SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ
LUẬN TRONG CÁC TIẾT DẠY TỰ CHỌN
NGỮ VĂN LỚP 12
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục:
- Phương pháp dạy học bộ môn: NGỮ VĂN
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy môn Ngữ văn.
- Số năm có kinh nghiệm: 12 năm.
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ TRONG GIẢNG
DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN DÂN GIAN I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của việc nâng cao chất lượng dạy và học,
nêu ra là phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Trong nhiều
phương diện đổi mới có “Đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng
coi trọng việc dạy năng lực tự học của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, người
học năng động, sáng tạo dưới sự dẫn dắt của giáo viên, coi trọng rèn luyện kĩ
năng thực hành (…) nhằm “biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo” tránh lối
truyền thụ một chiều, nhồi nhét kiến thức” (Phan Sĩ Anh – “Đổi mới căn bản và
toàn diện nền giáo dục”). Như vậy kĩ năng thực hành rất được chú trọng.
Căn cứ vào công văn số 5358/BGDĐT-GDTrH ban hành ngày 28/8/ 2011 của
Bộ GDĐT và công văn số 1366/SGDĐT- GDTrH ban hành ngày 29/8/2011 về
việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2011-2012 có hướng dẫn về
việc thực hiện tốt việc dạy học tự chọn, cụ thể:
- Môn học tự chọn nâng cao của ban Cơ bản sử dụng sách giáo khoa nâng
cao.
- Dạy học chủ đề tự chọn bám sát để ôn tập, hệ thống hóa, khắc sâu kiến thức, kĩ
năng, không bổ sung kiến thức nâng cao.
- Trên cơ sở đề nghị của tổ trưởng chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm lớp,
Hiệu trưởng quyết định kế hoạch dạy học chủ đề tự chọn bám sát (chọn môn học,
ấn định số tiết/tuần cho từng môn, tên bài dạy) cho từng lớp, ổn định trong từng
học kì.
- Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chủ đề tự chọn nâng cao, chủ đề tự
chọn bám sát các môn học thực hiện theo quy định tại Quy chế đánh giá, xếp loại
học sinh THCS và học sinh THPT của Bộ GDĐT.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
2.1. Thực trạng:
Học sinh khối 12 trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh học theo chương trình
chuẩn. Tỉ lệ tốt nghiệp môn Ngữ Văn của trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh (từ
năm học 2009 – 2010, 2010 – 2011) thấp hơn tỉ lệ tốt nghiệp môn Ngữ Văn của
tỉnh khoảng 18 % do nhiều nguyên nhân:
- Chất lượng tuyển sinh đầu vào thấp.
STT Chủ đề Theo
PPCT
Tuần dạy tự chọn
01 Kĩ năng lập dàn ý trong văn nghị luận. Tuần 1
02 Nghị luận về một tư tưởng đạo lí Tuần 1 Tuần 2 - 5
03 Nghị luận về một hiện tượng đời sống Tuần 5 Tuần 6 - 9
04 Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ Tuần 6 Tuần 10 - 15
05 Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác
lập luận
Tuần 15 Tuần 16 - 21
06 Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận Tuần 17 Tuần 22 - 23
07 Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích
văn xuôi.
Tuần 23 Tuần 24 – 31
08 Mở bài, kết bài trong văn nghị luận Tuần 28 Tuần 32 – 33
09 Diễn đạt trong văn nghị luận Tuần 30 Tuần 34 – 37 2.2. 3. Thực hiện các chủ đề:
* Chủ đề 1: Kĩ năng lập dàn ý trong văn nghị luận.
Mục tiêu: giúp học sinh định ra dàn ý thích hợp cho mỗi đề văn.
Phương thức thực hiện: đây là thao tác thực hiện đầu tiên khi làm bài văn nghị
luận. Trong tiết tự chọn, giáo viên chủ yếu đưa các dạng đề để học sinh biết cách
phân tích đề bài để định ra dàn ý thích hợp.
Để học sinh thực hiện tốt thao tác này giáo viên lưu ý các em đọc kĩ đề bài để
xác định:
- Yêu cầu về nội dung: đề bài chỉ rõ vấn đề cần nghị luận (điều này giúp xác
định phương hướng lập ý).
- Yêu cầu về hình thức: chỉ dẫn về kiểu bài trong đề bài.
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng.
chứng minh,
bình luận…)
+ Tấm gương của
những con người
sống có tình
thương.
+ Những câu danh
ngôn, ca dao nói
về ý nghĩa của lối
sống có tình
thương
Đề 2 X Một vẻ đẹp
(về nội dung
hoặc nghệ
thuật) của
bài thơ “Câu
cá mùa thu”.
Phân tích,
chứng minh.
Bài thơ “Câu cá
mùa thu”.
Sau khi thực hiện xong thao tác phân tích đề, giáo viên yêu cầu học sinh thảo
luận nhóm (chọn một trong hai đề) để lập dàn ý. Cần lưu ý học sinh:
- Luận điểm, luận cứ rõ ràng, sắp xếp theo trình tự logic, chặt chẽ. Cần đảm
bảo tính hệ thống của lập luận, triển khai bằng đề mục, kí hiệu khoa học.
- Chú ý đảm bảo sự cân đối giữa các ý (tất nhiên phải căn cứ vào tầm quan
trọng của từng ý). Nên hết sức tỉnh táo để tránh lạc đề.
- Tình thương là lẽ sống cao cả của con người. Tình thương vượt lên trên mọi
sự khác biệt giữa các dân tộc trên thế giới.
* Chủ đề 2: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
Mục tiêu: giúp học sinh rèn kĩ năng lập dàn ý, biết nêu ý kiến nhận xét, đánh
giá đối với một tư tưởng, đạo lí. Biết huy động kiến thức, trải nghiệm của bản thân
để viết bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
Phương thức thực hiện: giáo viên hướng dẫn học sinh phân biệt được nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống.
- Tư tưởng, đạo lí gồm: lí tưởng (lẽ sống), cách sống, hoạt động sống, mối
quan hệ trong cuộc đời giữa con người với con người
- Trước khi tìm hiểu đề cần đọc kĩ đề bài, gạch chân các từ quan trọng, ngăn vế
(nếu có).
- Giáo viên chọn một số đề bài thực hành, sử dụng phương pháp đàm thoại
phân tích đề. Học sinh tự chọn một trong những đề bài đã cho lập dàn ý cá nhân.
Ở đây chỉ nêu vài ví dụ cụ thể, tùy tình hình thực tế giáo viên linh động chọn
đề phù hợp với khả năng của học sinh.
- Đề 1: Suy nghĩ của anh (chị) về đức hi sinh (khoảng 1 trang giấy thi).
- Đề 2: Viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến sau:
“Điều tôi muốn biết trước tiên không phải là bạn đã thất bại ra sao mà là bạn đã
chấp nhận nó như thế nào”.
- Đề 3: Viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm
sau: “Hỏi một câu, chỉ dốt trong chốc lát, không hỏi sẽ dốt nát cả đời”.
- Đề 4: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến sau: “Sự học như đi thuyền
trên dòng nước ngược, không tiến ắt phải lùi” (khoảng 1 trang giấy thi).
- Đề 5: Có ý kiến cho rằng: “Sự lười biếng không bao giờ dẫn con người đến
với thành công”.
Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên? (viết khoảng 1 trang giấy thi).
- Đề 6: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến của nhạc sĩ thiên tài người
Đức Beethoven: “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem lại
* Mở bài: giới thiệu vấn đề bàn luận hiện đang được quan tâm trong xã hội.
* Thân bài:
- Nêu thực trạng vấn đề đang diễn ra như thế nào ? Có ảnh hưởng đến đời
sống con người ra sao ? (Hậu quả như thế nào? Hoặc vấn đề có ý nghĩa như thế
nào trong đời sống xã hội). Có thể liên hệ tình hình địa phương để làm nổi bật tính
cấp thiết của việc giải quyết vấn đề.
- Nêu nguyên nhân vấn đề: Các nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ
quan (Nếu là một hiện tượng tốt thì lược đi phần nguyên nhân và nêu vai trò tích
cực của hiện tượng).
- Đề xuất phương hướng giải quyết trước mắt và lâu dài (việc cần làm, cách
thức thực hiện, sự phối hợp giữa các lực lượng, đoàn thể….).
- Có thể liên hệ bản thân trong việc tham gia thực hiện giải pháp.
* Kết bài: Nêu suy nghĩ về vấn đề đang nghị luận và rút bài học cho bản thân.
Giáo viên cho một số đề bài để học sinh luyện tập ở nhà. Vào các tiết tự chọn
tiếp theo, một số học sinh sẽ trình bày để tập thể cùng nhận xét. Cuối cùng giáo
viên đánh giá chung và có thể cung cấp dàn bài gợi ý cho học sinh.
- Đề 1: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng học để đối phó với thi
cử ở một số học sinh hiện nay (khoảng 1 trang giấy thi).
Gợi ý:
- Học để đối phó với kiểm tra, thi cử là học tập mà không có hứng thú, say
mê, không chủ động tìm hiểu, không động não; học cho qua các kì thi, học chỉ để
có điểm cao, …
- Đây là tình trạng phổ biến trong học sinh hiện nay. Biểu hiện: chép sách giải
khi giáo viên giao bài tập, học vẹt, học tủ, hỏi bạn, nhìn bài, làm mọi cách gian lận
để có điểm cao, …
- Hậu quả:
+ Học để đối phó khiến học sinh mất căn bản; thụ động trong học tập; ảnh
hưởng đến sự trung thực của con người,…
+ Những người học đối phó không bao giờ đạt thành công thực sự trong
ta lại có phong trào “Tiếp sức mùa thi”. Anh (chị) hãy viết bài văn nghị luận
(khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về phong trào đó.
- Đề 4: Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 1 trang giấy thi) trình bày suy
nghĩ của anh (chị) về tình trạng bạo lực học đường đang trở thành vấn nạn ở nước
ta hiện nay.
* Chủ đề 4: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Mục tiêu: giúp học sinh rèn kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý cho bài nghị luận
về một bài thơ, đoạn thơ và huy động kiến thức, cảm xúc bản thân để viết bài nghị
luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Phương thức thực hiện:
- Với những tác phẩm thơ đã học như “Việt Bắc” – Tố Hữu, “Tây Tiến” –
Quang Dũng, “Đất nước” (trích “Mặt đường khát vọng” ) – Nguyễn Khoa Điềm,
giáo viên có thể chọn những dạng đề cảm nhận hoặc phân tích (trọn vẹn tác phẩm
hoặc một đoạn thơ). Với cùng một tác phẩm có thể ra nhiều dạng đề xoay quanh
các khía cạnh nội dung tư tưởng của tác phẩm để có thể vừa kiểm tra kiến thức học
sinh vừa rèn luyện kĩ năng nghị luận.
- Nên chia học sinh thành nhiều nhóm nhỏ để có thể phát huy tối đa hoạt động
cá nhân của học sinh trong từng nhóm. Học sinh bốc thăm chọn đề bài cho nhóm
mình. Sau đó đại diện từng nhóm sẽ lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm
mình. Các nhóm khác sẽ nhận xét, bổ sung thành một dàn ý hoàn chỉnh.
Sau đây là một sồ đề bài về tác phẩm“Tây Tiến” của Quang Dũng:
+ Đề 1: Phân tích tâm trạng của Quang Dũng khi nhớ về Tây Bắc và những
người đồng đội trong đoạn thơ sau:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
(trích “Tây Tiến”)
+ Đề 2: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng người lính Tây Tiến trong
đoạn:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
tiết tự chọn tuần sau. Sau đó giáo viên tiến hành chấm và nhận xét tình hình bài
làm của học sinh vào tiết tự chọn kế tiếp.
* Chủ đề 5: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận.
Mục tiêu: rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng kết hợp các thao tác lập
luận để viết bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí, về một hiện tượng
đời sống, về một tác phẩm văn học, một nhận định văn học.
Phương thức thực hiện:
- Giáo viên cung cấp một số đoạn văn cho học sinh thảo luận nhóm để các em
nhận diện các thao tác lập luận phân tích, so sánh, bác bỏ và bình luận.
- Giáo viên cần lưu ý học sinh: trong thực tế hiếm khi người nghị luận chỉ sử
dụng một thao tác lập luận duy nhất. Bởi vậy cần biết vận dụng kết hợp các thao
tác lập luận để tạo sự sinh động, tăng sức thuyết phục cho lập luận. Cần xuất phát
từ mục đích nghị luận của bài văn (đoạn văn) mà xác định một thao tác lập luận
chủ yếu và một vài thao tác lập luận bổ trợ. Nếu sử dụng quá nhiều thao tác lập
luận trong cùng một bài văn (đoạn văn) thì đôi khi bài viết sẽ bị loãng mất trọng
tâm mà người viết cần phải nhấn mạnh.
Nhằm giúp các em rèn luyện kĩ năng diễn đạt, giáo viên cung cấp một số đề
bài thực hành. Trong tiết học, giáo viên cần khuyến khích học sinh hoạt động cá
nhân, các em sẽ trình bày bài làm của mình trước tập thể để các bạn cùng nhận xét
từ đó mỗi học sinh sẽ rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân.
* Một số đề bài luyện tập:
- Viết đoạn văn có sử dụng thao tác lập luận so sánh trình bày luận điểm: Đọc
cuốn sách hay cũng như trò chuyện với một người bạn thông minh.
Gợi ý:
- Đọc sách mang lại nhiều lợi ích.
- Khi tiếp xúc với người thông minh chúng ta hiểu thêm bao điều thú vị, có cơ
hội để học hỏi, để hiểu biết và mở rộng tầm mắt.
- Cũng như vậy, khi đọc một cuốn sách hay ta có thêm nhiều hiểu biết. Cuốn
sách hay khiến ta phải suy nghĩ như khi ta nói chuyện với một người bạn thú vị.
+ Luận điểm không rõ ràng: nói lan man không nêu nhận định, đánh giá về
vấn đề đặt ra trong bài văn hoặc diễn đạt thiếu mạch lạc.
+ Luận cứ không chuẩn xác, không đáng tin cậy.
+ Luận chứng thiếu logic: lập luận có mâu thuẫn, lập luận không đủ lí do.
- Những đoạn (câu) được chọn để thực hành giáo viên nên chiếu trên power
point. Bằng phương pháp đàm thoại, gợi mở, học sinh sẽ hoạt động cá nhân để tiến
hành chữa lỗi rút bài học kinh nghiệm cho bản thân.
Trích một số lỗi của học sinh trong bài làm:
Đề bài viết số 4 (Thời gian: 90 phút)
Câu 3 (5,0 điểm): Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Sóng” của nhà thơ Xuân
Quỳnh.
+ Hình ảnh của sóng bao trùm suốt bài thơ, sóng mang tâm hồn của một
người phụ nữ, đối cực:
“Ồn ào và lặng lẽ
Dữ dội và dịu êm”
Hình ảnh mâu thuẫn đối lập nhau: ồn ào trái với lặng lẽ, dữ dội trái với dịu
êm. Chị đã mượn hình ảnh của sóng để nói lên tình yêu của người phụ nữ lúc thăng
trầm, lúc mãnh liệt, nhưng đôi khi họ lại khá yếu đuối.
+ “Ngày xưa – ngày sau” nói lên tình cảm vẫn thế và muôn đời vẫn thế, trước
sau như một, từ ngày xưa người phụ nữ có tấm lòng thủy chung và cho đến bây giờ
tình cảm ấy vẫn còn nguyên vẹn. Tình cảm ở đây còn nói đến tình cảm của đất
nước, một thứ tình cảm mặn mà ruột thịt của người phụ nữ đối với non sông đất
nước.
+ Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Cái giây phút giao chuyển của tình yêu “Khi nào ta yêu nhau” được khắc họa
bằng hình ảnh gió và sóng. Một hiện tượng, một tình cảm không thể cản trở được
tình yêu chân thành. Một tình yêu mãnh liệt, người con gái luôn muốn làm hết
mình, muốn hi sinh cho tình yêu, người con gái muốn tan vào, muốn hòa mình vào
Phương thức thực hiện:
- Giáo viên chọn những đề liên quan đến những tác phẩm văn xuôi đã học như
Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân), Vợ nhặt (Kim Lân), Vợ chồng A Phủ (Tô
Hoài), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)… để vừa kiểm tra kiến thức vừa rèn
luyện kĩ năng nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi.
- Chia học sinh thành nhiều nhóm, các em bốc thăm chọn đề bài cho nhóm.
Đại diện từng nhóm sẽ lên trình bày kết quả thảo luận. Các nhóm khác sẽ nhận xét,
bổ sung thành một dàn ý hoàn chỉnh.
- Giáo viên nên ra nhiều dạng đề liên quan đến cùng một tác phẩm. Với tác
phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân), có thể ra những dạng đề sau:
+ Đề 1: Qua việc phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ trong
tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân, hãy chứng minh tính cách nhân vật này là tiêu
biểu cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.
+ Đề 2: Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim
Lân. Từ đó nhận xét về giá trị nhân đạo của tác phẩm này.
+ Đề 3: Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
+ Đề 4: Phân tích vẻ đẹp tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống ở các
nhân vật: Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” (Kim Lân).
+ Đề 5: Phân tích giá trị nghệ thuật của việc xây dựng tình huống truyện trong
truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
+ Đề 6: Anh (chị) hãy phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn “Vợ
nhặt” (Kim Lân).
Qua sự nhận xét của các bạn, sự đánh giá của giáo viên, học sinh có thể rút ra
được dàn ý chung cho dạng đề phân tích nhân vật:
* Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả (nêu nhận xét chung về phong cách nghệ thuật hoặc đặc
điểm các sáng tác của nhà văn).
- Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
- Nêu nhận định chung về nhân vật.
- Giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của chi tiết, tình huống đó.
* Kết bài: khẳng định chi tiết, tình huống có ý nghĩa quan trọng trong việc thể
hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm.
Có thể tiến hành cho học sinh viết thành bài văn hoàn chỉnh vào tiết tự chọn
tuần sau. Giáo viên tiến hành chấm và nhận xét tình hình bài làm của học sinh vào
tiết tự chọn kế tiếp.
* Chủ đề 8: Mở bài, kết bài trong văn nghị luận.
Mục tiêu: giúp học sinh có kĩ năng vận dụng linh hoạt các kiểu mở bài và kết
bài thông dụng trong khi viết bài văn nghị luận.
Phương thức thực hiện:
- Giáo viên cho một số đề bài thực hành, sử dụng phương pháp đàm thoại
hướng dẫn phân tích đề. Học sinh thảo luận nhóm để lập dàn ý sau đó các em sẽ
hoạt động cá nhân để viết các mở bài, kết bài dựa trên dàn ý của nhóm.
- Một số học sinh lần lượt trình bày các mở bài, kết bài. Các học sinh khác sẽ
nhận xét cách nêu vấn đề của mở bài, cách kết thúc vấn đề trong kết bài, cách diễn
đạt của đoạn văn và sửa chữa cho hoàn chỉnh.
- Giáo viên nhận xét chung và cần lưu ý học sinh:
+ Nguyên tắc mở bài: nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài, đối với đề bài trích
dẫn một ý kiến thì mở bài phải trích dẫn lại nguyên văn ý kiến; chỉ nêu ý khái quát
của nội dung vấn đề (đối với đề bài nghị luận xã hội học sinh nên chọn cách mở
bài trực tiếp, với đề bài nghị luận văn học nên chọn cách mở bài gián tiếp).
- Nguyên tắc kết bài: thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở thân bài; chỉ nêu
ý khái quát thiên về tổng kết, đánh giá vấn đề. Có thể kết bài theo cách tóm lược,
phát triển (đối với đề nghị luận văn học), hoặc theo cách vận dụng, liên tưởng (đối
với đề nghị luận xã hội).
* Chủ đề 09: Diễn đạt trong văn nghị luận.
Mục tiêu: giúp học sinh tránh các lỗi về dùng từ, đặt câu, sử dụng giọng điệu
không phù hợp với chuẩn mực diễn đạt của bài văn nghị luận; vận dụng những
cách diễn đạt khác nhau để trình bày vấn đề linh hoạt, sáng tạo vì mục đích của văn
của mình như câu nói “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng
người ngại núi e sông”. Bạn suy nghĩ gì về ý kiến trên?
+ Trong mỗi con người có nhiều phẩm chất, một phẩm chất quan trọng nhất là
ý chí con người, ý kiến của Nguyễn Thái Học đã nói rõ điều đó: “Đường đi không
khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.
+ Mở đầu đoạn thơ là hình ảnh những người lính Tây Tiến mắc các căn bệnh
sốt rét không có thuốc chữa đến nỗi không còn tóc, da dẻ xanh xao, gầy gò như tàu
lá chuối.
+ Lính Tây Tiến có ngoại hình dị hợm, đầu trọc lốc khiến cho kẻ thù nhìn vào
thấy khiếp sợ.
+ Người lính Tây Tiến trong cuộc hành quân gian khổ nơi rừng thiêng nước
độc, thiếu thốn đủ thứ nên họ tự cạo tóc mình.
+ Những người lính Tây Tiến đêm không dám ngủ lo sợ cho sự an nguy của
đoàn lính, thay phiên nhau trực đêm để canh gác “Mắt trừng gửi mộng qua biên
giới”. Người lính vẫn có những phút giây quên mình, họ nhớ về những người vợ,
người yêu đang ở phương trời xa xăm vô định “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
+ Lính Tây Tiến chết bờ chết bụi nơi biên giới “rải rác biên cương mồ viễn
xứ”, họ không có cả chiếu để liệm khi nằm xuống “áo bào thay chiếu anh về đất”.
Dòng sông Mã gầm thét đưa tiễn linh hồn các anh về yên nghỉ nơi chín suối.
+ Bài thơ “Tây Tiến” là một bản tình ca, hùng ca với bút pháp lãng mạn, tài
hoa. Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến.
Đề bài viết số 7 (Thời gian: 90 phút)
Câu 3 (5 điểm): Phân tích hình tượng con sông Đà trong tùy bút “Người lái đò
sông Đà” của Nguyễn Tuân.
+ Có nhiều người miêu tả sông Hương, chỉ mình Nguyễn Tuân miêu tả sông
Đà hung bạo. Nhà văn miêu tả sông Đà hung bạo, lì lợm như viên dũng tướng.
+ Với bút pháp nhân hóa, sông Đà như người thiếu nữ diễm tình.
+ Bờ sông có vẻ đẹp như người tiền sử hoang dại.
+ Nguyễn Tuân nhiều lần đi ngang sông Đà nên thấy gắn bó, thân thiết với
Câu 2 (3 đ): nghị luận xã hội.
Câu 3 (5 đ): nghị luận về một bài thơ (đoạn thơ).
Lần KT 12A5 12A8
SL Giỏi SL Khá SL TB SL dưới TB SL Giỏi SL Khá SL TB SL dưới
TB
1 0 (0%) 4 (9.1%) 16 (36.4%) 24 (54.5.%) 1 (2.2%) 13 (28.9%) 13 (28.9%) 18 (40%)
2 4 (9.1%) 14 (31.8%) 19 (43.2%) 7 (15.9%) 14 (31.1%) 20 (44.4%) 9 (20.1%) 2 (4.4%)
3 6 (13.6 %) 12 (27.3%) 17 (38.6%) 9 (20.5%) 11 (24.4%) 18 (40.2%) 11 (24.4%) 5 (11%)
4 1 (2.3%) 9 (20.7%) 23 (52.3%) 10 (22.7%) 3 (6.7%) 17 (37.8%) 17 (37.8%) 8 (17.7%)
5 7 (15.9%) 12 (27.3%) 17 (38.6%) 8 (18.2%) 15 (33.3%) 20 (44.4%) 9 (20%) 1 (2.2%)
Thi
HK
1 (2.3%) 12 (27.3%) 20 (47.1%) 9 (21%) 4 (8.9%) 24 (53.3%) 13 (28.9%) 4 (8.9%)
KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG BÀI KIỂM TRA THEO LỚP
HỌC KÌ II
Cấu trúc đề kiểm tra gồm 3 câu:
Câu 1 (2đ): câu hỏi giáo khoa.
Câu 2 (3 đ): nghị luận xã hội.
Câu 3 (5 đ): nghị luận về một tác phẩm (đoạn trích) văn xuôi.
Lần KT 12A5 12A8
SL Giỏi SL Khá SL TB SL dưới TB SL Giỏi SL Khá SL TB SL dưới
TB
1 2 (4.7%) 13 (30.2%) 13 (30.2%)
15 (34.8%)
9 (22%) 15 (36.8%) 9 (22%) 1 (2.2%)
2 4 (9.5%) 15 (35.7%) 13 (31%)
10 (23.8%)
18 (40%) 14 (31.2%) 9 (20%) 4 (8.8%)
- Trong tiết học tự chọn giáo viên nên tạo không khí trao đổi, tranh luận và
vận dụng nhiều phương pháp giảng dạy phù hợp với trình độ học sinh.
* Đối với học sinh:
- Học với tinh thần tự giác, cầu tiến, tích cực tham gia hoạt động nhóm, chủ
động thực hành những bài tập mà giáo viên giao; có nhu cầu bộc lộ suy nghĩ cá
nhân trước tập thể.
- Đối với tác phẩm trữ tình (bài thơ, đoạn trích thơ … ) phải nắm được, hiểu
được các ý cơ bản của từng khổ thơ, đoạn thơ.
- Đối với tác phẩm tự sự (truyện ngắn, đoạn trích… ) phải tóm tắt được diễn
biến câu chuyện.
V. KẾT LUẬN
Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận giúp học sinh hình thành những quan
điểm đúng đắn về chính trị, xã hội; phát huy khả năng cảm thụ văn chương của học
sinh, hình thành năng lực tư duy và thành công trong giao tiếp. Hơn nữa, học sinh
có năng lực phân tích, tổng hợp khám phá vấn đề có sức thuyết phục trên cơ sở lí
lẽ chặt chẽ, căn cứ xác thực.
Tuy nhiên phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp của giáo viên sẽ góp
phần quan trọng trong việc nâng cao kết quả học tập của học sinh. Cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng cho rằng: “Chúng ta cần phải xem lại cách giảng dạy văn trong
trường phổ thông của chúng ta (…) phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ, suy nghĩ
bằng trí óc của mình, và diễn tả sự suy nghĩ đó theo cách của mình thế nào cho tốt
nhất” (Dạy Văn là một quá trình rèn luyện toàn diện – tạp chí Nghiên cứu giáo
dục, số ra ngày 28/11/1973).
Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, người viết chỉ nêu một vài kinh nghiệm mà bản
thân tích lũy trong quá trình giảng dạy. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành của
quý Thầy, Cô.
Chân thành cảm ơn!
NGƯỜI THỰC HIỆN
8. Thực hiện chương trình dạy học tự chọn môn Ngữ Văn (Bùi Minh Tuấn –
trang điện tử “dantri.com.vn”).
9. Một số đề thi tham khảo trên các trang internet.
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị: THPT Nguyễn HữuCảnhCỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Biên Hòa, ngày 30 tháng 3 năm 2012
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011- 2012
–––––––––––––––––
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN
TRONG CÁC TIẾT DẠY TỰ CHỌN NGỮ VĂN LỚP 12
Họ và tên: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN Chức vụ: giáo viên.
Đơn vị: THPT Nguyễn Hữu Cảnh.
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục - Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có