SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
LIÊN HỆ THỰC TẾ MANG TÍNH
GIÁO DỤC Ở MỘT SỐ BÀI TRONG
MÔN NGỮ VĂN
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Môn Ngữ Văn là một trong những môn chính trong các bộ môn học ở nhà trường. Nhưng
thực trạng học sinh ngày nay không hứng thú với môn này ngày càng nhiều. Các em không
nhân thấy rằng:Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư
duy của con người .
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tầm quan trọng trong việc giáo
dục quan điểm, tư tưởng ,tình cảm cho học sinh Mặt khác “ Dạy văn là một quá trình rèn
luyện toàn diện” ( Nghiên cứu giáo dục , số 28, 11/1973), chính vì vậy nội dung giáo dục tư
tưởng , đạo đức cho HS trong quá trình dạy và học văn là vô cùng quan trọng và có nhiều
cơ sở sát thực để giáo viên liên hệ giáo dục thuận lợi hơn các môn học khác .
Trong những năm vừa qua , thực hiện chương trình sách giáo khoa mới cùng với phong
báo và các kênh thông tin khác .
Chính vì vậy, việc dạy học văn trở nên là một bài toán vô cùng khó. Để có một lời giải
đưa môn văn thiết thực hơn, không chỉ đổi mới phương pháp dạy và học mà còn làm cho
HS thấy môn văn “gần” với cuộc sống.
Vì những suy nghĩ nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài “ Liên hệ thực tế mang tính
giáo dục ở một số bài trong môn Ngữ Văn.”
Vì khả năng và thời gian có hạn, bản thân tôi đưa ra ở một số bài nhưng có thể mở rộng
ra ở nhiều bài khác nếu có nội dung tương tự.
Đây là suy nghĩ của riêng cá nhân sẽ không tránh khỏi những hạn chế. Rất mong quý
thầy cô góp cho những ý kiến quý báu để tôi có dịp bổ khuyết.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lí luận :
- Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-
BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng
học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng
hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS.”
- Trong tài liệu bồi dưỡng thay sách giáo khoa năm 2002 đã nêu rõ : Môn ngữ văn có vị
trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường trung học cơ sở : Góp phần
hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở , chuẩn bị cho họ ra
đời , hoặc tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn .Đó là những con người có ý thức tự tu
dưỡng , biết thương yêu , quý trọng gia đình , bạn bè , có lòng yêu nước , yêu chủ nghĩa
xã hội ; biết hướng tới những tư tưởng , tình cảm như lòng nhân ái , tinh thần tôn trọng
lẽ phải , công bằng …, lòng ghét cái xấu , cái ác ( …).Đó là những con người có ham
muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Muốn làm được điều đó thì vấn đề tích hợp trong dạy học ngữ văn là một trong những
nội dung đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học trong chương trình sách giáo khoa
ghi ta của Lor – ca ( Thanh Thảo), Ai đã đặt tên cho dòng sông? ( Hoàng Phủ Ngọc Tường
), Một người Hà Nội ( Nguyễn Khải ), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Chiếc
thuyền ngoài xa ( Nguyễn Minh Châu), Hồn TRương Ba, da hàng thịt ( Lưu Quang Vũ),…
- Chương trình cũng chú ý thêm về loại thể. Về văn nghị luận, có thêm bài Nguyễn Đình
Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc ( Phạm Văn Đồng ). Ngoài ra, còn có một
bài về chân dung văn học của Xvai – gơ và hai văn bản nhật dụng. Kịch sau năm 1975 được
đưa vào sgk với Hồn TRương Ba, da hàng thịt ( Lưu Quang Vũ). Kí được bổ sung thêm với
hồi kí Những năm tháng không thể nào quên ( Võ Nguyên Giáp) và bút kí Ai đã đặt tên cho
dòng sông? ( Hoàng Phủ Ngọc Tường ).
- Chương trình không chỉ chọn các sáng tác nghệ thuật văn chương mà còn tăng cường
phần nghị luận xã hội, nghị luận văn học và thêm một số văn bản nhật dụng.
Từ sự phong phú đó, sẽ giúp chúng ta lựa chọn những bài phù hợp để tích hợp trong bộ
môn này.
2.1. Tích hợp nội dung Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. a/ Cơ sở:
- Trong giáo dục và đào tạo, cũng như trong mọi công tác khác, việc tuân thủ những quan
điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tư tưởng Hồ Chí Minh là điều quan trọng. Bởi vì, đó là
“nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.
- Môn Ngữ văn ở trường phổ thông có nhiều ưu thế, thuận lợi trong việc tích hợp nội
dung bộ môn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh gồm nhiều bộ phận, trong đó tư tưởng đạo đức có vai
trò, ý nghĩa quan trọng bởi vì đạo đức là nền tảng của người cách mạng. Hơn nữa, nhân dân
ta đang triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh”
nên việc quán triệt và làm theo tấm gương đạo đức của Người càng cấp thiết. Công việc này
sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đạt mục tiêu giáo dục đã xác định.
- Tài liệu “ Nội dung tích hợp học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
trong môn Ngữ Văn gồm có:
+ Môn Ngữ văn với việc giáo dục tư tưởng và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
- Vài nét về tiểu sử: Bảy mươi chín tuổi của Bác là bảy mươi chín mùa xuân tươi đẹp
Người đã dâng hiến để làm nên mùa xuân tươi đẹp cho Tổ quốc
- Quan điểm sáng tác:
+ HCM coi văn học là vũ khí phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CM, nhà văn là chiến sĩ
trên mặt trận văn hoá.
+ HCM luôn chú trọng đến tính chân thật và tính dân tộc của văn học, đề cao sự sáng
tạo của người nghệ sĩ.
+ Khi cầm bút, HCM luôn xuất phát từ mục đích (Viết để làm gì?) và đối tượng tiếp
nhận (Viết cho ai?) để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. Do vậy, tác phẩm
của Người thường rất sâu sắc về tư tưởng, thiết thực về nội dung và rất phong phú, sinh
động, đa dạng về hình thức nghệ thuật.
- Di sản văn học:lớn lao về tầm vóc tư tưởng, phong phú về thể loại, đa dạng về phong
cách nghệ thuật.
-> Tích hợp: Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức, yêu nước, giữ gìn truyền thống văn hóa
dân tộc. Quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật và những đóng góp lớn lao về văn học nghệ
thuật và vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất đạo đức cách mạng của Bác qua sáng tác văn học nghệ
thuật của Nguyễn Ái Quốc. Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và là nhà cách mạng vĩ đại của
dân tộc. Người là nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào công nhân quốc tế. Là nhà nghệ sĩ
lớn trên nhiều lĩnh vực , là danh nhân văn hóa thế giới.
* Thời điểm: Sau mục tiểu sử, quan điểm sáng tác và di sản văn học của Hồ Chí Minh.
* Tài liệu tham khảo:Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự do ( Tư tưởng Hồ Chí Minh, di
sản văn hóa dân tộc, tr 225 – 229)
d2. Bài Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh:: Tích hợp lòng yêu nước và độc lập dân
tộc
* Mức độ: Liên hệ
* Chủ đề: Thuộc chủ đề yêu nước, độc lập dân tộc. Qua tác phẩm này, tích hợp tư tưởng
dân tộc về độc lập, tự do và những đóng góp lớn lao về văn chính luận của Bác.
* Nội dung:
- HS nắm được hoàn cảnh ra đời của bản TNĐL.
* Thời điểm : Dạy ở những câu thơ:
Ôi, phải chi lòng được thảnh thơi
Năm canh bớt nặng nỗi thương đời
Bác ơi, tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mợi kiếp người.
Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch, chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn
…
Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn
…
Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.
* Tài liệu tham khảo: Hồ Chí Minh, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp (Phạm Văn
Đồng, Hồ Chí Minh, Tác gia, tác phẩm và nghệ thuật ngôn từ, tr 33 – 71)
Ngoài ra, GV có thể tích hợp ở những bài có nội dung có thể liên hệ được.
2.2. Giáo dục bảo vệ môi trường :
a. Cơ sở: Môi trường có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống. Đó không chỉ là nơi
tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi lao động và nghỉ ngơi, hưởng thụ, trau dồi
những nét đẹp văn hóa, thẩm mĩ,……
Chính vì vậy, thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngày 31/01/2005, Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT đã ra Chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường,
xác định nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến 2012 cho giáo dục phổ thông là trang bị cho HS
kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo vệ môi trường bằng hình thức phù hợp trong các
môn học, thông qua các hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, xây dựng mô hình Xanh –
sạch –đẹp phù hợp với các vùng miền.
Bảo vệ môi trường hiện nay là một trong những mối quan tâm mang tính toàn cầu. Ở
nước ta, bảo vệ môi trường cuãng đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc. Nghị quyết số
điều kiện liên hệ một cách logic), giúp HS ý thức được giá trị của lao động, rèn luyện kĩ
năng, thói quen bảo vệ môi trường, biết yêu quý thiên nhiên xung quanh chúng ta…
c. Lưu ý:
- Giáo dục bảo vệ môi trường không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như
một bộ phận riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó là một hướng hội nhập vào
chương trình. Giáo dục Bảo vệ môi trường là cách tiếp cận xuyên bộ môn. Giáo dục phù
hợp với tâm lí lứa tuổi. Không làm tăng nội dung học tập dẫn đến quá tải.
- Chỉ tích hợp với nhứng bài có nội dung thật sự có liên quan đến môi trường, không
gượng ép, không tràn lan…không biến giờ học văn thành giwof trình bày về giáo dục môi
trường, giáo dục mô trường chỉ là nội dung được tích hợp một cách tự nhiên, hòa đồng
trong các đơn vị kiến thức chuyên môn.
d. Một số bài tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường:
d1.Bài Phong cách ngôn ngữ Khoa học: Khi tìm hiểu đặc điểm và rèn kĩ năng sử dụng
phong cách ngôn ngữ khoa học GV rèn luyện và giúp HS làm quen với các thuật ngữ khoa
học môi trường và các văn bản phổ biến khoa học môi trường hay kết hợp trong các bài tập
rèn luyện kĩ năng, phân tích ngữ liệu hoặc bài tập tìm từ ngữ( các thuật ngữ hay dùng trong
các văn bản khoa học môi trường, đặt câu, viết đoạn,…
d2. Bài Bài viết số 2 ( Bàn về một hiện tượng đời sống): Trong khi củng cố các kĩ năng
nghị luận và liên hệ nâng cao ý thức, thái độ đúng đắn đối với những hiện tượng đời sống
hiện nay, giáo viên có thể khái thác khả năng liên hệ đến những vấn đề về môi trường.
Ví dụ: Với đề bài : Suy nghĩ của anh ( chị) về hiện tượng “nghiện” Karaoke và in ter nét
trong nhiều bạn trẻ hiện nay.
GV có thể hướng dẫn HS khai thác những vấn đề ô nhiễm âm thanh, mất trật tự công
cộng, tình trạng nhiễu loạn thông tin, ô nhiễm thông tin,…thậm chí, nhiều vấn đề có thể dẫn
đến: nghiện Ka ra ô kê, in ter nét quá, không dọn dẹp không gian mình ở, bỏ rác bừa
bãi…đó cũng là ô nhiễm môi trường.
Hay giáo viên có thể cho các em một số đề liên quan đến môi trường như: Anh ( chị) suy
nghĩ như thế nào về hiện tượng ô nhiễm môi trường? Anh chị làm gì để góp phần môi
trường làm Xanh – Sạch – Đẹp ? Anh chị suy nghĩ gì về vấn đề nhiều bạn trẻ hiện nay vứt
rác bừa bãi?
- Với hai nét tính cách nổi bật của con sông là : Hung bạo và trữ tình, ta thấy được sự giàu
có về tài nguyên và phong cảnh tuyệt vời của miền tây Tổ quốc. Từ đó, nâng cao ý thức
trân trọng vẻ đẹp thiên nhiên – con người, giữ gìn giá trị môi trường thiên nhiên của đất
nước.
- Qua bài này, GV cũng làm nổi bật chủ đề của tác phẩm: Việc mô tả con sông Đà lắm
thác nhiều ghềnh đã làm nổi bật hình ảnh người lái đò khỏe mạnh, lão luyện, giàu ý chí, ca
ngợi thiên nhiên Tây Bắc.
-> Niềm tự hào của tác giả về Tổ Quốc hùng vĩ giàu đẹp. Đoạn văn là âm hưởng của những
khúc ca ca ngợi sức mạnh thiên nhiên thật hoang dại mà cũng hết sức tự do và hào phóng.
Đó là biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước. GV có thể
liên hệ thêm về vai trò của Sông Đà trong thủy điện, đóng góp lớn lao vào cuộc sống con
người. Vì vậy, chúng ta hãy yêu và bảo vệ những con sông quanh ta.
d6. Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành.
- Mở đầu tác phẩm, tác giả đã giới thiệu, miêu tả rừng xà nu dưới bom đạn: Cả rừng xà nu
hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân
mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt,
long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại và đặc quyện thành từng cục máu lớn.
- Kết thúc truyện cũng lại là hình ảnh rừng xà trong bom đạn của kẻ thù: “Trận đại bác
đêm qua đã đánh ngã bốn năm cây xà nu to. Nhựa ứa ra ở những vết thương đang đọng lại,
lóng lánh nắng hè. Quanh đó, vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây đang nhú
lên khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê….Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác
mgoaif những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời.
-> Sự xuất hiện hình ảnh rừng xà nu ở đầu và cuối thiên truyện là một dụng ý nghệ thuật
của tác giả. Vẻ đẹp của tác phẩm là vẻ đẹp của thiên nhiên và khí phách, truyền thống của
con người Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Vẻ đẹp ấy hội tụ , ẩn
chứa trong vẻ đẹp của rừng xà nu. Ấn tượng về “rừng xà nu” là ấn tượng xuyên suốt toàn bộ
tác phẩm. Xà nu hiện diện trong toàn bộ câu chuyện, gắn liền với đời sống dân làng Xô
man. Rừng xà nu chịu nhiều tàn phá đau thương của bom đạn nhưng không khi nào mất đi
sức sống mãnh liệt, quật cường. Rừng xà nu là hiện thân của dân làng Xô man, mỗi cây xà
nu là mỗi người của dân làng Xô man, các thế hệ xà nu nối tiếp không ngừng là các thế hệ
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
-> Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay
đổi theo từng thời tiết, từng mùa. o Mùa xuân: trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống với
“mơ nở trắng rừng”. o Mùa hè: rực rỡ, sôi động với âm thanh “rừng phách đổ vàng”. o Mùa
thu: yên ả, thanh bình, lãng mạn với hình ảnh “trăng rọi hoà bình”. o Mùa đông: tươi tắn,
không lạnh lẽo với hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”.
Thiên nhiên đẹp là thế và gắn bó với con người như thế, Gv dẫn dắt bằng những câu hỏi
để đưa đến kết luận : Thiên nhiên rất đa dạng và đẹp qua bốn mùa khác nhau, nên chúng ta
phải biết yêu thiên nhiên, gần gũi với thiên nhiên 2.3. Tích hợp kĩ năng sống(KNS). a. Cơ sở:
- KNS( Kĩ năng sống) bao gồm một loạt các KN cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng
ngày của con người. Bản chất của KNS là KN tự quản bản thân và KN xã hội cần thiết để
cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, KNS là khả
năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và
với XH, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
Muốn thực hiện được điều đó, trong những giờ dạy học văn, để tiết dạy bớt nặng nề, Gv
có thể kể chuyện- những chuyện mang tính giải trí nhưng giàu tính giáo dục. Đồng thời, từ
những bài văn, có thể liên hệ đến thực tế để trang bị thêm cho các em hiểu thêm về cuộc
sống.
c. Lưu ý:
- GV phải làm sao để HS có hứng thú và có nhu cầu được thể hiện các KNS mà bản thân
đã rèn luyện được đồng thời biết động viên người khác cùng thực hiện các KNS đó. Từ đó,
giúp các em hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quan đến lối sống
lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình, cộng đồng. Có ý thức về quyền và
trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội; có ý thức định hướng nghề
nghiệp.
- Liên hệ, giáo dục phải rõ ràng, tránh gây sự hiểu nhầm ở HS. Tạo tâm lí tự nhiên, thích
thú cho HS, làm giảm áp lực học tập và đặc biệt, giúp các em thấy môn Văn thật là gần, thật
là thiết thực và bổ ích.
- KNS không phải tự nhiên mà có mà phải hình thành trong quá trình học tập, lĩnh hội và
rèn luyện trong cuộc sống. Quá trình hình thành KNS diễn ra cả trong và ngoài hệ thống
giáo dục.
- KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá nhân vì đó là khả
năng của cá nhân. KNS mang tính xã hội vì nó phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch
sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc.
d. Một số bài có thể cung cấp, trang bị cho các em các kiến thức, kĩ năng cần thiết:
d1. Bài Sóng – Xuân Quỳnh. Giáo dục các em về tình yêu trong lứa tuổi học đường
Qua hình tượng Sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa Sóng và em, bài
thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử
thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó, giúp các em nhận thức rằng: Tình
yêu là một tình cảm cao đẹp của con người, là một hạnh phúc lướn lao của con người.
- Ở lứa tuổi các em, phần lớn các em đã biết rung động, biết để ý và nhiều HS đã yêu. Tuy
nhiên, các em còn khá non nớt và hiểu về tình yêu. Vì vậy, khi dạy đến bài này, tâm lí của
HS rất hào hứng. Những HS đã yêu hào hứng đón nhận, những HS đang yêu và cả những
HS chưa yêu, nhưng nhắc đến đề tài Tình yêu, hầu hết HS đều rất thích và chăm chú. Vì
sắc cho công cuộc đổi mới văn học nước nhà sau năm 1975. Khuynh hướng sáng tác văn
học của ông trong giai đoạn này thường hướng về cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo
đức và triết lí nhân sinh. “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm như thế. Bằng một tình
cảm dạt dào với tấm lòng thiết tha hiểu đời, hiểu nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu không chỉ
cho người đọc thấy được mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật, giữa sự lam lũ của cuộc
sống và tình người bao la, mà còn lên tiếng tố cáo, đấu tranh cho một vấn nạn đầy bức xúc
và nhức nhối trong xã hội: đó là bạo hành trong gia đình. Bạo hành trong gia đình không chỉ
là một đề tài mà Nguyễn Minh Châu quan tâm và nhắc tới trong “Chiếc thuyền ngoài xa”,
mà còn là vấn nạn cả xã hội chúng ta đang đối mặt và cần phải giải quyết
.
.
Chỉ có một nhà văn lớn mới khái quát được nhiều vấn đề như thế trong một tác phẩm của
mình, Nguyễn Minh Châu đã làm được điều đó. Với “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn
Minh Châu đã cho người đọc “thấy” được biết bao triết lí nhân văn cũng như đạo đức luân
lí. Bạo lực gia đình trong “Chiếc thuyền ngoài xa” hiện lên một cách quá đỗi ngạc nhiên và
ngỡ ngàng qua con mắt luôn chứa chan vẻ đẹp từ nghệ thuật của nhân vật Phùng. Phùng, và
hẳn là nhiều bạn đọc đã bức bối trong lòng biết bao khi phải chứng kiến cảnh bạo hành này.
Đó là hình ảnh một người chồng, người cha vũ phu, đánh vợ mình với chiếc thắt lưng một
cách tàn bạo, vừa đánh vừa nhục mạ người đàn bà khốn khổ đó. Cảnh tượng hiện lên hệt
như những trận đòi roi thời Trung cổ mà người ta vẫn rùng mình khi nghĩ đến, chỉ khác ở
chỗ có lẽ người đàn bà ấy không bị trói lại và cũng không chạy trốn mà thôi. Bằng một cảnh
tượng quá đỗi tàn ác ấy, Nguyễn Minh Châu không chỉ dẫn dắt người đọc đi tìm hiểu thân
thế người đàn bà hàng chài, mà còn cho ta thấy được biết bao là sự đời, nhân tình thế thái
mà con người ta cần phải hiểu. Phải chăng vì mang hình dáng xấu xí, thô kệch, thất học hay
vì cuộc sống quá lam lũ, lầm than mà người chồng đã đã đánh người vợ mình như thế.
Đánh, chửi ác nghiệt tới nỗi chị ta phải xin chồng cho lên bờ đánh, để các con không phải
chứng kiến cảnh đó. Thật tội nghiệp biết bao khi bức màn về cuộc đời và số phận người phụ
nữ hàng chài được hé mở. Làm sao có thể sống mà mưu sinh trên vùng biển này khi không
có một người đàn ông, dù cho hắn ta có đối xử như một con dã thú? Phải sống vì con cái,
cũng là một nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình, đó là còn chưa kể tới những hệ lụy của
nó. Cái gì quá khó khăn, quá vất vả thường khiến con người ta ích kỉ và tàn nhẫn hơn, khó
mà giữ được mình trong sạch, giữ mình là mình nữa. Chính vì thế, khi ý thức được về bạo
hành trong gia đình và nhân quyền, con người ta đã ngày càng tiếp thu và học hỏi nhiều hơn
để xây dựng xã hội thêm văn minh.
Bạo hành trong gia đình chính là nguyên nhân của nhiều hậu quả thương tâm. Nhiều cặp
vợ chồng đã đưa nhau ra tòa li dị, để lại cho nhau nhiều tổn thương, để lại cho đàn con bơ
vơ những kí ức đen tối, không hay về mái ấm, về cha mẹ
Hãy cùng nhìn lại mọi chuyện mà xem, hãy lật lại những trang viết mà Nguyễn Minh
Châu đã viết trong “Chiếc thuyền ngoài xa” mà xem. Người đàn bà hàng chài ấy đã van xin
được chồng cho lên bờ mà đánh, chỉ vì chị ta hiểu rằng không nên để con thấy những cảnh
như thế! Tâm hồn con trẻ cần được nuôi dưỡng trong một môi trường trong sạch, hãy để
chúng phát triển nên người trong hạnh phúc, bình yên. Một khi những tâm hồn và con tim
non nớt đó bị chai sạn vì tổn thương, chúng sẽ không thể là những đứa trẻ ngây thơ, trong
sáng và hồn nhiên như bản chất của chúng nữa.
Cuộc sống ấm no về vật chất sẽ là nền móng vững vàng cho những tiến bộ về tinh thần.
Đó là về vấn đề chung của cộng đồng. Còn đối với từng “tế bào” của xã hội, tức là đối với
từng gia đình, từng tổ ấm, thì mỗi thành viên phải cùng sống chan hòa, yêu thương lẫn
nhau. Điều quan trọng hơn cả chính là sự hiểu nhau, có hiểu nhau thì ta mới có thể thông
cảm cho hoàn cảnh của người khác.
“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu hẳn không chỉ kết thúc ở đó, nó còn để
lại biết bao bài học cho mỗi người. Câu chuyện về cuộc đời người đàn bà hàng chài mở ra
cho mỗi chúng ta những suy nghĩ đau đáu về cuộc đời và hạnh phúc của mỗi thành viên
trong gia đình. Bạo hành trong gia đình – vấn đề nhức nhối của mỗi cộng đồng, mỗi đất
nước liệu có bao giờ kết thúc? Câu trả lời nằm ở mỗi chúng ta - là những chủ nhân tương lai
của đất nước. Tôi tin rằng chúng ta sẽ là những thế hệ mang đủ niềm tin, nghị lực và ý chí
để cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh, giàu đẹp hơn. Hạnh phúc gia đình là động lực
cho sự thành công của mỗi con người, là sự thịnh vượng của mỗi xã hội, là bằng chứng văn
minh cho sự tiến bộ của loài người!
chiến thắng của cái thiện, cái đẹp và sự sống đích thực.
-> GV rút ra giá trị tư tưởng:
- Phê phán:
+ 2 quan niệm sống lệch hoặc chỉ chú trọng đến thân xác, ham muốn vật chất, hoặc chỉ
chú trọng đến đời sống tinh thần.
+ Lối sống giả tạo làm con người có nguy cơ rơi vào con đường tha hoá, đánh mất mình.
+ Những tiêu cực trong xã hội: lối sống và cái nhìn hời hợt, sửa cái sai này bằng cái sai
khác.
- Kêu gọi con người hãy sống là chính mình, biết đấu tranh để hoàn thiện nhân cách.
→ Giá trị nhân văn của tác phẩm.
- Nói tóm lại, đây là vở kịch đầy ý nghĩa, từ tác phẩm, GV định hướng cho các em rút ra
những bài học bổ ích cho chính mình. Sau đó, khẳng định lại ý nghĩa của văn bản: Một
trong những điều quý giá nhất của mỗi con người là được sống là mình, sống trọn vẹn với
những giá trị mình có và theo đuổi. Sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống
trong sự hài hòa tự nhiên giữa thể xác và tâm hồn.
d5. Qua bài Tây Tiến ( Quang Dũng), giáo dục tinh thần yêu nước của tuổi trẻ, lí tưởng
“Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”
d6. Qua bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, giáo dục tinh thần yêu nước,
căm thù giặc.
d7. Qua bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm:
- Giáo dục tinh thần yêu nước và hiểu thêm về Đất Nước: ĐN không ở đâu xa mà ở trong
căn nhà, trong hạt gạo ta ăn hàng ngày, trong môi trường học tập, sinh hoạt…và ở ngay
trong mỗi chúng ta, vì vậy, chúng ta hãy bảo vệ và yêu ĐN như yêu cơ thể chúng ta…chúng
ta phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ đất nước….
- Giáo dục lòng tự hào về nguồn gốc, về dân tộc, về truyền thống tốt đẹp của con người
VN-> giúp HS thêm yêu cội nguồn và đất nước -> ra sức học tập
- GV đặt vấn đề : Bản thân em cần có trách nhiệm và nghĩa vụ gì với ĐN ?-> Ra sức học
tập, tu dưỡng đạo đức như vậy cũng là cống hiến, là góp sức mình cho ĐN thêm giàu
mạnh
d8. Qua diễn biến tâm lí của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài), giáo dục
là Huế trong phạm vi hành chính hiện nay, mà Huế là cả địa bàn Châu Hóa xưa, nay là tỉnh
Thừa Thiên Huế, từ Mỹ Chánh đến Lăng Cô, từ núi đồi Trương Sơn đến đầm phá ra biển
Đông. Vì vậy, có thể khái quát một số đặc điểm tiêu biểu của văn hóa Huế như sau:
- Văn hóa Huế, một nền văn hóa của sự hài hòa và gắn bó giữa môi trường sống và chủ
nhân của nó (Huế không chỉ là xứ sở của sông Hương - núi Ngự mà Huế có đủ núi - đồi,
sông - biển, đầm - phá, đất - cát, cồn - bàu. Huế có núi đồi nhấp nhô với Kim Phụng, Ngự
Bình, Vọng Cảnh; có dòng sông êm đềm với Hương Giang, An Cựu, Như Ý, Lợi Nông; có
đầm Chuồn, Cầu Hai; có phá Tam Giang; lại có Cồn Hến, Giã Viên v.v Huế có tất cả đất
núi đồi, đất thịt và cả đất cát ven phá, ven biển Không những thế, thiên nhiên Huế lại
quyện vào nhau, sơn thủy hữu tình, phong cảnh kỳ thú. Sống trong khung cảnh thiên nhiên
hòa quyện như vậy, con người Huế đã sớm đùm bọc, gắn bó với nhau, kể từ ngày vào mảnh
đất làm "quà cưới" này lập làng, sinh sống. Con người đã biết dựa vào và biến đổi cái tự
nhiên của Huế để sáng tạo nên lịch sử - văn hóa Huế. Cái hài hòa, êm đềm của phong cảnh
Huế đã ăn nhập vào con người Huế nhuần nhị và sâu lắng.)
- Văn hóa Huế, một nền văn hóa được làm giàu bởi các dòng văn hóa đô thị - văn hóa
làng (chùa) và văn hóa cung đình (bác học) - văn hóa dân gian không có sự đối lập, loại trừ.
- Văn hóa Huế, một nền văn hóa của cái đẹp trong nghệ thuật kiến trúc và phong cách
sống.
- Nét riêng của văn hóa Huế còn được thể hiện qua ăn nói, ăn mặc, ăn uống, ăn học và cả
ăn chơi của người Huế.
Tóm lại, GV có thể nói thêm về những địa danh ở Huế mà Sông Hương chảy qua, cung
cấp thêm những câu chuyện về sông Hương, về Chùa Thiên Mụ…để tăng hiểu biết về văn
hóa, và tạo cảm giác linh thiêng của mảnh đất Thần Kinh.
d2.Bài Vợ chồng Aphủ của Tô Hoài. Qua tác phẩm này, Tô Hoài đã thể hiện sự hiểu biết
rất sâu sắc và phong phú về phong tục, tập quán của người miền núi Tây Bắc.Vì vậy, khi
dạy tác phẩm này, GV có thể cung cấp thêm một số phong tục của người dân tộc miền núi.
- Đoạn nói về Mị bị ASử bắt về làm vợ…, GV có thể nói thêm về tục cưới hỏi ở đây, để
giúp HS thấy được sự khác nhau của tục cưới hỏi ở đó với tục cưới xin bây giờ ở đồng
bằng, ở người Kinh chúng ta.
quý trọng công sức lao động…
2.5. Giáo án minh họa cho những giải pháp của đề tài:
( Minh họa cho việc có tích hợp môi trường và tích hợp tri thức văn hóa )
Bài: Đọc – hiểu: AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?
(Hoàng Phủ Ngọc Tường)
I/ Mức độ cần đạt:
- Thấy được tình yêu, niềm tự hào của tác giả đối với sông Hương xứ Huế.
- Cảm nhận được vẻ đẹp của sông Hương và cố đô Huế với phong cảnh hữu tình, với bề dày
văn hóa thâm sâu.
- Hiểu được đặc trưng của thể loại bút kí và đặc sắc nghệ thuật của bài kí.
- Về tư tưởng, thái độ:
+ Giáo dục cho HS tình yêu thiên nhiên, lòng yêu nước, tự hào và quý trọng về truyền
thống và những giá trị văn hóa cao đẹp của dân tộc.
+ Ý thức được vai trò của mình trong quá trình giữ gìn và phát huy những giá trị và vẻ
đẹp của nền văn hóa Việt.
II/ Trọng tâm kiến thức, kĩ năng:
1. Kiến thức:
- Vẻ đẹp độc đáo, đa dạng của sông Hương và tình yêu, niềm tự hào của tác giả đối với
dòng sông quê hương, xứ Huế thân thương và đất nước.
Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt
- GV: Gọi HS đọc tiểu dẫn SGK.
* Tác giả:
+ Vài nét về tác giả?
+ Phong cách nhà văn?
+ Những tác phẩm tiêu biểu?
* GV khái quát: Hoàng Phủ Ngọc
Tường là một tri thức yêu nước, nhà
văn gắn bó mật thiết với xứ Huế, có
vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh
vực, chuyên về bút kí, là “ một trong
mấy nhà văn viết kí hay nhất của văn
học ta hiện nay” ( Nguyên Ngọc), sáng
tác luôn có sự kết hợp nhuần nhuyễn
giũa chất trí tuệ và trữ tình, nghị luận
và tư duy đa chiều với một lối hành văn
hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
-> HS trả lời, GV hướng dẫn HS gạch
chân sgk những kiến thức liên quan tác
giả. Hãy nêu xuất xứ của tác phẩm?
2. Tác phẩm
a/ Xuất xứ: (sgk)
viết tại Huế ngày 4/1/1981, in trong tập sách cùng
tên. Tác phẩm gồm ba phần, đoạn trích học trong
sgk là phần thứ nhất.
b/ Thể loại: Thể kí( nghiên về tùy bút) giàu chất trữ
tình, giàu lượng thông tin.
c/ Bố cục: 3 phần:
- Đoạn 1: Sông Hương nhìn từ cội nguồn.
- Đoạn 2: Sông Hương trong mối quan hệ với kinh
thành Huế.
- Đoạn 3: Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử
dân tộc, với cuộc đời và thi ca.
Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc hiểu
văn bản
II. Đọc - hiểu văn bản: GV hướng dẫn HS phân tích giá trị nội
dung và nghệ thuật của đoạn trích.
HS chú ý vào phần dẫn dắt và yêu cầu
của giáo viên khi chuyển sang phần
hai.
- GV hướng dẫn lại cách đọc, vì HS đã
đọc ở nhà và đã tìm hiểu chú thích.
GV dẫn vào tìm hiểu.
* GV: Sông Hương vùng thượng lưu
được tác giả miêu tả như thế n
ào?
Những hình ảnh, chi tiết, những liên
quả thẩm mỹ của lối viết đó?
* GV dẫn dắt gợi ý:
+ Ra khỏi rừng núi
+ Giữa cánh đồng Châu Hóa
+ Từ ngã ba Tuần
- HS dựa vào việc chuẩn bị ở nhà, đọc
1. Gía trị nội dung: a. Sông Hương nhìn từ cội nguồn :
- Sông Hương có quan hệ với dãy Trường Sơn, “là
một bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu
hùng tráng, dữ dội:
+Lúc “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”
+ Lúc “mãnh liệt qua những ghềnh thác”
+ Lúc” cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực”.
+ Lúc“ trở nên dịu dàng và say đắm hoa đỗ quyên
rừng”
-> sông Hương hiện ra tựa cô gái Di gan phóng
khoáng, man dại vói bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do
và trong sáng.
có ý thức người tình đích thực. Nhiều
địa danh được nhắc đến chứng tỏ tác
giả có một vốn kiến thức địa lí rất lớn
về nơi đây.
*Tích hợp: GV có thể nói thêm về
những địa danh ở Huế mà Sông
Hương chảy qua, cung cấp thêm
những câu chuyện về sông Hương, về
Chùa Thiên Mụ…để tăng hiểu biết
về văn hóa, và tạo cảm giác linh
thiêng của mảnh đất Thần Kinh.
- GV giảng thêm: Trong cái nhìn minh
triết và lãng mạn của tác giả: Trước khi
trở thành “Người tình dịu dàng và
chung thuỷ của cố đô”, toàn bộ thuỷ
trình của dòng sông tựa như một cuộc
tìm kiếm có ý thức người tình nhân
đích thực của người con gái trong một
câu chuyện tình yêu nhuốm màu cổ
tích.
- HS lắng nghe
* GV: Sông Hương khi chảy vào thành
phố Huế có đặc trưng gì? Phát hiện của
tác giả về nét riêng biệt của dòng sông
cho thấy những điều gì trong tình cảm
của tác giả đối với xứ Huế và dòng
sông?
- HS suy nghĩ và trả lời.
mộng.
* Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế:
- Sông Hương “vui tươi hẳn lên”như tìm thấy chính
mình khi gặp thành phố thân yêu.
- Giáp thành phố ở Cồn Gĩa Viên:
+ “uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến”
+ Dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “vâng”
không nói ra của tình yêu.”->Dòng sông làm duyên
khi gặp người tình.
- Sông Hương nằm giữa lòng thành phố tác giả liên
tưởng đến:
+ sông Xen của Pa-ri
+ sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét.
- Sông Hương khi qua thành phố:
+ Những nhánh sông đào mang nước tỏa đi khắp
phố thị cổ kính.
+ Trôi đi chậm, thực chậm như mặt hồ yên tỉnh
+ Điệu chảy lặng lờ như điệu slow cùng với ánh
hoa đăng bồng bềnh trong những ngày rằm tháng
bảy.
+ như một tài nữ đánh đàn giữa đêm khuya -> gợi
liên tưởng âm nhạc cổ điển Huế, về tiếng đàn của
Kiều.
- Rời khỏi kinh thành:
+ SH đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và vườn
cau vùng Vĩ Dạ.
- GV đặt câu hỏi để gợi ý:
+ Với lịch sử dân tộc, dòng sông
Hương có mối quan hệ như thế nào?
(HS đọc SGK, suy nghĩ và trả lời) + Với cuộc đời dòng sông Hương có
quan hệ ra sao?
+ SH lưu luyến và rẽ ngoặc hướng đông tây gặp lại
thành phố Bao Vinh xưa cổ -> Sông Hương như
người tình dịu dàng và chung thủy, như tình cảm vấn
vương của Kiều và Kim Trọng.
+ SH trôi về biển cả với lời thề “còn non, còn
nước, còn dài, còn về, còn nhớ…”-> đó cũng là tấm
lòng của người dân Châu Hóa với quê hương xứ sở.
=> Cũng với bút pháp kể và tả, những liên tưởng độc
đáo, thủ pháp so sánh nhân hóa, đoạn văn đã làm nổi
bật một sông Hương đẹp bởi phối cảnh giữa nó với
thành phố Huế.
c. Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc
*. Sông Hương với cuộc đời, thi ca và âm nhạc
- Với cuộc đời: sông Hương là nhân chứng nhẫn nại
(HS đọc SGK, suy nghĩ và trả lời)
- GV nói thêm: Cả cái “Màu thời gian
tím ngát” của Đoàn Phú Tứ, “nhân loại
tím” của Trần Dần cũng từ màu tím
sông Hương mà ra.
+ Với thơ ca và âm nhạc, dòng sông
Hương có quan hệ ra sao?
GV HƯỚNG DẪN HS PHÂN TÍCH
GÍA TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA ĐOẠN
TRÍCH
* -GV: Nhà văn sử dụng những biện
pháp nghệ thuật nào khi miêu tả dòng
sông Hương?
- HS trả lời
- GV nhận xét, chốt ý, dẫn chứng HS
tìm và gạch sgk
- GV: Em có nhận xét gì về các biện
pháp nghệ thuật mà nhà văn đã sử
. Và nhất là Nguyễn Du: “Hương giang nhất phiến
nguyệt- kim cổ hứa đa sầu”
+ Sông Hương gắn với nhã nhạc cung đình Huế:
. Có lúc trở thành “Người tài nữ đáh đàn lúc đêm
khuya”.
. Sông Hương là Kiều trong mối quan hệ “Thi trung
hữu nhạc”: -> Đó là “Tứ đại cảnh” trong hai câu thơ:
“Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối
mới sa nửa vời.”
=> Từ góc nhìn đó, SH mang vẻ đẹp thật đa dạng.
Qua đó, bộc lộ niềm tự hào của tác giả.
2. Gía trị nghệ thuật:
a. Biện pháp nghệ thuật:
- Nhân hóa cùng với những liên tưởng độc đáo
- So sánh kết hợp với liên tưởng thú vị
-> sHương thành một sinh thể có tính cách và nỗi
niềm (dẫn chứng sgk)
b. Một ngòi bút giàu chất thơ: chất thơ toát ra từ
thiên nhiên, cảnh vật, từ tâm hồn con người, từ
những huyền thoại.
- Những từ ngữ chỉ màu sắc linh hoạt: màu đỏ, màu
xanh, tím…
- Những hình ảnh đẹp, huyền thoại giàu chất thơ:
những xóm làng trung du, lập lòe trong đêm ánh lửa,
người gái đẹp ngủ mơ, …
- Điểm xuyến ca dao, lời thơ của các thi sĩ
- Câu hỏi bâng khuâng mở ra và khép lại bài kí “Ai
hiểu văn bản: Từ việc cảm nhận sâu
sắc về vẻ đẹp tự nhiên nên thơ , vẻ
đẹp trầm lắng, tích đọng lịch sử-văn
hóa bao đời của dòng sông Hương
qua ngòi bút tài hoa, tinh tế của
Hoàng Phủ Ngọc Tường, người nghệ
sĩ nặng lòng với Huế, gợi liên hệ tình
yêu thiên nhiên, ý thức giữ gìn vẻ đẹp
của thiên nhiên, những giá trị từ môi
trường lịch sử văn hóa.
nhận và miêu tả vẻ đẹp của sHương từ nhiều góc
nhìn.
- Là câu hỏi bâng khuâng khơi gợi sự tìm kiếm cái
đẹp tiềm ẩn trong sH và thiên nhiên, con người xứ
Huế.
-> để trả lời cho câu hởi, nhà văn đã mượn một
huyền thoại để tô đậm vẻ đẹp lấp lánh của sông
Hương và tấm lòng của người dân Huế đối với con
sông và vùng đất cố đô.
III. Tổng kết (ghi nhớ sgk)
1. Nghệ thuật
2. Nội dung
3. Ý nghĩa của văn bản: Thể hiện những phát hiện ,