SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG TRỊ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỒN TIÊN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC NĂNG LỰC THẨM MỸ QUA
MÔN NGỮ VĂN CHO HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CỒN TIÊN, TỈNH QUẢNG TRỊ
Người thực hiện: Trần Thị Lý
Đơn vị công tác: Trường THPT Cồn Tiên
BƯỚC HOẠT ĐỘNG
1.Hiện trạng
Vấn đề giáo dục đạo đức trong trường THPT qua môn Giáo dục
công dân cần được bổ sung thêm con đường, giải pháp khác
nữa để giúp cho việc hoàn thiện nhân cách.
2. Giải pháp thay thế
diện cho người học, nhất là đối tượng người học ở bậc phổ thông, trong
đó giáo dục để có một nhân cách đẹp là mục tiêu hướng đến của nền giáo
dục chân chính. Về giáo dục nhân cách cho người học, hầu như lâu nay
thường “khoán trắng” cho các môn chuyên ngành: ở trường phổ thông là
môn Giáo dục công dân, ở trường đại học là môn Đạo đức học, trong khi
sự hoàn thiện nhân cách lại là kết quả tổng hợp của sự giáo dục từ nhiều
bộ môn, từ lý thuyết đến thực tiễn, từ nhà trường đến gia đình và xã hội.
Nhận thấy điều đó, sáng kiến kinh nghiệm này của chúng tôi nhằm
trình bày thêm một phương diện giáo dục nhân cách hữu hiệu (giáo dục
thẩm mỹ) và bằng con đường chúng tôi đang trực tiếp đảm nhiệm (bộ
môn Ngữ Văn) tại môi trường quen thuộc (trường THPT Cồn Tiên,
Quảng Trị).
Sáng kiến kinh nghiệm gồm có 3 phần:
1. Tổng quan tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục của huyện
Gio Linh và của trường THPT Cồn Tiên.
2. Điều tra thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của học sinh THPT Cồn Tiên.
3. Đề xuất giải pháp giáo dục năng lực thẩm mỹ từ bộ môn Ngữ Văn.
Phương pháp tiến hành chủ chốt của sáng kiến kinh nghiệm này là từ
thực tiễn công tác điều tra, rút ra kết luận, từ đó đề xuất giải pháp.
MỞ ĐẦU
1. Mục tiêu giáo dục, đào tạo của bất cứ thời đại nào, thuộc bất cứ dân
tộc nào đều nhắm tới mục tiêu xây dựng con người có nhân cách và tri thức
phù hợp yêu cầu của dân tộc và thời đai. Trong mối quan hệ giữa dạy chữ và
dạy người thì dạy người bao giờ cũng phải là mục tiêu đầu tiên và tối
thượng. Chúng ta đã đưa vào chương trình Tiểu học môn Đạo đức, chương
trình Trung học cơ sở, Trung học phổ thông môn Giáo dục công dân, nhưng
thực tiễn giáo dục cho thấy không thể “khoán gọn” việc giáo dục đạo đức
cho học sinh cho hai môn này. Rất nhiều nơi xem bộ môn này chỉ mang tính
chất “dạy cho có”!
Trong 3 phương pháp, tôi chọ phương pháp thống kê, phân loại làm
phương pháp chính để nghiên cứu.
4. KẾT QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Phần này sẽ có 3 mục lớn:
1. Tổng quan về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục của
huyện Gio Linh và trường THPT Cồn Tiên.
2. Thực trạng năng lực thẩm mỹ và việc giảng dạy cái đẹp qua bộ môn
Ngữ Văn ở trường THPT Cồn Tiên.
3. Một số kiến nghị về giải pháp giáo dục năng lực thẩm mỹ qua bộ
môn Ngữ Văn ở trường THPT Cồn Tiên.
I. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI,
GIÁO DỤC CỦA HUYỆN GIO LINH VÀ TRƯỜNG THPT CỒN
TIÊN
ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ, DÂN CƯ HUYỆN GIO LINH
1. Điều kiện địa lý, cư dân của huyện:
1.1 Diện tích, đất đai:
Gio Linh là một trong 10 đơn vị hành chính của tỉnh Quảng trị, được
thành lập trở lại vào năm 1990. Là một huyện có địa hình bán sơn địa, thấp
dần từ Tây sang Đông, phía Tây là đồi núi, ở giữa là đồng bằng và phía
Đông là bãi cát và biển; địa hình chia cắt bởi các hệ thống sông, suối, ao hồ
nên có thể chia thành 4 tiểu vùng chính: Vùng núi có diện tích 20.539,61ha
(chiếm 43,54%), vùng đồi có diện tích 11.180,74 ha (chiếm 23,64%), vùng
đồng bằng có diện tích tự nhiên 12.631,010 ha (chiếm 26,7 %), Vùng biển
diện tích 2.892,8ha (chiếm 6,12%)
(1)
.
1.2 Xã và dân cư:
Huyện gồm 19 xã, 2 thị trấn. Tính đến cuối năm 2010, dân số huyện
thuyền Gio Mai đến niềm vui náo nức của Hội cù Gio Mỹ, sự uyển chuyển,
nhịp nhàng của Hội đu Lan Đình, Gio Phong,…tất cả tạo nên một nét văn
hóa đa sắc, đa thanh, rất riêng của miền quê Gio Linh, có sức lôi cuốn, níu
giữ bước chân du khách.
Nhân dân Gio Linh vốn mang nặng tình yêu và lòng quí trọng những
giá trị văn hóa được tạo dựng bằng tài năng và công sức của tiền nhân. Vì
vậy, không chỉ nỗ lực bảo tồn “lớp vỏ vật chất” của các di tích lịch sử, người
dân Gio Linh còn ra sức bảo vệ cả cái “hồn” của văn hóa Gio Linh với
những phong tục, tập quán, cũng như những lễ hội văn hóa dân gian. Cùng
với đó, người dân Gio Linh hôm nay đang nỗ lực xây dựng một đời sống văn
hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Bên cạnh những thuận lợi nói trên thì huyện cũng gặp những khó
khăn nhất định: địa hình của huyện khá hiểm trở gây khó khăn cho việc giao
thông và phát triển kinh tế; dân số của huyện có sự chêch lệch giữa nam và
nữ và số người phụ thuộc còn cao nên gặp rất nhiều khó khăn trong tìm việc
làm và phát triển kinh tế cho đồng đều.
2. Điều kiện văn hóa, xã hội, giáo dục:
2.1 Cơ cấu bộ máy huyện, xã: Ngày nay, huyện Gio Linh gồm 19 xã và 02
thị trấn: Gio Linh, Cửa Việt. Huyện có một ủy ban nhân dân huyện và 21 ủy
ban nhân dân xã, thị trấn.
2.2. Điều kiện giáo dục: Toàn huyện có 22 trường mầm non, 21 trường tiểu
học và 21 trường trung học cơ sở phân bố đồng đều trên các xã, thị trấn.
Gio Linh có 2 trường THPT (trường THPT Gio Linh và THPT Cồn Tiên), 1
trường THPT bán công Nguyễn Du và 1 TT giáo dục thường xuyên huyện
Gio Linh.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRƯỜNG THPT
CỒN TIÊN 1.Năm thành lập:
đến năm 1997, lúc này tổng số CBGV-CNV có 31 người, quy mô 13 l
ớp,
trong đó cấp 3 có 3 lớp. Tháng 5/1996, UBND tỉnh Quảng Tr
ị ra Quyết
định số 51/QĐ-UB đổi tên trường thành PTTH Cồn Tiên. Do yêu cầu học tập ngày càng tăng, Sở GD-ĐT Qu
ảng Trị ra Quyết
định số 90 chủ trương tách trường thành 2 đơn vị là PTCS Cồn Ti
ên và
THPT Cồn Tiên kể từ năm 1996-1997.
2. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí và học sinh của trường:
- Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên hiện nay: 51 (N
ữ 17, nam 34),
trong đó: Giáo viên 44 (t
ỷ lệ đạt chuẩn 98,9%, có 3 thạc sĩ, 2 đang học cao
học, 47% đạt giáo viên giỏi cấp trường, 2,2% cấp ngành),
nhân viên 04,
CBQL 03. Tổ chức bộ máy của trường: Chi bộ có: 22 đảng viên;
BGH
:03; Chi đoàn giáo viên: 28; Tổ chuyên môn: 10; Tổ hành chính: 01
- Tổng số học sinh toàn trường: 648, được biên chế thành 18 lớp. G
ồm:
Khối 12: 210 (nữ 121); Khối 11: 194 (nữ 107); Khối 10: 244 (nữ 98)
- Đối tượng chính sách: Con thương binh, b
ệnh binh: 09; Con mồ côi
cả cha lẫn mẹ: 01; Con dân tộc 08; Hộ nghèo: 39
3. Cơ sở vật chất trường học:
Trường đã có 2 dãy nhà kiên cố 17 phòng học, 1 nhà hiệu bộ, 2 phòng
triệu cây". Những năm tiếp theo, trường tham gia trồng và chăm sóc 150 ha
cà phê của nông trường. Công đoàn trường trồng được 2 ha cao su, năm
1984 trồng và chăm sóc 10 ha cao su cho Nông trường Cồn Tiên và đã bàn
giao cho Công ty cao su Quảng Trị.
Trường THPT Cồn Tiên trở thành điểm sáng, là điển hình tiêu biểu
cho hoạt động trồng cây ở trường học trong cả nước. Do đó, Trường được
Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT giao trách nhiệm chăm sóc và trồng cây cảnh ở
tượng đài ngành Giáo dục tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.
Các hoạt động văn nghệ, TDTT là thế mạnh của học sinh Trường
THPT Cồn Tiên so với các trường trong tỉnh. Nhiều năm liên tục đạt giải
nhất, nhì toàn đoàn và cá nhân trong các giải TDTT, Hội khỏe Phù Đ
ổng do
huyện, tỉnh tổ chức.
Ba mươi năm qua, trường đã được Đảng, Nhà nước và các cấp chính
quyền, các ban ngành trao tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý:
bằng khen của Bộ GD-ĐT, 2 bằng khen của Bộ Lâm nghiệp, bằng khen của
UBND tỉnh Bình Trị Thiên, UBND tỉnh Quảng Trị, Sở GD-ĐT , bằng khen
của Tỉnh ủy Quảng Trị tặng bằng khen cho chi bộ đạt trong sạch vững
mạnh từ năm 1996-2000 và nhiều giấy khen khác. Đoàn trường đư
ợc Trung
ương Đoàn tặng 5 bằng khen về thành tích hoạt động Đoàn. Công đoàn
trường nhiều năm được tặng bằng khen và giấy khen của LĐLĐ tỉnh, Công
đoàn giáo dục tỉnh.
tình cảm đạo đức vì đạo đức là nguyên tắc hành xử mang tính bắt buộc, quy
phạm trong khi tình cảm thẩm mỹ mang tính khoái cảm, bột phát tức thời, vô
tư.
- Thị hiếu thẩm mỹ: là sở thích về mặt thẩm mỹ, là sự hài lòng và
hứng thú của chủ thể khi tiếp xúc với đối tượng thẩm mỹ (tức là tình cảm
thẩm mỹ đã đi vào chiều sâu, mang tính ổn định, có sự hài hòa giữa cá nhân
và cộng đồng). Do đó, nói đến thị hiếu thẩm mỹ là nói đến một hiện tượng
xã hội – lịch sử được biểu hiện thông qua thị hiếu cá nhân. Chẳng hạn, nhìn
một sở thích (lối sống, trang phục, thái độ với thần tượng,…) của một cá
nhân nào đó, ta sẽ hiểu được cá nhân ấy được hưởng thụ một nền giáo dục
nào, nền văn hóa nào, hoặc đang sống trong môi trường nào. Vì thế, thị hiếu
thẩm mỹ được biểu hiện thông qua một hiện tượng mang tính bề nổi của nó
là “mốt” (mode, model). Sáng kiến kinh nghiệm của chúng tôi tập trung đi
sâu vào vấn đề thị hiếu thẩm mỹ này bởi thực tiễn cho thấy, việc giáo dục
thẩm mỹ thông qua giáo dục thị hiếu thẩm mỹ là việc làm năng động nhất,
hiệu quả nhất.
Trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cần chú ý đến các điểm như:
+ Mối quan hệ giữa tình cảm và lý trí: có thể có trường hợp một ai đó
về mặt tình cảm không phải là xấu nhưng họ thiếu đi sự dẫn đường của lý trí
nên gặp phải sự bế tắc về mặt tình cảm (sống buông thả, chạy theo mốt lố
lăng, kệch cỡm mà cứ nghĩ là đẹp…). Cần phải giúp họ về mặt lý trí để họ
tỉnh táo hơn.
+ Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội: với thị hiếu thẩm mỹ của một
cá nhân cụ thể thì yếu tố xã hội chủ yếu nằm ở mặt nội dung còn yếu tố cá
nhân nằm ở mặt hình thức, hai yếu tố này gắn chặt với nhau.
+ Tính quy luật của thị hiếu thẩm mỹ: muốn làm nảy nở hay triệt tiêu
một thị hiếu thẩm mỹ thì điều cốt lõi, gốc rễ của nó là phải cải tạo xã hội và
lối sống. Thị hiếu thẩm mỹ cũng có quy luật “lây lan”, vì thế trong giáo dục
phải vận động được sự “lây lan” lành mạnh để lấn át “lây lan” tiêu cực chứ
không phải đơn thuần chỉ bằng biện pháp hành chính.
non được lặp lại 15 lần, chữ nước được lặp lai 13 lần).
Ngôn ngữ thơ cũng chứa đựng chất hội họa (“thi trung hữu họa”)
khiến nhiều câu thơ, bài thơ được hình dung như một bức tranh phong cảnh
(“Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”- thơ
Nguyễn Du hoặc “Tiếng sưối trong như tiếng hát xa/ Trăng lồng cổ thụ
bóng lồng hoa”- thơ Hồ Chí Minh). Trong văn xuôi cũng có rất nhiều trang
tả cảnh như vậy.
Vì vậy, việc dạy văn chính là làm cho các em thấy được cái đẹp trong
tác phẩm văn chương và phải truyền được cái đẹp trong đó cho học sinh
(Lưu ý: Văn chương khi viết về cái xấu, cái ác cũng phải “chiếu ” dưới ánh
sáng của cái đẹp. Chính nhờ thế mà khi chúng ta đọc đoạn Nguyễn Du tả
cảnh Thúy Kiều bị Tú Bà hành hạ “Uốn lưng thịt đổ, giập đầu máu sa” ta
vẫn không thấy ghê tởm cảnh “thịt đổ, máu sa” mà chỉ thấy căm giận kẻ tàn
phá cái đẹp, thấy thương cho cái đẹp). Văn chương lấy ngôn ngữ làm chất
liệu, mà ngôn ngữ là “thể hiện trực tiếp của tư tưởng”, là “vỏ vật chất của tư
duy” (C. Mác) nên có lợi thế là gọi đích danh sự vật, thể hiện trực tiếp cảm
xúc, đi thẳng vào tâm hồn người đọc: “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi” (Tố
Hữu), “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Nguyễn Bính), “Anh xa em
như đất liền xa cách bể” (Chế Lan Viên),…Đấy lại là một lợi thế nữa của
văn chương mà người giáo viên dạy văn cần tận dụng.
Thế nhưng, lâu nay vì nhiều lý do khác nhau mà người dạy văn chưa
phát huy hết lợi thế của bộ môn nên chưa truyền được hết cái hay, cái đẹp
của tác phẩm văn học đến với học sinh để các em nhận ra và yêu thích cái
đẹp, sống theo cái đẹp. Trong hoàn cảnh một trường còn nhiều khó khăn về
cơ sở vật chất (CSVC) như trường THPT Cồn Tiên của chúng ta, chúng tôi
nghĩ rằng, trong khi đòi hỏi được trang bị CSVC để giáo dục thẩm mỹ, từ đó
giáo dục đạo đức cho các em học sinh thì hãy tận dụng lợi thế của bộ môn
Văn để làm việc đó, nghĩa là cung cấp những giá trị thẩm mỹ ở các tác phẩm
văn học cho các em để các em thấy cái đep, yêu cái đẹp, sống theo cái đẹp,
ngược lại phải nhận diện cái xấu để xa lánh nó, cuối cùng để có một nhân
hiểu biết cơ bản nhất, đơn giản nhất về cái đẹp. Trong 4 nội dung đưa ra về
cái đẹp, nhìn chung các em đã nhận diện được phạm trù cái đẹp, biểu hiện là
các em dành tỷ lệ cao cho quan niệm cái đẹp là “Sự hoàn mỹ” (229/ 530
phiếu, tỷ lệ 43,2%). Đây là một quan niệm chính xác. Đồng thời, trong mối
tương quan giữa hình thức và nội dung của cái đẹp thì các em cũng dành tỷ
lệ cao cho quan niệm cái đẹp phải có nội dung tốt (180/ 530, tỷ lệ 35,5 %).
Dĩ nhiên, điều này còn cần phải bàn thêm (có quan niệm cho rằng nội dung
cái đẹp có thể “dạy” được, “đào tạo” được, còn hình thức là của “trời cho”,
cũng có ý kiến ngược lại) nhưng có thể nói quan niệm của các em như vậy
cũng không sai. Quan trọng nhất là giữa hai quan niệm nội dung và hình
thức của cái đẹp không chênh lệch nhau bao nhiêu (43,2 % so với 35 % ),
chứng tỏ trong các em vẫn có hai luồng quan niệm về cái đẹp hình thức/ nội
dung y như trong đời sống. Qua phiếu phỏng vấn cho thấy các em đã trưởng
thành, đã có nhận thức đúng, do đó người lớn không được chủ quan khi
đứng trước các em, nhất là thái độ, trang phục, ăn nói,
2. THỊ HIẾU BẢN THÂN TRONG ĐỜI SỐNG
THỊ HIẾU BẢN THÂN SỐ
LƯỢNG
PHẦN TRĂM
Sự bình yên 297 56,0
Nhiều bạn 365 68,8
Sống nghiêm túc 164 30,9
Thích uống rượu 19 3,9
Thích học 355 67,0
Thích buôn chuy
ện
129
Thích du lịch 309 58,3
Không thích gì cả 50 9,43
Tổng 530 phiếu Ở phần 2 của Mẫu 2, chúng tôi đi sâu khảo sát sở thích, quan niệm
của các em về lối sống. Qua phân tích bảng trên, ta thấy:
- Học sinh thích nhất là được sống thoải mái (378/ 530 phiếu, tỷ lệ
71,3 %). Điều này cũng phản ánh một thực tế trong đời sống xã hội ngày nay
là quan niệm thoáng hơn, nhiều phương diện cuộc sống được mở ra hơn
trong khi áp lực dành cho các em không nhỏ (công việc nhà, học trên lớp, thi
tốt nghiệp Tú tài, thi đại học, bị cấm đoán,…). Hiểu được thực trạng như thế,
vấn đề còn lại là thầy cô giáo (nhất là Giáo viên chủ nhiệm, Ban Giám hiệu,
Đoàn thanh niên…) phải tận dụng cơ hội (sinh hoạt lớp, Đoàn, nhắc nhở
trong lễ chào cờ đầu tuần, ) phân tích cho các em hiểu: thế nào là sống thoải
mái đúng đắn? Sống thoải mái khác với sống buông thả, tự do, bất cần như
thế nào?,…để điều chỉnh, “lái” các em vào quỹ đạo sống đúng đắn, có ích.
Một điều chúng tôi thấy rất đáng quý của học sinh trường ta là có hai
mục về thị hiếu các em tán đồng rất cao, đó là thích nhiều bạn (365/ 530
phiếu, tỷ lệ 68,8 %) và thích học (355/ 530 phiếu, tỷ lệ 67,0 %). Điều này có
thể do vùng đất (hoàn cảnh địa lý, đời sống, truyền thống) nơi địa phương
trường đóng mà chúng tôi đã mô tả ở mục 1 trên đây. Một vùng đất như
vùng của chúng ta nói riêng, Quảng Trị nói chung, các em sẽ có mục tiêu
học rất rõ ràng: học để có cơ hội thoát nghèo, bởi vậy sự khao khát được học
của các em là điều mà nhà trường cần phát huy, nhân rộng ra và toàn trường
phải tập trung mọi điều kiện có thể để đáp ứng nguyện vọng chính đáng này
của các em. Phải xem đây là tín hiệu đáng mừng để phát huy nó lên. Về việc
thích nhiều bạn cũng không có gì khó hiểu. Lứa tuổi này (nhất là học sinh
khối lớp 10), mới từ trường Trung học cơ sở lên, nay được “nối mạng” khắp
cả huyện nên nhu cầu bạn bè là nhu cầu đương nhiên, tự nhiên. Điều này
phải tằn tiện để các em đi học, các em cũng còn nhiều việc phải dùng đến
tiền,…Các em phải thương cha mẹ để tiêu pha tiết kiệm, tránh chạy theo
“mốt” một cách mù quáng, sau này dễ ân hận. Việc này hoàn toàn có khả
năng điều chỉnh được.
Dưới đây, chúng tôi điều tra thị hiếu của học sinh về những loại hình,
thể loại nghệ thuật nhằm “đo” sự hiểu biết và ham thích nghệ thuật gì? mức
độ ham thích ra sao? thử lý giải nguyên nhân thích/ không thích để có giải
pháp đúng.
Phiếu phỏng vấn Mẫu 3. này bao gồm hai nội dung: một dành cho các
loại hình nghệ thuật nói chung; một dành cho các thể loại nghệ thuật cụ thể.
3.1 SỞ THÍCH CHUNG CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
CÁC LOẠI HÌNH SỐ PHẦN TRĂM
NGHỆ THUẬT LƯỢNG
Hội họa 118 22,3
Múa 54 10,2
Điêu khắc 61 11,5
Đi
ện ảnh
262
49,5
Âm nhạc 376 70,9
Kịch/ sân khấu 20 3,8
Văn chương 68 12,8
Tổng:
7 lo
ại h
ình
Tượng tròn 21 3,9
Tượng đài 82 15,5
Tượng trang trí 135 25,4
Tư
ợng ph
ù điêu
49
9,2
Tượng khác 34 6,4
Không thích tượng 132 24,9
Dân ca 62 11,7
Ca khúc thính phòng 18 3,3
Nhạc hải ngoại 62 12,0
Ca khúc truy
ền
th
ống
70
13,2
Nhạc không lời 121 22,8
Nhạc thị trường 78 14,7
Nhạc khác 106 20,0
Không thích loại nào 47 8,8
76
14,3
Vũ kịch 25 4,7
Kịch thơ 46 8,7
Nhạc kịch 60 11,3
Kịch câm 77 14,5
Không thích loại nào 132 24,9
Nhìn vào bảng thống kê trên, chúng ta có thể rút ra các nhận xét:
1. Thị hiếu thẩm mỹ của học sinh về các loại hình nghệ thuật:
Trong 7 loại hình nghệ thuật (chúng tôi xếp theo thứ tự ngẫu nhiên để
tránh tâm lý người được phỏng vấn cho là người phỏng vấn đã xếp đặt), học
sinh chọn nhiều nhất là loại hình âm nhạc (376/ 530 phiếu, tỷ lệ 70,9 %), kế
đến là loại hình điện ảnh (262/ 530 phiếu, tỷ lệ 49,5 %). Điều này có thể lý
giải được. Âm nhạc là một trong loại hình nghệ thuật phổ biến nhất, gần gũi
nhất. Người Việt Nam ai cũng hát ít nhất là một số câu hát trong đời, nhất là
đồng bào ở miền núi, do đó việc học sinh chọn âm nhạc là điều dễ hiểu.
Điều này giáo viên nói chung, giáo viên Ngữ Văn nói riêng cần lưu ý để tận
dụng cơ hội truyền cho/ cùng các em được thưởng thức, được ca hát nhiều
hơn, gây hứng thú trong học tập. Đối với giáo viên Ngữ Văn, cần cho học
sinh nhận thấy: do ngôn ngữ văn chương (đặc biệt là thơ) rất nhiều tính nhạc
(chúng tôi đã phân tích ở trên) nên rất nhiều bài thơ đã được nhạc sĩ đưa
nguyên vào, trở thành ca từ trong tác phẩm âm nhạc (Bóng cây Kơ nia- thơ
Ngọc Anh, nhạc Phan Huỳnh Điểu; Sóng; Thơ tình cuối mùa thu- thơ Xuân
Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu; Làng quan họ quê tôi- thơ Xuân Sách, nhạc
Nguyễn Trong Tạo,…). Cả thơ và nhạc cùng chắp cánh cho nhau để cùng
lan rộng, bay xa trong công chúng thưởng thức. Đây quả thật là một thế
và thế giới vào chương trình để tạo sức hấp dẫn? Phải chăng vì học môn Văn
(khối C nói chung) khi vào học đại học rồi thì rất khó tìm được “đầu ra”?
Phải chăng người giáo viên dạy môn văn trong trường phổ thông chưa làm
cho học sinh thấy được cái hay, cái đẹp của văn chương, từ đó đốt lên ngọn
lửa đam mê văn chương trong tâm hồn các em? Mặt khác, cũng là môn Văn
nhưng trong khi các em chọ thể loại thơ với tỷ lệ khá cao (43,5 %) thì số chọ
văn xuôi lại có tỷ lệ khá thấp (19,1 %)? Còn điện ảnh Việt Nam, không chỉ
các chuyên gia nhiều lần lên tiếng rằng điện ảnh “nội” đang chết. Các phim
truyện Việt Nam trên truyền hình được chọn chiếu vào giờ vàng, sao lại
không hấp dẫn học sinh mà học sinh lại chọn phim truyền hình nước ngoài
(tỷ lệ 44,9 % % so với 37,7 % của Việt Nam)? do chất lượng phim kém hay
do giờ ấy các em bận học?
Ở các thể loại nghệ thuật như ca khúc thính phòng (18/ 530 phiếu, tỷ
lệ 3,3 %), tượng tròn (21/ 530 phiếu, tỷ lệ 3,9 %), vũ kịch (25/ 530, tỷ lệ 4,7
%) là những thể loại rất ít được yêu thích, phải chăng vì nó còn xa lạ với học
sinh hay còn lý do nào khác? (chẳng hạn, trong khi học sinh thích tượng tròn
chỉ có 3,9 % thì số thích tượng trang trí lên đến 25,4 % và tỷ lệ học sinh
không thích tượng cũng khá cao: 135/ 530 phiếu, tỷ lệ 25,4 %). Cần tìm hiểu
thêm nguyên nhân đó.
Như vậy, những chỉ số thị hiếu thẩm mỹ của học sinh trường THPT
Cồn Tiên do chúng tôi điều tra trên diện rộng (530 phiếu/ 648 học sinh toàn
trường, tỷ lệ 87,8 %) đã cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về thị hiếu của các
em trong lối sống, trong việc thưởng thức các loại hình, thể loại nghệ thuật
tương đối khách quan. Từ kết quả này cho chúng tôi căn cứ để đề xuất những
giải pháp về một phương diện của giáo dục đạo đức học sinh trong nhà
trường trung học phổ thông Cồn Tiên nói riêng (và ở các trường THPT khác)
từ hướng giáo dục năng lực thẩm mỹ qua môn học Ngữ Văn.
III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIÁO DỤC NĂNG LỰC THẨM MỸ QUA
MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT CỒN TIÊN
Từ thực tiễn đời sống dân cư trên địa bàn huyện Gio Linh và thực tiễn