CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN - Pdf 74

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN
I. KHÁI QUÁT VỀ DỰ ÁN
1. Khái niệm về dự án và các loại hình dự án
Để thực hiện tốt công việc của mình thì kiểm toán viên phải có hiểu biết cần
thiết, đầy đủ về lĩnh vực mà mình thực hiện kiểm toán. Theo điểm 03 Chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 310 (VSA 310) - Hiểu biết về tình hình kinh doanh "Hiểu
biết cần thiết của kiểm toán viên để thực hiện một cuộc kiểm toán bao gồm những
hiểu biết tổng quát về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị, hiểu biết cụ thể
hơn về tổ chức và hoạt động của đơn vị được kiểm toán". Do đó khi tiến hành kiểm
toán đối với các dự án thì kiểm toán viên phải có những hiểu biết cơ bản về dự án
đó.
Danh từ dự án đã được dùng trong nhiều lĩnh vực và trong các hoạt động
khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Từ trước tới nay có rất nhiều các nhà khoa
học kinh tế cũng như các nhà quản lý đã đưa ra các khái niệm rất khác nhau về dự
án. Mỗi một quan niệm nhấn mạnh về một số các khía cạnh của dự án cùng các đặc
điểm quan trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Nếu xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi
tiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương lai.
Nếu xét ở góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ tiến hành một công
việc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu nhất định trong khuôn khổ nguồn lực nhất
định và trong khoảng thời gian nhất định.
Nếu xét ở góc độ kế hoạch, dự án được hiểu là một kế hoạch chi tiết về đầu
tư phát triển, là đơn vị kế hoạch độc lập nhỏ nhất trong hệ thống kế hoạch hóa, làm
cơ sở cho việc ra quyết định về đầu tư phát triển.
Nếu từ giác độ quan sát các hoạt động cần thiết cho một dự án thì dự án
được hiểu là hàng loạt các hoạt động cần thiết nhằm xác định mục tiêu, tiến hành
các nghiên cứu khả thi, dự đoán chi phí, hoàn thiện các thủ tục và thiết kế cuối
cùng, như việc lắp đặt và hoàn thiện các điều kiện làm việc.
Như vậy có thể hiểu dự án theo một khái niệm chung nhất, dễ hiểu nhất như
sau: Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau
được hoạch định nhằm đạt được các mục tiêu nhất định trong thời gian nhất định.

Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm
chuyển hóa các nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự án
đều đem lại kết quả tương ứng.
Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể của dự án, được tạo ra từ các
hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp
của dự án. Kết quả của dự án cũng mang tính đơn chiếc.
+ Dự án có chu kỳ sống riêng, tùy thuộc vào mục đích của dự án, có thể là
mục đích ngắn hạn hoặc dài hạn.
+ Dự án có liên quan đến nhiều bên như chủ đầu tư, nhà thầu, nhà tư vấn,
các cơ quan quản lý Nhà nước,...Các đối tượng này luôn tác động nhau, phối hợp
thực hiện dự án.
+ Tính kiểm tra: Dự án được sử dụng như một công cụ để kiểm tra quá trình
thực hiện các hoạt động nhằm đạt được những mục đích nhất định đã được dự kiến
trước.
+ Tính định hướng: Có thể coi dự án là kim chỉ nam cho các hoạt động nhất
định nhằm đạt được những mục tiêu đã xác định.
Một dự án có thể được xem như một chuỗi các công việc và các nhiệm vụ,
bao gồm:
+ Có mục tiêu cụ thể được hoàn thành trong những điều kiện nhất định.
+ Được xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc.
+ Có giới hạn nhất định về tài chính.
+ Sử dụng các nguồn lực nhất định về phương tiện, thiết bị, con người,...
Xã hội càng phát triển càng có nhiều dự án được lập và thực hiện, các dự án
khác nhau về quy mô, thời gian, mục đích... Tùy theo mục đích nghiên cứu mà
người ta có thể phân loại dự án theo các tiêu thức khác nhau. Kiểm toán viên phải
có sự hiểu biết đầy đủ về lĩnh vực này để có thể lập kế hoạch kiểm toán một cách
tốt nhất. Nếu phân loại theo ngành kinh tế thì có các loại hình dự án đầu tư vào các
lĩnh vực dự án sau:
 Công nghiệp và các ngành khai thác.
 Nông - Lâm - Ngư nghiệp.

án nhỏ có thể bỏ qua. Mục đích việc nghiên cứu tiền khả thi là giúp cho chủ đầu tư
thấy rõ các điều kiện cơ bản của đầu tư để quyết định hoặc là tiếp tục nghiên cứu
dự án hoặc là từ bỏ dự án hoặc đặt vấn đề xác định lại dự án. Kết quả nghiên cứu
tiền khả thi là bản dự án tiền khả thi.
Sau khi bản dự án tiền khả thi được lập sẽ chuyển sang nghiên cứu khả thi,
dự án được nghiên cứu toàn diện, đầy đủ, sâu sắc trên tất cả các khía cạnh công
nghệ, tài chính, kinh tế, môi trường, quản trị, ... với nhiều phương án khác nhau.
Kết quả là một dự án khả thi với đầy đủ các nội dụng.
Giai đoạn 2: Tìm đối tác và ký hợp đồng. Sau khi nghiên cứu đánh giá, về
tính khả thi của dự án, để dự án có thể thực hiện được thì cần phải có nguồn vốn
đầu tư cho dự án, thông qua các nhà đầu tư có thể là chủ đầu tư trong nước, nước
ngoài, hoặc bằng Ngân sách Nhà nước. Khi chủ đầu tư đồng ý đầu tư cho dự án thì
phải lập hợp đồng ký kết giữa các bên.
Giai đoạn 3: Lập hồ sơ của dự án. Các bên tham gia dự án cùng soạn thảo
những văn bản, hồ sơ cần thiết để trình các cơ qua quản lý Nhà nước có thẩm
quyền xin giấy phép đầu tư.
Giai đoạn 4: Thẩm định và phê duyệt dự án. Thẩm định dự án là giai đoạn
đánh giá và lựa chọn dự án, xác định ảnh hưởng của dự án đến nền kinh tế quốc
dân góp phần đạt được mục tiêu của kế hoạch định hướng. Việc thẩm định dự án
được tiến hành theo sự phân cấp quản lý của Nhà nước. Kết quả thẩm định dự án
có thể là chấp nhận dự án hoặc sửa chữa, bổ sung hoặc loại bỏ dự án. Nếu dự án
được chấp nhận, cơ quan thẩm định sẽ gửi dự án lên cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền ra quyết định đầu tư và cấp giấy phép hoạt động. Nếu dự án được phê duyệt
thì công việc tiếp theo là vạch ra các kế hoạch tài trợ, khai thác các nguồn tài chính
sao cho phù hợp nhất với dự án. Giai đoạn 5: Triển khai và thực hiện
dự án. Giai đoạn này chiếm phần lớn thời gian của dự án, chất lượng và tiến độ
thực hiện dự án phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn đầu tư. Vì vậy, nâng cao chất
lượng công việc chuẩn bị đầu tư là tiền đề triển khai thực hiện dự án. Đến lượt
mình, việc thực hiện dự án đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng sẽ là tiền đề khai thác
có hiệu quả dự án nhằm đạt được mục tiêu dự án đề ra.

đầu tư trực tiếp quản lý dự án hặc theo hình thức chủ nhiệm điều hành dự án hoặc
theo hình thức chìa khóa trao tay hoặc theo hình thức tự thực hiện.
Riêng đối với các dự án được tài trợ bởi các tổ chức xã hội, tổ chức phi
chính phủ (NGO) đó là mối quan hệ giữa đối tác nước ngoài và chính phủ Việt
Nam. Do đó hầu hết các dự án do các cơ quan hoặc các doanh nghiệp Nhà nước
thực hiện. Những đơn vị này phải phù hợp với yêu cầu của chính quyền địa
phương. Hầu hết các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước đều áp dụng hệ thống kế
toán công và sử dụng Ngân sách Nhà nước. Các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước
mang những nét đặc thù riêng về phong cách quản lý. Do đó để thực hiện tốt công
tác kiểm toán thì kiểm toán viên phải tìm hiểu về chế độ kế toán áp dụng tại bên
nhận tài trợ bao gồm cả những thay đổi dưới ảnh hưởng của các chuẩn mực quốc
tế, xác định các công việc liên quan đến dự án, sự tham gia vào dự án của các cơ
quan quản lý Nhà nước.
* Sự chuẩn bị cho quá trình thực hiện dự án
Đây chính là khâu thẩm định dự án về tính hiệu quả và khả năng thực thi của
dự án. Cần phải tiến hành đánh giá toàn diện tất cả các mặt.
Về kỹ thuật - công nghệ, mục đích nghiên cứu là lựa chọn được công nghệ,
kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của dự án, xác định địa điểm bố trí dự án, xác định
các điều kiện phục vụ dự án phù hợp với các điều kiện hiện có trong nước nhằm
đáp ứng yêu cầu đặt ra của dự án.
Về mặt tài chính của dự án bao gồm các vấn đề sau: Xác định tổng vốn đầu
tư ban đầu cho dự án, xác định các lợi ích do dự án đem lại, lợi ích ở đây có thể
được tính bằng tiền hoặc không tính bằng tiền, các lợi ích đó chính là lãi mà xã hội
thu được từ dự án.
Về tính kinh tế của dự án, thực chất là đánh giá các lợi ích và chi phí của dự
án trên góc độ kinh tế để quyết định nên chấp nhận dự án hay loại bỏ dự án, nhằm
đạt được mục tiêu đề ra trong các chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội. Nói cách khác cần phải cân nhắc lựa chọn dự án sao cho đạt hiệu quả kinh tế
quốc dân cao nhất.
Về tổ chức quản lý, đánh giá xem chủ đâu tư quản lý dự án như thế nào, đơn

Dịch vụ tư vấn về kinh tế, quản lý, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, kiến
trúc, nghiên cứu và kỹ thuật được bên vay chi trả bằng khoản tài chính nhận từ chủ
đầu tư. Dịch vụ tư vấn phải phù hợp với quy mô công nghệ và chi phí của dự án.
* Vấn đề giải ngân của dự án
Việc giải ngân được thực hiện trong suốt quá trình của dự án phải phù hợp
với nhu cầu tiền mặt của dự án. Việc giải ngân có thể được thực hiện theo một
trong hai cách, thứ nhất bên thực hiện dự án định kỳ yêu cầu chủ đầu tư giải ngân
khoản tiền hợp lệ dựa trên nhu cầu thực tế của dự án thông qua yêu cầu giải ngân,
chủ đầu tư xem xét và quyết định cấp vốn thông qua tài khoản mở tại ngân hàng đã
lựa chọn, thứ hai có thể tiến hành giải ngân theo tỷ lệ % yêu cầu hợp lệ đã thỏa
thuận trong hợp đồng của dự án. Khi vốn được giải ngân, chúng được chuyển tới
một tài khoản đặc biệt trong ngân hàng, tài khoản này được lập riêng cho dự án,
đóng vai trò như một tài khoản tạm ứng và được sử dụng để giải quyết những khó
khăn về tài chính mà đơn vị thực hiện dự án gặp phải trong qúa trình thực hiện dự
án. Kiểm toán viên phải thu thập tất cả các báo cáo chi tiêu trong kỳ kiểm toán.
* Môi trường kiểm soát của dự án
Công việc kiểm soát dự án được thực hiện thông qua ban quản lý dự án.
Quản lý dự án là việc áp dụng các hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật vào dự án
nhằm đạt được các yêu cầu và mong muốn từ dự án. Quản lý dự án là quá trình lập
kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát một dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc
nhằm đạt được những mục tiêu về thời gian, chi phí, kỹ thuật, chất lượng. Ban
quản lý dự án bao gồm giám đốc dự án, phó giám đốc dự án, giám đốc chuyên môn
dự án, giám đốc kỹ thuật dự án, tổng kiểm soát dự án. Môi trường kiểm soát là thái
độ, nhận thức và hoạt động của Ban quản lý dự án, cơ cấu kiểm soát đối với dự án,
thể hiện như sau:
+ Sự liêm chính, đạo đức và năng lực của các nhà quản lý.
+ Sự đầy đủ của các hệ thống được sử dụng nhằm xác định và giải quyết các
mâu thuẫn với lợi ích liên quan tới các bên.
+ Sự thích hợp của dự án và cơ cấu tổ chức của đơn vị thực hiện dự án.
+ Phương pháp quản lý về ủy quyền và trách nhiệm.

Báo cáo thu chi dự án, đơn vị thực hiện dự án phải lập báo cáo thu chi cho
tất cả các khoản thu chi của dự án.
Bảng cân đối kế toán là bảng tổng hợp phản ánh tình hình tài chính của một
đơn vị tại một thời điểm nhất định. Bảng cân đối kế toán thường được lập vào cuối
kỳ kế toán, báo cáo cung cấp các thông tin về nguồn vốn, số dư tài khoản tiền gửi
ngân hàng, các tài sản của dự án, công nợ,...
Báo cáo chi tiêu của dự án, phương pháp sao kê chi tiêu được sử dụng để
hoàn lại tiền cho đơn vị thực hiện dự án khi các chứng từ quá nhiều và cồng kềnh.
Theo thủ tục sao kê chi tiêu, định kỳ đơn vị thực hiện dự án yêu cầu rút vốn thông
qua việc đưa ra một bản sao kê các khoản chi phí cho các khoản mục hợp lệ trong
hợp đồng. Báo cáo chi tiêu chỉ phản ánh các chi phí phát sinh phục vụ cho các hoạt
động của dự án và được rút ra từ tài khoản đặc biệt của dự án. Báo cáo chi tiêu
được lập theo đồng đôla hoặc theo đồng tiền thỏa thuận trong hợp đồng. Khi tiến
hành kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra các sao kê chi tiêu, kiểm toán
viên có thể sử dụng phương pháp kiểm tra mẫu, kiểm soát nếu thấy cần thiết trong
mỗi trường hợp cụ thể.
Báo cáo tài khoản đặc biệt, tài khoản đặc biệt là tài khoản cấp vốn bằng tiền
ứng trước để trang trải cho các chi tiêu hợp lệ bằng cả nội và ngoại tệ. Tài khoản
đặc biệt được lập sao cho việc thực hiện dự án có hiệu quả hơn, khắc phục vấn đề
về lưu chuyển tiền tệ. Thông thường Bộ tài chính hay đơn vị thực hiện dự án quản
lý tài khoản đặc biệt trên sổ sách kế toán thích hợp để kiểm tra và xác định các
thay đổi trên tài khoản đặc biệt, đồng thời hàng tháng phải đệ trình một bản báo

Trích đoạn Kết thúc công việc kiểm toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status