Tích hợp giáo dục học sinh nâng cao nhận thức về tình yêu ở tuổi vị thành niên trong giờ học môn ngữ văn cho học sinh trường THPT hà văn mao - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÍCH HỢP GIÁO DỤC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ TÌNH YÊU
Ở TUỔI VỊ THÀNH NIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO.

Người thực hiện: Trần Thị Oai
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn

Thanh Hóa, năm 2018
1


MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.5. Đóng góp của đề tài
PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cở sở lí luận của đề tài.
2.1.1. Quan điểm dạy học tích hợp.
2. 1.2. Tình yêu ở tuổi vị thành niên
2.1.3. Tích hợp giáo dục nâng cao nhận thức về tình yêu tuổi vị
thành niên trong môn Ngữ Văn.

4
4
4
4
4
4
5
5
6
6
6
8
8
9
10
10
11
13
15
15
17
18
22
22
22
23
24
29

PHỤ LỤC

việc giáo dục nâng cao nhận thức về tình yêu tuổi ở tuổi vị thành niên cho học
sinh.
Hơn nữa, trước sự tác động của xã hội, bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường ở thời
đại ngày này không còn là một bộ môn có khả năng thu hút được sự quan tâm,
thích thú của đông đảo học sinh. Vậy muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả của giờ
học văn trong nhà trường, người giáo viên lên lớp cần phải đổi mới trong từng tiết
giảng. Một trong những yếu tố tạo nên tính hấp dẫn cho học sinh trong giờ học là
đưa vào những thông tin mới, những thông tin có tính thực tiễn cao, gắn môn học
với những vấn đề diễn ra trong cuộc sống của học sinh.
Thực tế cuộc sống cho thấy, học sinh ngày nay có xu hướng yêu sớm. Trong khi
đó, nhận thức về tình yêu, giới tính của các em vô cùng hạn chế, không có một
môn học nào tập trung giáo dục, định hướng cho các em nhận thức đúng đắn về
tình yêu và các vấn đề liên quan đến tình yêu. Vậy nên, đã có không ít những hậu
quả đáng tiếc xảy ra xuất phát từ tình yêu tuổi học trò.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã mạnh dạn áp dụng tích hợp giáo dục nâng
cao nhận thức về tình yêu tuổi vị thành niên trong dạy học môn Ngữ Văn cho học
sinh trường THPT Hà Văn Mao và đã đạt được những kết quả khả quan trong nhận
thức và hành vi của các em về vấn đề này.
3


1.2. Mục đích nghiên cứu.
Quá trình nghiên cứu nhằm xác định những vấn đề có tính chất lí thuyết của vấn
đề tích hợp giáo dục nhận thức về tình yêu (một phần quan trọng của giáo dục giới
tính) cho học sinh THPT qua chương trình Ngữ Văn.
Nghiên cứu các giải pháp nhằm tích hợp giáo dục nhận thức về tình yêu vào dạy
học văn sẽ giúp cho người viết có cái nhìn đúng đắn, sâu sắc, toàn diện về vấn đề
này, để việc dạy học văn trở nên tốt hơn, cũng qua đó mà hiểu biết của học sinh về
vấn đề này cũng sâu sắc hơn, đúng đắn hơn. Đồng thời, cũng là một trong những
giải pháp nhằm tạo sự hứng thu cho học sinh đối với bộ môn này, đưa môn học gần

4


PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của đề tài.
2.1.1. Quan điểm tích hợp trong dạy học.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình
hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự
thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”.
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau
trong cùng một kế hoạch dạy học”.
Như vậy, nội hàm khoa học của khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái
quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một
thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ
không phải là một phép cộng đơn giản những thuộc tính của thành phần đấy. Trong
lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở
những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau
hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các
mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp
phần của bộ môn đó.
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ Văn ở trường THPT chẳng
những dựa trên cơ sở các mối liên hệ giữa lí luận và thực tiễn được đề cập đến
trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức
khác (hiểu biết lịch sư, văn hóa, tâm lí…) mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là
cần khắc phục, xóa bỏ dạy học theo lối khép kín, tách biệt nhà trường và cuộc
sống, cô lập giữa kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ và bổ sung cho nhau, tách rời
kiến thức với những tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp trong đời sống thực tiễn.
Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ Văn nhằm nâng cao năng lực
sử dụng kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được để giải quyết những tình

Tiếng Việt, Đọc văn. Các phân môn này hỗ trợ cho nhau để cùng hoàn thành nhiệm
vụ của mình là trang bị tri thức khoa học, rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm, thái độ của học sinh. Chính vì vậy, thông qua việc tổ chức các hoạt
động, giáo viên từng bước hướng dẫn học sinh tìm hiểu các kiến thức bài học, từ
đó bồi dưỡng nhận thức, thái độ sống đúng đắn cho học sinh.
Phân môn Làm văn với các dạng đề nghị luận xã hội có vai trò to lớn trong việc
cung cấp các kiến thức xã hội, đặt ra nhiều vấn đề xã hội to lớn, thông qua đó có
thể giáo dục học sinh lựa chọn quan điểm sống, thái độ sống đúng đắn, trong đó
có quan điểm, thái độ về tình yêu.
Văn bản Văn học, với số lượng nhiều các tác phẩm, đoạn trích viết về đề tài tình
yêu, thông qua những tình huống, hoàn cảnh, số phận, mối quan hệ cụ thể của các
nhân vật có thể gợi ra những bài học bổ ích về câu chuyện tình yêu. Từ đó, giúp
các em nhận thức đúng đắn và có thái độ đúng đắn trong tình yêu ở lứa tuổi vị
thành niên.
Phân môn Tiếng Việt với số lượng tiết thực hành nhiều, trong đó có nhiều tiết học
sinh có thể làm việc theo nhóm, qua đó có thể cho các em trao đổi về vấn đề tình
yêu, giới tính, một vấn đề thu hút sự quan tâm của học sinh, giúp hình thành suy
nghĩ và thái độ đúng đắn trong tình yêu ở độ tuổi học trò.
Trên cơ sở lí luận trên, tôi đã mạnh dạn áp dụng tích hợp giáo dục nâng cao nhận
thức về tình yêu ở tuổi vị thành niên cho học sinh trong môn học Ngữ Văn tại
trường THPT Hà Văn Mao. Việc tích hợp trong giảng dạy đã mang lại những kết
quả khả quan trong việc tạo hứng thứ cho học sinh ở bộ môn Ngữ Văn cũng như
trang bị kiến thức, kĩ năng cho học sinh trước những tình huống trong tình yêu tuổi
học trò.
2.2. Thực trạng của vấn đề.
2.2.1. Thuận lợi:
Dạy học tích hợp hiện đang là xu hướng chung của giáo dục thế giới nói chung,
giáo dục nước ta nói riêng. Xã hội ngày nay đang đặt ra vấn đề cấp thiết mong
muốn đổi mới giáo dục, gắn giáo dục với thực tiễn đời sống. Ngành giáo dục cũng
ý thức rất rõ nhiệm vụ của mình ngoài việc cung cấp kiến thức còn phải trang bị

Dạy văn giờ đây không chỉ đơn thuần chú trọng truyền thụ kiến thức, bồi dưỡng
đời sống tâm hồn, tình cảm cho học sinh mà thiết nghĩ, môn Văn còn phải đảm
đương vai trò là cùng với môn học khác giúp học sinh có kĩ năng tốt trong việc giải
quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống.
Về phía học sinh
Học sinh khi bước vào trường cấp III là tiếp cận với môi trường mới, ở đó các
mối quan hệ của các em mở rộng hơn rất nhiều so với môi trường THCS. Ở độ tuổi
này, thể chất phát triển nhanh và dần hoàn thiện. Cùng với đó là đời sống tình cảm
có nhiều thay đổi, bên cạnh tình bạn là tình yêu xuất hiện. Học sinh nảy sinh tình
yêu ở lứa tuổi này là hoàn toàn bình thường và phù hợp với sự phát triển của tâm lí
lứa tuổi.
Tình yêu tuổi học trò là tình cảm trong sáng, nhưng cũng là những tình cảm mãnh
liệt, để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Chính vì thế, tình yêu có tác động rất lớn trong
cuộc sống của các em. Bên cạnh những tình yêu đẹp có tác động thúc đẩy học tập,
đưa các em tiến bộ và trưởng thành hơn là tình yêu vụ lợi, ích kỉ, hời hợt….. khi
tan vỡ đã để lại những hậu quả đáng tiếc như: học tập sa sút, trầm cảm, bị đánh
ghen dẫn đến xấu hổ, mất tự tin, thậm chí là mang thai, nạo phá thai nhiều lần dẫn
đến mất khả năng sinh sản, bỏ học giữa chừng, trầm trọng hơn nữa là có em bi
quan mà dần đến cái chết…. Và việc học sinh sa sút trong học tập, bỏ học giữa
chừng, thậm chí là kết thúc cuộc đời ở tuổi 15,16 chính là minh chứng cho thấy các
em đang bế tắc trước vấn đề của cuộc sống.
Là một trường miền núi, học sinh người dân tộc thiểu số chiếm hơn 80% (chủ
yếu là người Mường, người Thái), trình độ dân trí của nhân dân trong khu vực còn
thấp, hơn nữa đồng bào dân tộc nơi đây vẫn có phong tục kết hôn sớm. Vì vậy, việc
7


hiểu biết về giới tính của nhân dân nói chung, của học sinh trên địa bàn trong độ
tuổi vị thành niên nói riêng còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ hiểu biết còn hạn chế
về sức khỏe sinh sản vị thành niên, học sinh yêu nhau, quan hệ tình dục dẫn đến

Văn được tiến hành như thế nào? Tôi xin mạnh dạn đề xuất một số kinh nghiệm
mà bản thân đã thực hiện và đã mang lại hiệu quả.
2.3. Giải pháp và tổ chức thực hiện.
Để giúp học sinh có kĩ năng xử lí tốt các vấn đề liên quan đến giới tính và tình
yêu tuổi học trò, tôi đã tích hợp giáo dục giới tính trong giờ dạy Ngữ Văn. Cụ thể
như sau:
2.3.1. Định hướng chung.
Trước hết, phải khẳng định rằng trọng tâm của tiết dạy học tích hợp của môn
Ngữ Văn không phải là dạy về tình yêu ở tuổi học trò. Nhiệm vụ chính của tiết dạy
tích hợp trước hết là nhằm giúp đỡ học sinh đạt được mục tiêu theo chuẩn kiến
8


thức kĩ năng. Vì vậy, hoạt động chủ đạo của tiết dạy học tích hợp là hoạt động dạy
và học với kiến thức trọng tâm của bài học.
Việc tích hợp trong một tiết học phải linh hoạt, sáng tạo nhưng không thể tràn lan,
tùy tiện. Bởi, vận dụng linh hoạt sẽ có tác dụng làm cho tiết học tăng tính thực tiễn,
sinh động, hấp dẫn, kích thích sự hứng thú của học sinh. Nhưng nếu tràn lan, tùy
tiện, quá dây dưa, la cà trong việc tích hợp sẽ làm mất đi nhiệm vụ trọng tâm của
tiết học, bài học sẽ loãng, dẫn đến không đạt được mục tiêu bài học.
Kiến thức tích hợp vào mỗi bài học, tiết học không thể quá nhiều và thời gian
dành cho nội dung tích hợp cũng chỉ chiếm một dung lượng vừa phải sao cho phù
hợp với nội dung của bài học.
Để đạt được hiệu quả cao trong một tiết dạy tích hợp cũng cần phải lựa chọn
phương tiện bổ trợ, phương pháp thực hiện sao cho sinh động và phù hợp.
Và để đạt được những yêu cầu trên, người giáo viên lên lớp phải chủ động được
phạm vi kiến thức cần huy động để tích hợp, chủ động về thời gian, chủ động
được các tình huống có thể xảy ra trong quá trình tích hợp để giải quyết thấu đáo
những thắc mắc của học sinh trước những vấn đề của cuộc sống.
2.3.2. Hệ thống bài dạy, tiết dạy sẽ vận dụng tích hợp

- Danh dự trong tình yêu.
- Hậu quả khi ghen tuông mù
quáng, không kìm chế cảm
xúc trong ghen tuông. Hậu
quả khi tình yêu tan vỡ.
9


24

Ca dao than thân, yêu thương, Nỗi nhớ trong tình yêu.
tình nghĩa.
Khát vọng của người phụ nũ
trong tình yêu.

28

Lời tiễn dặn

51

11

83
87
54
59
65
69
90

Vấn đề sống thử trong tình
yêu
Luyện tập viết bản tin
Hệ lụy của tình yêu thiếu lành
mạnh.
Tình yêu và thù hận
Sức mạnh của tình yêu.
Hậu quả khi tình yêu tan vỡ
Luyện tập phỏng vấn và trả lời Tất cả các vấn đề liên quan
phỏng vấn
đến tình yêu, tình dục ở tuổi
học trò
Tương tư
Đau khổ trong tình yêu đơn
phương
Tôi yêu em
Phẩm chất tốt đẹp cần có
trong một tình yêu cao
thượng.
Bài thơ số 28
Khát vọng thấu hiểu trong tình
yêu
Nghị luận về một hiện tượng Thực trạng tình yêu học trò.
đời sống
Sóng
Những phẩm chất tốt đẹp cần
có của một tình yêu chân
chính.
Vợ chồng A Phủ
Nỗi bất hạnh khi hôn nhân

hiệu quả đó, cần tổ chức các hoạt động tạo điều kiện cho các em học sinh tích cực,
chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức, không áp đặt mà phải luôn khuyến khích,
động viên các em. Tôi đã thực hiện và thấy có kết quả khả quan bằng những biện
pháp sau:
2.3.3.1 Tạo hệ thống câu hỏi nêu vấn đề dẫn dắt học sinh rút ra những bài
học để nâng cao nhận thức về tình yêu ở tuổi vị thành niên.
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn tác động đến học sinh, được
học sinh tiếp nhận một cách có ý thức, làm nảy sinh ở các em hứng thú suy nghĩ để
tìm cách giải đáp nhằm hiểu sâu nội dung bài học. Nói cách khác, đây là loại câu
hỏi đem lại những khó khăn cho học sinh trong việc tìm kiếm câu trả lời, muốn
giải quyết nó các em phải động não, phải suy nghĩ, tìm tòi những tri thức mới dựa
trên những tri thức, kinh nghiệm có sẵn. Trong dạy học Ngữ Văn, câu hỏi nêu vấn
đề có tác dụng to lớn. Nó phát huy tính tích cực, suy nghĩ đọc lập, tính chủ động
tìm tòi, sáng tạo, kích thích hứng thú, say mê các em vào quá trình tìm hiểu. Nó
giúp các em hình thành và rèn luyện khả năng tự tiếp nhận, tự đánh giá, phân tích
vấn đề theo quan điểm của riêng mình. Đồng thời, nó còn thôi thúc các em tìm
hiểu thêm các nguồn thông tin từ bên ngoài.
Trong quá trình tổ chức các hoạt động trong giờ học Ngữ Văn, mục tiêu hàng đầu
của tiết học vẫn là cung cấp và hình thành những kiến thức và kĩ năng cơ bản theo
chuẩn kiến thức - kĩ năng. Tuy nhiên, trong nhiều tiết học bên cạnh nhiệm vụ chủ
đạo, người giáo viên còn có thể thông qua đó mà liên hệ đến những vấn đề trong
cuộc sống, trong đó có vấn đề về tình yêu của con người - đặc biệt là tình yêu tuổi
học trò. Giáo viên cần có sự liên tưởng rộng, phát hiện các chi tiết để đặt ra câu hỏi
nêu vấn đề có tính chất gợi mở để dẫn dắt học sinh rút ra các bài học.
Ví dụ 1: Khi tìm hiểu văn vản Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng
Thủy - Tiết 10, 11, Ngữ Văn 10 - trước chi tiết Mị Châu cho Trọng Thủy xem nỏ
thần rồi dẫn đến mất nước, giáo viên có thể đặt câu hỏi: Tình yêu và sự tin tưởng
tuyệt đối có phải bao giờ cũng đi liền với nhau không? Tin tưởng mù quáng trong
tình yêu có thể dẫn đến những hậu quả như thế nào, đặc biệt là trong cuộc sông
nhiều hiểm họa như hiện nay? Từ đó, học sinh liên tưởng đến thực tế cuộc sống

ở lứa tuổi học trò, người giáo viên có thể đưa vào bài học những câu chuyện có
thật về tình yêu và hậu quả của tình yêu thiếu lành mạnh ở tuổi học trò.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Trình bày một vấn đề - Tiết 51, Ngữ Văn 10 - giáo viên
ngoài việc ra chủ đề về Tình bạn, tình yêu tuổi học trò để các học sinh chuẩn bị và
trình bày trước lớp, có thể dành 2 đến 3 phút kể thêm những câu chuyện về câu
chuyện tình yêu học trò. Những câu chuyện này có thể dùng sự hỗ trợ của công
nghệ thông tin cùng với hình ảnh minh họa để làm tăng sức hấp dần cho những ví
dụ dạng này.
Câu chuyện có thật xảy ra với chính học sinh trong trường: Học sinh Lê Thị Hải,
lớp 11a6 (Khóa học 2012-2015), vì yêu nên học kì II của lớp 11 đã trót mang thai,
rồi bỏ học giữa chừng. Không cưới nhưng em vẫn tự nguyện đến chung sống với
gia đình người chồng. Chồng là một một bạn học cùng khóa nhưng khác lớp, năm
đó đã bỏ học cùng với Hải. Vì không có nghề nghiệp nên gia đình chỉ sông bám
vào nương rẫy. Cuộc sống nghèo khổ, túng thiếu, con cái sinh ra đau ốm thường
xuyên. Tương lai tươi sáng tạm khép lại khi đang ở độ tuổi đẹp nhất.
Hoặc những câu chuyện thời sự trên các phương tiện thông tin đại chúng:
Mai Hồng hiện nay là sinh viên năm cuối của trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Tp.HCM, Hồng chấp nhận phỏng vấn nhưng xin phép được giấu mặt.
12


Bạn kể rằng sau khi người yêu đầu tiên nói lời chia tay, Hồng đã cảm thấy tuyệt
vọng và nghĩ rằng không còn gì đáng để sống nên đã uống thuốc ngủ tự tử nhưng
may mắn được phát hiện kịp thời.
Sau khi trải qua những ngày tháng đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần vì sự dại dột
của mình, tận mắt chứng kiến mẹ vừa đút từng muỗng cháo vừa khóc khi thấy con
gái hầu như không ăn được gì, biết ba đã phải bỏ dở hết hai hợp đồng công việc
quan trọng để lo cho mình, Hồng cảm thấy mình thật ích kỷ. Chỉ vừa trải qua một
tí thất bại đã vội nghĩ đến chuyện từ giã cõi đời. Nhất là cái cảm giác đau tức sau
khi súc ruột khiến Hồng không thể tự mình ngồi dậy nổi, không thể ăn bất cứ gì dù

học về tình yêu học trò.
2.33.3 Sử dụng hình ảnh trực quan về tình yêu và hệ lụy của tình yêu thiếu
lành mạnh ở tuổi vị thành niên..
Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học là một trong hệ thống các phương
pháp dạy học nói chung. Trong dạy học Văn, phương tiện trực quan góp phần quan
13


trọng tạo biểu tượng giúp học sinh cụ thể hóa các sự vật, hiện tượng, các đối tượng
xa lạ. Phương tiện trực quan không dừng lại ở lĩnh vực nhận thức cảm tính, quan
sát mà còn hướng tới lĩnh vực tư duy nhằm phát huy tính tích cực trong học tập của
học sinh.
Phương tiện trực quan là chỗ dựa để học sinh hiểu biết sâu sắc các vấn đề xã
hội, con người, giá trị của các tác phẩm văn chương. Giáo viên sử dụng phương
tiện trực quan giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu hơn. Hình ảnh được lưu lại lâu dài
trong trí nhớ, tạo không khí lớp học thêm sinh động. Phương tiện trực quan rèn
luyện khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ của học sinh.
Phương tiện trực quan còn hình thành và bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ trong
học sinh.
Phương tiện trực quan chủ yếu được sử dụng trong dạy học Văn và trong phạm
vi đề tài của tôi là hình ảnh, các đoạn video,....
Trước sức mạnh của công nghệ thông tin hiện nay, việc thu thập các hình ảnh về
tình yêu và những hệ lụy về tình yêu thiếu lành mạnh ở độ tuổi vị thành niên không
còn là vấn đề khó khăn. Vì vậy, nhiều tiết học của tôi học sinh đã thực sự hứng thú
và tiếp nhận được nguồn thông tin bổ ích thông qua nhìn, nghe-nhìn...
Ví dụ1: Khi dạy bài Luyện tập Phỏng vấn và trả lời Phỏng vấn - Tiết 69, Ngữ
Văn 11- Ngoài nội dung phỏng vấn về vấn đề tình bạn, tình yêu tuổi học trò trên
lớp, tôi cho học sinh xem thêm đoạn video của các phóng viên VTV với học sinh
những trường khác về cùng vấn đề này. Thông qua đó nâng cao nhận thức về tình
yêu, phân biệt được tình yêu và tình bạn cho học sinh.

trao đổi nhiều về những điều học sinh hay gặp hoặc khó nói trong tình yêu học trò.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Trình bày một vấn đề - Tiết 51, Ngữ Văn 10 - trong phần
thực hành, tôi đã ra đồng thời 2 chủ đề và chia nhóm trong lớp cho các em chuẩn
bị. Nhóm 1,3 được giao chuẩn bị chủ đề “An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi
nhà”, nhóm 2,4 sẽ chuẩn bị chủ đề “Tình yêu tuổi học trò”.
Sau khi học sinh trình bày vấn đề đã chuẩn bị, giáo viên là người phải kết lại vấn
đề, bổ sung những ý chưa hoàn chỉnh, định hướng lại suy nghĩ, quan niệm của các
em về vấn đề đã đặt ra trong bài.
Ví dụ 2: Khi dạy bài Luyện tập Phỏng vấn và trả lời Phỏng vấn- Tiết 71, Ngữ
Văn 11- tôi đã cho học sinh chuẩn bị câu hỏi trước về chủ đề Tình yêu của bạn.
Trong quá trình tổ chức hoạt động phỏng vấn trên lớp, học sinh phỏng vấn lẫn
nhau với những câu hỏi mà các em đã chuẩn bị từ trước, giáo viên kết lại. Ngoài ra
tôi còn áp dụng cho học sinh xem đoạn phỏng vấn của phóng viên với học sinh ở
các trường khác về chủ đề Tình yêu của bạn thông qua sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin. Thông qua đó, một lần nữa định hướng học sinh trong việc hướng tới
một tình yêu trong sáng, lanh mạnh ở tuổi học trò. Đồng thời, cảnh báo những hệ
lụy khi tình yêu thiếu lành mạnh, hoặc những hậu quả đáng tiếc do những suy nghĩ
tiêu cực khi tình yêu tan vỡ.
2.3.3.5 Thực hiện tích hợp thông qua các buổi ngoại khóa của bộ môn Văn.
Hoạt động ngoại khóa là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa
ở trên lớp, một trong những mảng hoạt động giáo dục quan trọng ở nhà trường phổ
thông. Hoạt động này có ý nghĩa hỗ trợ cho giáo dục nội khóa, góp phần phát triển
và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo của học sinh.
Nội dung ngoại khóa rất phong phú và đa dạng, nhờ đó các kiến thức tiếp thu được
trên lớp có cơ hội được áp dụng, mở rộng thêm trên thực tế, đồng thời có tác dụng
nâng cao hứng thú học tập nội khóa. Khi hoạt động ngoại khóa, học sinh có thể
tham quan học tập, tổ chức thảo luận theo chuyên đề, tổ chức các buổi dạ hội…
Bộ môn Ngữ Văn là bộ môn có thể tổ chức phong phú các hoạt động ngoại khóa
dựa trên những vấn đề mà tác phẩm văn học đặt ra. Các hoạt động phong phú trong
những buổi ngoại khóa trong bộ môn Ngữ Văn mà tôi đã áp dụng là: đóng kịchdiễn tác phẩm hoặc một phần tác phẩm, tổ chức trò chơi, thảo luận - tranh luận,

cho các tổ tập diễn đoạn Chí Phèo gặp Thị Nở và sự thức tỉnh của Chí Phèo sau đó,
tập diễn trích đoạn Romêô và Giuliet gặp nhau trong trích đoạn “Tình yêu và thù
hận”.
Thông qua 2 trích đoạn này, giáo viên đặt ra vấn đề để học sinh cùng thảo luận:
tình yêu có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người như thế nào? (trong
2 văn bản này tình yêu có vai trò quan trọng như thế nào với cuộc sống của nhân
vật), tình yêu của các nhân vật trong các tác phẩm có phải là tình yêu đẹp không?
Em quan niệm như thế nào về một tình yêu đẹp? Các nhân vật trong tác phẩm khi
không còn tình yêu nữa đã sống như thế nào? Cuộc đời họ kết thúc ra sao? Nếu bị
người yêu chia tay, em sẽ làm gì?....
Thị Nở đã ăn nằm với Chí Phèo dẫn đến có thai mà không cần có cưới hỏi. Nếu là
em, khi mới yêu một ai đó, em có chấp nhận ngủ cùng người đó không? Em có
nghĩ đến việc lỡ mình có thai không? Em sẽ làm gì để tránh thai khi quan hệ tình
dục?
Những buổi ngoại khóa như vậy, không chỉ tạo được không khí vui tươi, thích thú
ở các em sau những buổi học trên lớp, giúp khắc sâu kiến thức trong tác phẩm mà
nó còn giúp các em nói được những vấn đề khó nói trong tình yêu tuổi học trò,
giúp mối quan hệ giữa người dạy và người học trở nên gần gũi, người giáo viên trở
17


thành người bạn lớn của học sinh. Có như vậy, gặp những vấn đề khó nói trong
tình yêu học trò, các em mới tìm đến giáo viên để giải bày, tâm sự và tìm được giải
pháp phù hợp khi vướng mắc.
Một số hình ảnh học sinh diễn trích đoạn tác phẩm văn học trong hoạt động
ngoại khóa:

Học sinh 11a1 diễn Chí Phèo

Hình ảnh học sinh lớp 11a2 diễn trích đoạn “Tình yêu và thù hận”.

Hàng ngang số 11 - 7 ô chữ: Hành động đầu tiên của cảnh thề nguyền giữa Kim
Trọng và Thúy Kiều là hành động nào?
Hàng ngang số 12 - 4 ô chữ: Nội dung lời thề nguyền giữa hai người được gói gọn
trong 1 chữ, đó là chữ nào?
19


Hàng ngang số 13 - 6 ô chữ: Thủ pháp nghệ thuật nào được sử dụng trong câu thơ
sau là thủ pháp gì?
"Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê"
Hàng ngang số 14 - 5 ô chữ: Những câu thơ sau sử dụng nhiều từ loại đặc biệt
nào?
Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương
Hàng ngang số 15 - 5 ô chữ: Cảnh thề nguyền diễn ra với nhịp độ như thế nào?
Hàng ngang số 16 - 11 ô chữ: Hành động đốt hương, thắp nến tạo nên không khí
như thế nào cho cảnh thề nguyền?
Từ hàng dọc: Đó là cụm từ gồm 4 chữ - 16 ô - chỉ tình yêu đẹp, luôn được người
đời trân trọng.
C A N H T H Ê N G U Y Ê N
B U Ô I T Ô I
V Ô I V A N G
D Ở T I N H D Ơ M Ê
T I N H Y Ê U
L A M L Ê R Ư Ơ C V A O
T H U Y K I Ê U
T R Ă N G
M Ư N G R Ơ

I .Tiểu dẫn:
1. Khái niệm truyền thuyết :
2. Tóm tắt truyện ADV :
Hoạt động 2: Tìm hiểu giá trị II/ Đọc hiểu :
tác phẩm thông qua các nhân 1. An Dương Vương :
vật.
2. Nhân vật Mị Châu:
Tìm hiểu nhân vật Mị Châu. - Mị Châu đã: lén đưa cho Trọng Thủy xem nỏ
Trong truyện, nhân vật Mị
thần, rắc lông ngỗng trên đường chạy trốn.
Châu có những hành động
- Qua hành động ấy, cho thấy Mị Châu là người
nào? Điều gì thôi thúc nhân
cả tin, ngây thơ đến mức khờ khạo, yêu mù
vật hành động như vậy?
quáng:
+ Tự ý cho Trọng Thủy biết bí mật quốc gia,
Thông qua những hành động xem nỏ thần→ Tự tiện sử dụng bí mật quốc gia
ấy em có nhận xét như thế nào cho tình riêng, khiến bảo vật giữ nước bị đánh
về tính cách nhân vật?
tráo mà hồn tồn ko biết.
+ Mất cảnh giác trước những lời chia tay đầy ẩn
ý của Trọng Thủy, không hiểu được những ẩn ý
Tích hợp (4 phút)
trong lời từ biệt của Trọng Thủy: chiến tranh sẽ
Từ hình tượng nhân vật Mị
xảy ra.
Châu, em có suy nghĩ gì về
+ Đánh dấu đường cho Trọng Thủy lần theo: lại
vai trò của lí trí trong tình

chữa.
Ví dụ: Trao thân rồi bị phụ bạc, tin
tưởng dẫn đến bị lừa bắt đi bán, bị

21


lừa chiếm đoạt tài sản…

=> Bài học cảnh giác, bài học
xử lí đúng các mối quan hệ
riêng - chung, tình cảm- lí trí
Củng cố :
Dặn dò:
Rút kinh nghiệm:
Tiết 51
TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ
A. Mục tiêu bài học: Ngoài những mục tiêu cần đạt theo chuẩn kiến thức - kĩ
năng, còn giúp học sinh:
- Thông qua các vấn đề được trình bày mà có nhận thức đúng đắn trước các vấn
đề của cuộc sống, rèn luyện kĩ năng xử lí những khó khăn trong cuộc sống trong đó
có vấn đề tình yêu tuổi học trò.
B. Phương tiện thực hiện: - SGV,SGK, máy chiếu
- Thiết kế bài học.
C. Phương pháp::
- GV tổ chức giờ dạy học theo cách kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận
nhóm, thực hành, trực quan, ....
D. Tiến trình dạy học:
- Kiểm tra bài cũ:
- Giới thiệu bài mới:

Thực hiện trình bày vấn đề trước hoặc thích một ai đó.
lớp (mỗi nhóm 4 phút)
- Những tác động tích cực và hạn chế, hệ lụy
Giáo viên nhận xét bài phát biểu. xảy ra trong tình yêu mà các em gặp phải.
(Trình chiếu powpoint một số
- Một số biện pháp để hạn chế hệ lụy trong
22


thông tin và hình ảnh về tình yêu
tình yêu đầu đời.
tuổi học trò, kể một vài mẫu
3. Kết thúc vấn đề.
chuyện ngắn về tinh yêu học tròTóm tắt, nhấn mạnh một số ý chính.
khoảng 4 phút)
Cảm ơn người nghe.
=> Kết luận: tình yêu ở độ tuổi
nào cũng không thể lường trước
được những hậu quả của nó, đặc
biệt là tuổi vị thành niên, khi các
em đang còn bồng bột, thiếu chín
chắn, khi chuyện tình cảm không
như mong muốn rất dề dẫn đến
những suy nghĩ tiêu cực và hành
động một cách mù quáng dẫn đến
những hậu quả vô cùng đáng tiếc.
Củng cố:
Dặn dò:
Một số hình ảnh sẽ sử dụng trong bài.


tăng lên nhiều và cũng thông qua các cuộc trò chuyện này mà nhiều điều khó nói,
nhiều câu chuyện phức tạp trong tình yêu tuổi học trò đã được giải quyết.
Những năm gần đây, nhận thức của học sinh về vấn đề giới tính cũng được nâng
cao nên khi gặp chuyện tình yêu tan vỡ, các biểu hiện trầm cảm, bỏ học hoặc tự
hành hạ bản thân cũng giảm bớt. Các vụ bạo lực học đường liên quan đến ghen
tuông trong tình yêu học trò cũng giảm bớt, mâu thuẫn trong tình yêu cũng được
hạn chế. Hiện tượng học sinh nghỉ học, bỏ học để lập gia đình cũng được giảm bớt.
Những học sinh lớp 12 tôi đang dạy hiện nay, không còn coi vấn đề có người yêu
cho bằng bạn bằng bè là quan trọng. Các em xác định nhiệm vụ quan trong trước
mắt là tập trung ôn tập và học nghề, học đại học, tìm việc làm cho bản thân là yếu
tố quan trọng hàng đầu.
2.5.2. Hiệu quả đối với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Với bản thân, sáng kiến này là một cơ hội để tôi thực hiện việc đổi mới trong dạy
học, là cơ hội được tìm hiểu sâu hơn về một phương diện khác của bộ môn Ngữ
Văn. Giúp bản thân tôi nâng cao tính ứng dụng của môn học vào thực tiễn cuộc
sống của học sinh, đó cũng chính là một giải pháp giúp tôi nâng cao chất lượng dạy
- học. Sáng kiến cũng là cơ hội để tôi tìm hiểu sâu hơn về đời sống tình cảm của
học trò, giúp tôi thấu hiểu các em hơn, mối quan hệ cô - trò trở nên gần gũi hơn.
Sáng kiến là một trong những giải pháp giúp tôi thực hiện tốt hơn công tác giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh. Sáng kiến này còn là cơ hội để giúp tôi nâng cao
trình độ nghiên cứu khoa học ứng dụng trong hoạt động sư phạm của bản thân.
Đối với đồng nghiệp, sáng kiến đóng góp thêm kinh nghiệm trong phương pháp
dạy học và nâng cao tính thực tiễn của môn học. Là tài liệu tham khảo để đồng
nghiệp có thể tổ chức tốt các hình thức sinh hoạt ngoại khóa cho học sinh. Là một
trong những giải pháp giúp các đồng nghiệp cùng tổ nâng cao hứng thú của học
sinh với môn học, nâng cao chất lượng của bộ môn Ngữ Văn.
Đối với nhà trường, sáng kiến góp phần đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh, cũng là góp phần nâng cao chất lương giáo dục
chung của nhà trường. Đồng thời, sáng kiến góp phần thúc đẩy công tác nghiên
cứu khoa học ứng dụng trong nhà trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status