giá dầu dao động từ 12
- 14 USD/1 thùng so với giai đoạn trước chỉ có 3 USD/1 thùng. Lần biến động tiếp
Trang 11
theo được châm ngòi bằng cuộc chiến tranh giữa Iran và Iraq năm 1979. Kết quả là
lượng dầu sản xuất của hai quốc gia này sụt giảm. Giá dầu lập tức tăng từ 14 USD/1
thùng năm 1978 lên 38 USD/1 thùng năm 1981, tức tăng 271%. Cú sốc giá dầu thứ
ba xảy ra vào giai đoạn Iraq tấn công Kuwait năm 1990 - 1991. Giá dầu từ mức 20
USD/1 thùng đã tăng lên 35 USD/1 thùng vào tháng 10/1990.
Lần giá dầu tăng vọt gần đây là vào năm 2002. Theo dõi diễn biến giá dầu thô từ
đầu năm 2002 đến nay, nếu bỏ qua các thăng giáng đột xuất, ngắn ngày, thì khuynh
hiện với trữ lượng 500 triệu thùng trở lên, năm 2001 giảm xuống còn 6 mỏ, năm
2002 phát hiện 2 mỏ và đến năm 2003 chỉ còn 1 mỏ thuộc tầm cỡ nói trên. Các mỏ
có trữ lượng trên 500 triệu thùng cung cấp đến 80% sản lượng dầu tiêu thụ trên thị
trường thế giới, do đó hiện tượng cạn kiệt dầu trở thành một nguy cơ đối với toàn
cầu.Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ dầu không ngừng gia tăng, đặc biệt ở những
nước đang phát triển, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ. Và từ năm 2003, Mỹ đã tăng
mức dự trữ dầu thô chiến lựoc lên đến 700 triệu thùng, cũng làm cho nhu cầu sử
dụng dầu trên thế giới tăng lên. Để đảm bảo an ninh năng lượng, các nước công
nghiệp đều lo dự trữ dầu và tìm cách khống chế các nguồn cung dầu bằng các biện
pháp quân sự, gây bất ổn định chính trị xã hội.
Những tác động về mặt kinh tế toàn cầu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự
biến động của giá dầu. Nền kinh tế thế giới ngày càng tăng trưởng mạnh. Cùng với
việc tăng trưởng, thì nhu cầu sử dụng dầu thô cũng tăng theo; đặc biệt là nhu cầu
Trang 13
dầu thô của Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ trong đó Trung Quốc chiếm đến 40% lượng
dầu tăng của toàn thế giới. Năm 2003, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản và trở thành
quốc gia thứ hai tiêu thụ dầu thô trên thế giới, sau Mỹ. Nhìn chung các nguồn năng
lượng của Trung Quốc tương đối phong phú nhưng chủ yếu là than đá, còn dầu mỏ
và khí đốt là để phục vụ nhu cầu trong nước vẫn còn thiếu hụt. Trong 10 năm qua
mức tiêu thụ dầu mỏ của Trung Quốc tăng khoảng 6%/năm trong khi sản lượng dầu
chỉ tăng 1,5%. Chính sách truyền thống về tự cung tự cấp dầu mỏ nay đã trở thành
dĩ vãng. Là nước nhập khẩu lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ và chiếm 40% mức
tăng tiêu thụ dầu mỏ thế giới, hàng ngày Trung Quốc nhập khẩu khoảng hai triệu
thùng, tương đương 270.000 tấn. Chính phủ Trung Quốc dự báo đến năm 2030, con
số này sẽ tăng lên 9,8 triệu thùng, tương đương 1,35 triệu tấn. Đến năm 2020, theo
như cam kết tăng gấp bốn lần GDP hiện nay tại Đại hội Đảng thứ XVI, Trung Quốc
sẽ nhập khẩu khoảng 250 triệu tấn dầu mỗi năm và trở thành quốc gia nhập khẩu
dầu lớn nhất trên thế giới.
Bên cạnh đó, chính trị cũng là một nhân tố rất quan trọng gây nên sự biến động
trên thị trường dầu mỏ. Trước mắt, chính trị dầu mỏ không phải liên quan đến vấn
nhằm hạn chế nhu cầu sử dụng, đồng thời đầu tư nghiên cứu các nguồn năng lượng
mới. Để giữ cho giá xăng dầu nội địa ít biến động, các nước này rất tích cực lập kho
dự trữ chiến lược, đặc biệt là Mỹ, mục tiêu dầu dự trữ phải đủ dùng trong 9 tháng,
Trung Quốc mục tiêu này là 3 tháng.
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ BIẾN ĐỘNG THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ
THẾ GIỚI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DẦU MỎ CỦA VIỆT
NAM.
I. Thực trạng xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam
1. Khai thác dầu mỏ ở Việt Nam
Công tác tìm kiếm thăm dò dầu mỏ trên đất liền miền Bắc đã bắt đầu từ những
năm 60 của thế kỷ trước và thực sự được mở rộng ra toàn lãnh thổ và lãnh hải Việt
Nam từ sau ngày đất nước thống nhất. Ngày 26/6/1986 đã đánh dấu sự bắt đầu của
ngành công nghiệp khai thác dầu khi mỏ Bạch Hổ (thuộc thềm lục địa phía Nam,
Trang 15
ngoài khơi tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đã khai thác dòng dầu đầu tiên và chính thức
đưa Việt Nam vào danh sách các nước xuất khẩu dầu thô từ năm 1991. Điều đặc
biệt quan trọng mang tính bước ngoặt là vào năm 1988 đã khẳng định nguồn trữ
lượng dầu lớn tích tụ trong đá móng granít nứt nẻ và đã được khai thác. Từ đó đến
nay, móng granít nứt nẻ thuộc mỏ Bạch Hổ luôn đóng vai trò chủ lực trong khai thác
dầu của Việt Nam. Với việc phát hiện và đưa vào khai thác dầu từ móng granít nứt
nẻ tại mỏ Bạch Hổ, ngành dầu khí Việt Nam chẳng những đã chứng tỏ được sự lớn
mạnh của mình mà còn mang đến cho nền công nghiệp dầu thế giới những quan
điểm hết sức mới mẻ về việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu trong đá móng granít
nứt nẻ, một đối tượng mà từ trước đến nay thường ít được chú ý.
Sau gần 30 năm hoạt động, sản lượng trung bình ngày trong năm 2004 là 400 nghìn
thùng (53 nghìn tấn) dầu thô. Điều này đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ
ba về sản xuất và xuất khẩu dầu trong khu vực. Hiện tại, trên thềm lục địa và đất liền
của nước ta có các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Sư Tử
Đen, Cái Nước, Bunga Kekwa, Bunga Raya, Bunga Seroja, Lan Tây và Tiền Hải C
đang khai thác. Cho tới thời điểm hết tháng 10/2004, tổng sản lượng khai thác được là
Nguồn: Tổng cục thống kê
Việt Nam đứng thứ 31 trong số các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ về sản lượng dầu
xuất ra so sánh với các quốc gia khác trên thế giới và khu vực. Dầu thô giữ vị trí số
một trong xuất khẩu song kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào biến động giá
cả trên thị trường quốc tế. Năm 2002, giá dầu ít biến động so với năm 2002 và kim
ngạch xuất khẩu chỉ tăng 4,6% chủ yếu nhờ vào tăng sản lượng khai thác. Đến năm
2003 sản lượng xuất khẩu dầu thô đạt 17169 nghìn tấn với tổng giá trị xuất khẩu là
3777 triệu USD. Hoạt động thăm dò, khai thác và sản xuất dầu thô trong năm 2003
tiến triển tốt, dầu thô khai thác đạt 17,34 triệu tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm
trước. Trong năm 2004, ngành dầu khí Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động thăm dò,
tìm kiếm, thăm dò, tăng cường khai thác và xuất khẩu. Do vậy, cho đến tháng
10/2004, giá trị xuất khẩu dầu thô củaViệt Nam đã vượt so với kế hoạch 124%. Với
giá trị xuất khẩu đạt 16279 tấn, đạt trị giá 4600 triệu USD, tăng 14,5% về số lượng
và 48,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2003.
Bảng 4: Trị giá xuất khẩu dầu thô trong những năm gần đây
Đơn vị: triệu USD
Năm Trị giá xuất khẩu
2001 3126
Trang 17