Khái quát về kiểm toán báo
cáo tài chính
Bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Khái niệm chung:
Có nhiều cách hiểu khác nhau về hoạt động kiểm toán nhưng nhìn chung kiểm toán được
hiểu là việc xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng
hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do
các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp
lý có hiệu lực.
Kiểm toán tài chính là một hoạt động đặc trưng của kiểm toán, với mục tiêu cụ thể là
“đưa ra ý kiến xác nhận rằng Báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế
độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan, có phản
ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không” (theo Chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam 200/11). Diễn giải cụ thể những mục tiêu được nêu trong Chuẩn
mực như sau:
- Mục tiêu tổng quát: được hiểu là tìm kiếm bằng chứng kiểm toán để đưa ra ý kiến về
tính trung thực, hợp lý của thông tin trình bày trên Bảng khai tài chính.
- Mục tiêu kiểm toán chung: là việc xem xét đánh giá tổng thể số tiền ghi trên các chu
trình, trên cơ sở các cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý về những thông tin
thu được qua khảo sát thực tế ở đơn vị được kiểm toán (đồng thời xem xét cả tới các
mục tiêu chung khác bao gồm mục tiêu có thực, đầy đủ trọn vẹn, mục tiêu về tính chính
xác cơ học, mục tiêu về định giá hay phân loại trình bày, mục tiêu về quyền và nghĩa
vụ).
Đối tượng trực tiếp của kiểm toán Báo cáo tài chính là các Bảng khai tài chính, Báo cáo
tài chính được định nghĩa trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 200/ 04 như sau: Báo
cáo tài chính là hệ thống các báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện
hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn
vị. Ngoài ra, Bảng khai tài chính còn bao gồm những bảng kê khai có tính pháp lý khác
như Bảng kê khai tài sản cá nhân, Bảng kê khai tài sản đặc biệt… Các bảng khai này
Khái quát về kiểm toán báo cáo tài chính
Khái quát về kiểm toán báo cáo tài chính
2/6
Qua đó có thể thấy chu trình hàng tồn kho có quan hệ với tất cả các chu trình khác, chỉ
khác ở góc độ trực tiếp hay gián tiếp. Đặc biệt là mối quan hệ mật thiết với chu trình
Mua hàng- thanh toán, tiền lương nhân viên, bán hàng- thu tiền. Đó là những chu trình,
những đầu mối quan trọng với cả khách hàng và công ty kiểm toán. Cụ thể hơn, trong
công tác kế toán tại doanh nghiệp, kết quả của hàng tồn kho không chỉ ảnh hưởng đến
các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh. Đối với kiểm toán, kết quả kiểm toán chu trình hàng tồn kho giúp
các kiểm toán viên có thể kết hợp, đối chiếu và kiểm tra kết quả của các chu trình khác
(mua hàng, tiền lương ) từ đó tiết kiệm được thời gian, chi phí, nâng cao hiệu quả công
tác. Chính từ những đặc điểm nêu trên, các kiểm toán viên luôn xác định kiểm toán hàng
tồn kho là trọng tâm khi tiến hành kiểm toán Báo cáo tài chính.
Phương pháp kiểm toán trong kiểm toán tài chính.
Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng của hoạt động kiểm toán nói chung do đó để
thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính cũng sử dụng các
phương pháp kiểm toán chứng từ (kiểm toán các quan hệ cân đối, đối chiếu trực tiếp,
đối chiếu logic) và kiểm toán ngoài chứng từ (Kiểm kê, thực nghiệm, điều tra).
Do mỗi loại kiểm toán có chức năng cụ thể khác nhau, đối tượng kiểm toán khác nhau
và quan hệ chủ thể, khách thể kiểm toán khác nhau nên cách thức kết hợp các phương
pháp kiểm toán cơ bản trên cũng khác nhau. Trong kiểm toán tài chính, các phương pháp
kiểm toán cơ bản được triển khai theo hướng kết hợp lại hoặc chi tiết hơn tuỳ tình huống
cụ thể trong suốt quá trình kiểm toán.
Khái quát về kiểm toán báo cáo tài chính
3/6
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, người ta chia các phương pháp kiểm toán thành
hai loại:
- Các thử nghiệm cơ bản: đây là việc thẩm tra lại các thông tin biểu hiện bằng tiền phản
ánh trên các bảng tổng hợp thông qua việc thực hiện các phương pháp kiểm toán chứng
từ và kiểm toán ngoài chứng từ theo trình tự xác định.
4/6
trong những điều kiện khác hoặc giữa chỉ tiêu tổng hợp với bộ phận cấu thành. Trắc
nghiệm phân tích được sử dụng ở nhiều giai đoạn trong quá trình kiểm toán.
Khái quát quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính:
Trong kiểm toán Báo cáo tài chính, để thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán có
giá trị để làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của
thông tin trên Báo cáo tài chính đồng thời đảm bảo tính hiệu quả, kinh tế, tính hiệu lực
của từng cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải xây dựng được quy trình cụ thể cho cuộc
kiểm toán đó. Thông thường, mỗi quy trình kiểm toán được chia thành 3 bước:
1. Lập kế hoạch kiểm toán
2. Thực hiện kiểm toán
3. Kết thúc kiểm toán
Bước 1: Lập kế hoạch kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 thì kiểm
toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán trong đó mô tả phạm vi
dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán phải đầy đủ,
chi tiết để làm cơ sở cho chương trình kiểm toán. Trong bước công việc này, bắt đầu từ
thư mời kiểm toán, kiểm toán viên sẽ tìm hiểu khách hàng với mục đích hình thành hợp
đồng hoặc đưa ra được kế hoạch chung. Kiểm toán viên cần thu thập các thông tin cụ
thể về khách hàng, tìm hiểu đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ … Bên cạnh đó, trong
khi lập kế hoạch, công ty kiểm toán cũng phải có sự chuẩn bị về phương tiện và nhân
viên cho việc triển khai thực hiện chương trình đã xây dựng.
Bước 2: Thực hiện kế hoạch kiểm toán. Các kiểm toán viên sẽ sử dụng các phương pháp
kỹ thuật thích ứng với từng đối tượng cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Thực
chất của quá trình này là việc triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch,
chương trình kiểm toán nhằm đưa ra ý kiến xác thực về tính trung thực và hợp lý của các
thông tin trên Báo cáo tài chính dựa vào các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, có giá trị.
Đây là giai đoạn các kiểm toán viên thực hiện các thủ tục kiểm toán được hình thành từ
các loại trắc nghiệm, là thủ tục kiểm soát, thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết.
Thủ tục kiểm toán được hình thành rất đa dạng và căn cứ vào kết quả đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ của khách hàng, từ đó đi đến quyết định sử dụng các thủ tục khác nhau.