SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN
ĐỀ TRONG GIỜ ĐỌC- HIỂU
VĂN BẢN VĂN HỌC, CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn Ngữ Văn ở trường THPT nói chung, ở chương trình Ngữ Văn 12
nói riêng là sự tích hợp ba phân môn: Đọc Văn, Tiếng Việt và Làm Văn.
Mỗi phân môn có vai trò, nhiệm vụ và vị trí khác nhau trong việc trang bị tri
thức khoa học, rèn luyện kỹ năng và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, thái độ
cho học sinh. Trong đó, phân môn Đọc Văn, nhất là các giờ đọc- hiểu Văn
bản văn học (VBVH) có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc bồi dưỡng tâm
hồn, tình cảm và năng lực thẩm mỹ cho học sinh. Ở một mức độ nhất định,
các giờ đoc- hiểu VBVH khơi gợi được nhiều hứng thú cho giáo viên và học
sinh trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học. Sự yêu thích môn Ngữ
Văn phần lớn cũng bắt nguồn từ niềm say mê các giờ Đọc-hiểu này. Tuy thế,
trong một số năm gần đây, không khí và hiệu quả dạy- học Ngữ Văn, bao
gồm cả dạy- học phân môn Đọc Văn và các giờ đọc- hiểu VBVH ở nhiều
Nhà trường thực sự không được như mong muốn của cả người dạy lẫn người
học. Không khí nhiều giờ đọc- hiểu trở nên tẻ nhạt, nặng nề, “thiếu lửa”.
để mở rộng, xoáy sâu vấn đề hoặc vận dụng, liên hệ VBVH vào thực tế xã
hội, thực tiễn đời sống lại càng khiêm tốn. Nói chung, việc sử dụng CHNVĐ
trong giờ đọc- hiểu VBVH ở đơn vị tôi công tác chưa đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ thực tế đó, với mong muốn làm cho học sinh chủ động,
tích cực hơn; làm cho giờ dạy –học đọc hiểu VBVH sôi nổi, hào hứng và
phát huy tốt hơn ưu thế của loại giờ học này nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy học môn Ngữ Văn, tôi đã tích cực sử dụng CHNVĐ trong giờ
đọc- hiểu VBVH và nhận thấy đây là hướng đi rất khả quan.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Quan niệm về văn bản văn học
VBVH là văn bản nghệ thuật được sáng tạo bằng ngôn từ. Ngoài
những đặc điểm chung của văn bản, VBVH có các đặc điểm riêng. Ngôn từ
của VBVH được lựa chọn, tổ chức ổn định, chặt chẽ, không thể thay đổi;
ngôn từ mang tính đa nghĩa, giàu sức gợi. Hình tượng trong VBVH được tạo
nên bởi nghĩa của câu, của từ, của đoạn và là sản phẩm của trí tưởng tưởng,
không bị giới hạn bởi không thời gian và các hiện tượng của thực tại bên
ngoài. VBVH có nghĩa và ý nghĩa. Nghĩa của VBVH có tính chất đặc thù
của loại hình văn bản nghệ thuật. Ý nghĩa của VBVH nảy sinh trong các
quan hệ ngữ cảnh khác nhau tùy theo quan hệ với người viết, người đọc.
VBVH thể hiện cá tính sáng tạo của người viết ở cách nhìn, cách cảm, cách
diễn đạt hiện thực đời sống.
1.2. Quan niệm về đọc- hiểu VBVH
Đọc- hiểu VBVH là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu về phương
pháp dạy- học Văn quan tâm như GS Phan Trọng Luận, TS Đỗ Ngọc Thống,
GS-TS Đỗ Thanh Hùng, GS-TS Trần Đình Sử,… Theo TS Đỗ Ngọc Thống,
“Đọc-hiểu văn bản bao gồm cả việc thông hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa
hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hính thức, biện pháp
nghệ thuật ngôn từ, cái thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết
và cả những giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật. Đọc văn theo tinh thần
văn bản văn học.
Trong dạy học Ngữ Văn nói chung, giờ đọc- hiểu VBVH nói riêng,
CHNVĐ có tác dụng to lớn. Nó phát huy tính tích cực, độc lập suy nghĩ, tính
chủ động tìm tòi, sáng tạo, kích thích hứng thú, say mê, lôi cuốn các em vào
quá trình tìm hiểu sâu, khám phá các tầng nghĩa bên trong, các điểm sáng
thẩm mỹ, thưởng thức cái hay, cái đẹp và trực tiếp tham gia vào quá trình
biến văn bản văn học thành tác phẩm văn học với sự sáng tạo của riêng
mình. Quan trọng hơn, các em được hình thành và rèn luyện khả năng tự tiếp
nhận, tự đánh giá, phân tích văn bản văn học theo quan điểm của riêng mình.
Ngoài ra, nó còn có tác dụng thôi thúc các em tìm hiểu thêm nhiều tư liệu
lên quan đến văn bản được học. Nói chung, việc sử dụng hiệu quả CHNVĐ
của giáo viên sẽ làm phát triển năng lực cảm thụ, tiếp nhận văn học của học
sinh và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ Văn ở nhà trường phổ
thông.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1. Các nguồn CHNVĐ giáo viên có thể khai thác, sử dụng trong
giờ đọc- hiểu VBVH
Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn, lấy học sinh
làm trung tâm, giờ đọc- hiểu VBVH phải hướng đến mục tiêu làm cho học
sinh chủ động và tích cực, sáng tạo trong việc nhận thức, chiếm lĩnh nội
dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của VBVH thông qua vai trò hướng đạo
của giáo viên. CHNVĐ là một cách hướng đạo. Vậy giáo viên có thể khai
thác, sử dụng CHNVĐ trong giờ đọc- hiểu VBVH từ những nguồn nào?
Trong thực tế, chúng ta có nhiều nguồn khác nhau để khai thác, sử dụng
CHNVĐ. Sách giáo khoa (SGK)và các tư liệu tham khảo liên quan là những
nguồn khá gần gũi với giáo viên.
Với nguồn là SGK, giáo viên có thể sử dụng nguyên si những câu hỏi
sẵn có trong phần hướng dẫn học bài hoặc xử lý những CHNVĐ của phần
hướng dẫn học bài bằng cách cụ thể hóa và điều chỉnh yêu cầu của các câu
Tương tự, để học sinh trả lời câu hỏi “Anh/chị cảm nhận được ý nghĩa
gì của truyện ngắn qua nhan đề tác phẩm, đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu
dưới tầm đại bác, hình ảnh những ngọn đồi, cánh rừng xà nu trải ra hút tầm
mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm” (Hướng
dẫn học bài- văn bản Rừng xà nu, tác giả Nguyễn Trung Thành), giáo viên
phải sử dụng hệ thống CHNVĐ để dẫn dắt các em tìm hiểu về hình tượng xà
nu trong văn bản từ mật độ xuất hiện, đặc điểm sinh học của loại cây này
đến ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng của xà nu qua cách miêu tả chiếu ứng giữa cây
và người,
Ngoài những CHNVĐ có sẵn trong SGK Ngữ Văn, giáo viên có thể
sử dụng những CHNVĐ do bản thân thiết kế, tự xây dựng bằng kinh
nghiệm giảng dạy, vốn kiến thức văn học, đời sống, xã hội hoặc dựa vào tư
liệu tham khảo các loại.
2.2. Các dạng câu hỏi nêu vấn đề tiêu biểu có thể sử dụng trong
trong giờ đọc- hiểu VBVH
Việc sử dụng nhiều loại câu hỏi (câu hỏi tái hiện kiến thức, CHNVĐ)
và nhiều dạng câu hỏi khác nhau là điều tất yếu trong quá trình thiết kế và tổ
chức giờ đọc- hiểu của người giáo viên. Việc làm này chẳng những đem lại
không khí sinh động cho giờ học mà còn làm cho quá trình đọc- hiểu VBVH
đạt hiệu quả cao bởi các vấn đề liên quan sẽ được xem xét, nhìn nhận, phân
tích, đánh giá toàn diện hơn, sâu sắc hơn. Đối với CHNVĐ, chúng tôi
thường sử dụng 2 dạng tiêu biểu là: Câu hỏi “vì sao” và câu hỏi “như thế
nào?”.
a) Dạng câu hỏi “Vì sao?”
Dạng câu hỏi này yêu cầu học sinh giải thích, tìm hiểu nguyên nhân,
từ đó tìm ra bản chất của vấn đề. Đây là dạng câu hỏi khá khó vì để trả lời,
học sinh phải nắm thật chắc vấn đề đang tìm hiểu. Ngoài ra, các em phải có
vốn kiến thức sâu, rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau; có tư duy lôgic và đôi
khi phải có cả sự nhạy cảm văn học nhất định. Với dạng câu hỏi này học
giờ học bị ảnh hưởng,…
b) Dạng câu hỏi “như thế nào?”
Đây là dạng câu hỏi yêu cầu học sinh nêu cảm nhận, quan niệm, suy
nghĩ, nhận thức, hiểu biết, ý kiến cá nhân về VBVH được đọc- hiểu. Đối với
các giờ đọc hiểu VBVH, do đặc thù của môn Ngữ Văn, do đặc điểm riêng có
của các văn bản nghệ thuật nên giáo viên cần sử dụng triệt để dạng câu hỏi
này để tạo điều kiện cho học sinh thể hiện cảm nhận, suy nghĩ của riêng
mình. Cùng với câu hỏi Vì sao, câu hỏi yêu cầu học sinh nêu ý kiến cá nhân
về VBVH được đọc- hiểu cũng là dạng câu hỏi mở có tác dụng thiết thực đối
với giờ đọc- hiểu VBVH. Trong thực tiễn tổ chức các giờ đọc- hiểu VBVH,
chúng tôi thường xuyên sử dụng dạng câu hỏi này theo hai hướng sau:
* Giáo viên yêu cầu học sinh nêu quan niệm cá nhân xuất phát từ bản
thân VBVH được đọc- hiểu. Cụ thể là giáo viên sẽ thiết kế và sử dụng những
câu hỏi để học sinh được bày tỏ ý kiến của mình về tất cả các yếu tố thuộc
nội dung và hình thức nghệ thuật của VBVH được đọc- hiểu. Dạng câu hỏi
này có thể được sử dụng thường xuyên trong giờ đọc- hiểu, với hầu hết các
VBVH khác nhau.
- Ví dụ: Nêu cảm nhận của em khi đọc đoạn thơ “Những đường Việt
Bắc của ta/ Đêm đêm rầm rập như là đất rung/ Quân đi điệp diệp trùng
trùng/ Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan/ dân công đó đuộc từng đoàn/
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” (Việt Bắc- Tố Hữu).
- Cảm nhận của em về hình tượng Cây xà nu dưới ngòi bút miêu tả
của nhà văn Nguyễn Trung Thành?
- Ấn tượng sâu sắc nhất của em nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu”?
* Giáo viên yêu cầu học sinh nêu quan điểm cá nhân xuất phát từ
những ý kiến thuận chiều hoặc ngược chiều về VBVH được đọc- hiểu.
VBVH có tính đa nghĩa. Việc tiếp nhận VBVH phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố như tuổi tác, giới tính, vốn văn hóa, kinh nghiệm sống, trình độ học vấn,
tầm đón nhận của người đọc,… Điều đó giải thích vì sao cùng một câu thơ,
cùng một VBVH nhưng có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau,
hiểu chung về xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của đoạn trích hoặc văn bản; phân
tích đoạn trích hoặc văn bản trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh khác
nhau như bố cục, nhan đề, tình huống truyện, các nhân vật, các nội dung
chính; rút ra chủ đề, tổng kết đánh giá chung về VBVH. Ở mỗi giai đoạn
khác nhau của tiến trình đọc- hiểu, giáo viên đều có thể sử dụng các dạng
CHNVĐ cho từng bài cụ thể.
a) Sử dụng CHNVĐ cho phần tìm hiểu về xuất xứ, hoàn cảnh ra
đời của VBVH hoặc đoạn trích
Với phần xuất xứ và hoàn cảnh ra đời của VBVH hoặc đoạn trích,
giáo viên thường có xu hướng sử dụng câu hỏi tái hiện và học sinh chủ yếu
dựa vào sách giáo khoa để giới thiệu. Tuy nhiên có những trích đoạn, những
văn bản mà tự thân hoàn cảnh ra đời và xuất xứ của nó đã chứa đựng rất
nhiều ý nghĩa, hoặc có giá trị gợi mở đối với việc tìm hiểu, khám phá về nội
dung, tư tưởng của toàn văn bản. Đối với những trường hợp này, việc sử
dụng câu hỏi nêu vấn đề không chỉ cần thiết mà còn rất hữu ích.
Chẳng hạn, với bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, truyện ngắn Rừng
Xà nu của Nguyễn Trung Thành, CHNVĐ về bối cảnh lịch sử- xã hội khi tác
phẩm ra đời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc gợi mở và lý giải cảm hứng
lãng mạn bi tráng, khuynh hướng sử thi của tác phẩm. Với trích đoạn Đất
nước của Nguyễn Khoa Điềm, CHNVĐ về vị trí đoạn trích sẽ góp phần khắc
sâu nội dung tư tưởng và giá trị của toàn bộ trường ca Mặt đường khát vọng.
Tương tự như thế, chúng ta có thể đặt câu hỏi nêu vấn đề cho hoàn cảnh ra
đời của văn bản văn học Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân để học
sinh hiểu sâu thêm cảm hứng ca ngợi con người lao động trong tác phẩm
này; đặt CHNVĐ cho hoàn cảnh ra đời của Chiếc thuyền ngoài xa để củng
cố thêm kiến thức về đặc điểm lịch sử, xu hướng nghệ thuật chung của văn
học sau 1975 và bước đầu định hướng về sự đổi mới của ngòi bút Nguyễn
Minh Châu,…
- Ví dụ: “Tây Tiến” được viết vào cuối năm 1948. Mốc thời gian đó
dựa trên những hiểu biết cơ bản về tác phẩm (Việt Bắc, Sóng, Đàn ghita của
Lor-ca, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, ). Việc phân chia bố cục VBVH trong
giờ đọc- hiểu là cần thiết vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình tìm hiểu
nội dung, nghệ thuật của VBVH. Do đó, chúng ta không nên bỏ qua bước
này. Câu hỏi sử dụng cho phần tìm hiểu về bố cục VBVH được đọc- hiểu
cũng rất đa dạng, phong phú, bao gồm cả hai dạng CHNVĐ mà chúng tôi đã
trình bày ở trên.
- Ví dụ: Theo em, bài thơ “Sóng” có thể được chia thành mấy đoạn
thơ? Mỗi đoạn thơ thể hiện nội dung cơ bản nào? (Sóng của Xuân Quỳnh)
Dự kiến trả lời: Có thể chia bài thơ thành 03 đoạn: Hình tượng sóng-
02 khổ thơ đầu, sóng- em và tình yêu- 05 khổ tiếp theo, khát vọng tình yêu
muôn thuở- 02 khổ thơ cuối
- Về bố cục bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca”, có ý kiến cho rằng nên
chia bài thơ thành hai đoạn: Lor-ca trong bối cảnh lịch sử- xã hội và văn
học Tây Ban Nha (06 dòng thơ đầu); Lor-ca tài năng và số phận bi thảm
(Đoạn còn lại). Ý kiến của em như thế nào?
Dự kiến trả lời: Lor-ca là hình tượng trung tâm của bài thơ, việc chia
bố cục theo hình tượng này là hợp lý. Nhưng nên chia bài thơ thành 04 đoạn
để làm rõ những khía cạnh khác nhau của hình tượng Lor-ca cũng như cảm
xúc của chủ thể trữ tình trong bài. Cụ thể: Lor-ca đơn độc trong hành trình
cách tâm nghệ thuật- 06 dòng thơ đầu; Lor-ca với số phận bi tráng- 12 dòng
tiếp theo; Lor-ca với sự nghiệp cách tân nghệ thuật còn dang dở- 04 dòng
thơ tiếp theo; suy tư của nhà thơ về sự ra đi của Lor-ca- 04 dòng kết.
- Vì sao có thể chia văn bản “Vợ chồng A Phủ” thành các đoạn:
Đoạn 1 : Từ đầu đến “Mị đành trở lại nhà Thống lý” (tr. 06);
Đoạn 2: Tiếp theo đến “Vì thế mà sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài”
(tr. 13);
Đoạn 3: Còn lại.
Dự kiến trả lời: Việc chia thành 3 đoạn như trên là căn cứ vào diễn
khát thê thảm, người đàn bà vì mong có miếng ăn để tồn tại qua đận đói khát
mà theo Tràng về làm vợ. Cái đói và miếng ăn đã làm cho con người mất cả
lòng tự trọng, số phận con người bị rẻ rúng tột cùng. Nhan đề làm sâu sắc
thêm giá trị nhân đạo của tác phẩm ở ý nghĩa tố cáo tội ác của bọn thực dân-
phong kiến, đề cao vẻ đẹp tâm hồn và khát vọng hạnh phúc của người lao
động.
- Trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng
được tình huống truyện như thế nào? Tình huống thể hiện quan niệm gì của
nhà văn về cuộc sống, về cách nhìn nhận cuộc sống của mỗi người cũng như
của các nghệ sĩ?
Dự kiến trả lời: Nghệ sĩ Phùng trong chuyến đi thực tế đã được chiêm
ngưỡng và thu vào ống kính của mình một khung cảnh tuyệt mĩ về chiếc
thuyền lưới vó trong sương sớm khi nó ở ngoài khơi xa. Nhưng khi chiếc
thuyền đến gần thì chính Phùng đã tận mặt nhìn thấy khung cảnh trái ngược
hoàn toàn với vẻ đẹp mình vừa phát hiện. Nhưng đó là hiện thực cuộc sống
mà dù không muốn, chúng ta cũng không thể chối bỏ. Phùng đã khám phá
hiện thực ấy qua câu chuyện với người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện và
nhận ra nhiều điều mới mẻ về cuộc đời. Qua tình huống này, tác giả muốn
nhắn gửi thông điệp: Chúng ta không nên nhìn cuộc đời một cách đơn giản,
phiến diện. Cuộc sống vốn đa diện, phức tạp, thậm chí đầy mâu thuẫn. Con
người phải đứng trong nó để trải nghiệm và trưởng thành hơn. Người nghệ sĩ
càng cần phải như thế.
- Trình bày hiểu biết của em về tình huống truyện trong VBVH
“Những đứa con trong gia đình”. Giá trị nghệ thuật của tình huống đó?
Dự kiến trả lời: Trong một trận chiến đấu, nhân vật chính của tác
phẩm là Việt đã bị thương và lạc đồng đội. Việt đã ngất đi, tỉnh lại nhiều lần
và mỗi lần như thế những hồi ức về gia đình, người thân và đoạn đời đã qua
lại hiện về trong tâm trí Việt. Với tình huống này, câu chuyện về Những đứa
con trong gia đình được kể từ điểm nhìn của nhân vật Việt một cách chân
thực, sinh động. Những mảnh đoạn ký ức tưởng như rời rạc, đứt đoạn đã
(Tây Tiến- Quang Dũng)
Dự kiến trả lời: Sự phối hợp hài hòa các thanh trắc, thanh bằng trong
đoạn thơ đầu của bài thơ đã góp phần khắc họa một thiên nhiên miền Tây
hùng vĩ, hoang sơ, bí hiểm nhưng không kém phần thơ mộng; một cuộc
sống, chiến đấu gian khổ, khốc liệt nhưng đầy thi vị của người lính Tây Tiến
- Cảm nhận của em về âm hưởng những dòng “li-la li- la li- la” trong
bài thơ “Đàn ghita của Lorca.,…
Dự kiến trả lời: Những dòng “li-la li- la li- la” trong bài thơ đầy sức
ám ảnh và gợi nhiều liên tưởng. Nó như bản độc tấu ghi ta ngân dài, như lời
ca về sự bất tử của Lor-ca trong lòng các thế hệ bạn đọc toàn thế giới.
- Cấp độ từ ngữ, hình ảnh, chi tiết:
Từ ngữ, hình ảnh, chi tiết là linh hồn của hình tượng nghệ thuật trong
VBVH. Chính nghĩa và ý nghĩa của các yếu tố này làm nên một hiện thực
đời sống chân thực và sinh động trong các VBVH. Thông qua hình tượng
nghệ thuật, người nghệ sĩ gửi gắm và truyền tải đến người đọc các thông
điệp đầy ý nghĩa về cuộc sống. Với bất kỳ VBVH nào, giáo viên cũng có thể
sử dụng CHNVĐ để định hướng cho học sinh khám phá các yếu tố nghệ
thuật này. Chúng ta có thể liệt kê một loạt các từ ngữ, hình ảnh, chi tiết cần
được khám phá trong các VBVH chương trình Ngữ Văn lớp 12. Hình ảnh
“cồn mây”, “ súng ngửi trời” , “ Quân xanh màu lá”, “Mắt trừng gửi mộng”,
“ Rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “Áo bào thay chiếu” trong Tây Tiến. Hình
ảnh “tiếng đàn bọt nước”, “áo choàng đỏ gắt”, “vầng trăng chếnh choáng”,
“yên ngựa mỏi mòn’, “ao choàng bê bết đỏ”, trong Đàn ghita của Lor- ca.
“Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có một cô
gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng
vậy, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”, “Mị cúi mặt không nghĩ
ngợi nữa, lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau
vẽ ra trước mắt, mỗi năm, mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại”, “Ở cái
buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa số một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc
- Cấp độ cú pháp:
Ngôn ngữ nghệ thuật thường cô đọng, hàm súc, lời ít ý nhiều, “ý tại
ngôn ngoại”, ngôn tận ý bất tận. Vì vậy, trong khi khám phá các giá trị của
VBVH, ngoài việc dùng CHNVĐ để tìm hiểu các cấp độ ngữ- nghĩa nêu
trên, có lúc chúng ta phải dùng CHNVĐ để cắt nghĩa, lý giải ý tứ của những
câu thơ cụ thể. Chẳng hạn câu thơ “Áo bào thay chiếu anh về đất/Sông Mã
gầm lên khúc độc hành”, “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy/ Hồn về Sầm nứa
chẳng về xuôi”(Tây Tiến), “Thương nhau chia củ sắn lùi/ bát cơm sẻ nửa,
chăn sui đắp cùng” (Việt Bắc), “Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu/ Mà
khi về đến quê mình thì bắt lên câu hát/ Người đến hát khi kéo thuyền vượt
thác/ Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” (Đất nước, Nguyễn Khoa
Điềm), “Đường chỉ tay đã đứt/dòng sông rộng vô cùng/Lor-ca bơi sang
ngang/ trên chiếc ghi ta màu bạc/chàng ném lá bùa cô gái Di-gan/vào xoáy
nước/chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt” (Đàn ghita của Lor-
ca, Thanh Thảo), Với một số văn bản khác, việc khai thác cấp độ ngữ pháp
có thể hướng vào nhịp điệu, các biện pháp tu từ pháp, cách tổ chức câu
thơ, Chẳng hạn, những câu văn dài trong Người lái đò sông Đà của
Nguyễn Tuân, những câu văn giàu chất thơ trong Ai đặt tên cho dòng sông
của Hoàng Phủ Ngọc Tường, những câu thơ không vần, không chấm, phẩy,
không viết hoa, không phân câu theo ngữ pháp truyền thồng trong Đàn ghita
của Lor- ca, tác giả Thanh Thảo, Theo đó, CHNVĐ cũng cần bám sát khía
cạnh này.
Ví dụ: Câu thơ “Áo bào thay chiếu anh về đất/Sông Mã gầm lên khúc
độc hành” đem lại cho em ấn tượng gì về cái chết của người lính Tây Tiến
cũng như cảm hứng chủ đạo của bài thơ? (Tấy Tiến- Quang Dũng)
Dự kiến trả lời: Người lính Tây Tiến nằm xuống không manh chiếu bó
thân. Nhưng cái chết ấy thật bi tráng với “áo bào thay chiếu”, với “khúc độc
hành” trầm hùng của dòng sông Mã. Câu thơ góp phần làm nên cảm hứng
bài Đàn ghita của Lor-ca, Thanh Thảo, Lối kết cấu phá vỡ trục thời gian
tuyến tính trong Vợ chồng A Phủ, Vợ Nhặt, Những đứa con trong gia đình;
sự đột biến cấu trúc khổ thơ trong bài Sóng; nghệ thuật so sánh được sử
dụng điêu luyện trong Ai đã đặt tên cho dòng sông, đều là những điểm
sáng thẩm mỹ mà giáo viên có thể hướng dẫn học sinh khám phá bằng các
CHNVĐ.
Chẳng hạn: Hình ảnh ô cửa sổ bằng bàn tay trong căn buồng của Mị
ở nhà Thống lý Pá Tra đem lại cho em cảm nhận gì? (Vợ chồng A Phủ, Tô
Hoài)
Dự kiến trả lời: Ô cửa sổ bằng bàn tay trong căn buồng của Mị là kênh
duy nhất nối Mị với thế giời bên ngoài khi cô đã hoàn thành công việc như
một cỗ máy lao động. Nhưng khi nhìn qua ô cửa đó Mị “chỉ thấy trăng trắng,
không biết là sương hay là nắng”. Ô cửa gợi người ta liên tưởng căn buồng
Mị ở như một thứ ngục thất tinh thần giam hãm cuộc đời, tuổi xuân của Mị.
Nó làm tăng thêm nỗi đau và số phận bi thảm của cô khi ở Hồng Ngài.
- Trong câu thơ “chàng ném lá bùa cô gái Di-gan/vào xoáy
nước/chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt”, em có ấn tượng đặc
biệt nhất về từ ngữ nào? Vì sao?
Dự kiến trả lời: Từ “ném” được tác giả lặp hai lần vừa diễn tả hành
động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt với tinh thần chủ động đi vào cõi vình
hằng của Lor-ca, vừa gợi âm hưởng bi hùng về sự ra đi của người nghệ sĩ
thiên tài.
- Theo quan sát của em, bài Sóng có khổ thơ nào được cấu trúc đặc
biệt? Sự đột biến về cấu trúc đó có tác dụng như thế nào?
Dự kiến trả lời: Trong bài Sóng, các khổ thơ đều được cấu trúc 4
dòng. Riêng khổ thơ thứ 5 lại gồm 6 dòng thơ. Sự đột biến đó làm nổi bật
mối quan hệ tương đồng của 2 hình tượng song hành là sóng và em. Với
cách kết cấu đó, nhà thơ diễn tả sâu sắc nỗi nhớ trong trái tim người con gái
đang yêu. Nỗi nhớ ấy da diết, cồn cào, không nguôi vợi như sóng nhớ bờ
nên không ngừng vỗ. Kết cấu đó đã đặt cái bất biến của tự nhiên “sóng nhớ
nghệ sĩ thiên tài luôn hết mình cho nghệ thuật, cho đất nước, quê hương
- Trước khi cắt dây trói cho A Phủ, Mị đã chuẩn bị tâm lý “phải trói
thay vào đấy, Mỵ phải chết trên cái cọc ấy” và “làm sao Mỵ cũng không
thấy sợ”. Nhưng khi đã cởi hết dây trói cho A phủ, A phủ chạy khỏi thì Mị
lại chạy theo. Phải chăng Mị mâu thuẫn với chính mình?
Dự kiến trả lời: Bề ngoài có vẻ Mị mâu thuẫn với chính mình nhưng
về bản chất, hành động đó của Mị là tất yếu. Ở thời điểm Mị nghĩ đến
chuyện phải chịu trói thay và phải chết nếu A Phủ trốn thoát thì chết mới chỉ
là khả năng có thể xảy ra. Nhưng khi Mị đã cởi trói cho A Phủ thì khả năng
chết dần chuyển thành hiện thực, cái chết gần Mị hơn bao giờ hết. Chính vì
thế, bản năng sống của một con người vốn có sức sống tiềm tàng tất trỗi dậy,
thúc đẩy Mị chạy theo A Phủ.
e) Sử dụng CHNVĐ cho phần rút ra chủ đề và kết luận chung về
VBVH hoặc ứng dụng, liên hệ VBVH với thực tiễn đời sống.
Hầu hết chủ đề của các VBVH hoặc những kết luận có tính chất tổng
kết về VBVH đều được rút ra từ quá trình tìm hiểu, khám phá văn bản một
cách khá đầy đủ và toàn diện. Vì thế, để xác định chủ đề và đưa ra kết luận
chung về một văn bản, chúng ta không thể sử dụng câu hỏi tái hiện kiến
thức. Giáo viên cần tung ra những CHNVĐ đòi hỏi khả năng tổng hợp, khái
quát cao của học sinh. Khác với phần tìm hiểu xuất xứ và hoàn cảnh sáng
tác, trong phần rút ra chủ đề và kết luận về VBVH, câu hỏi nêu vấn đề có thể
sử dụng với mọi giờ đọc- hiểu trong chương trình Ngữ Văn 12.
- Ví dụ: Về chủ đề đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng
Phủ Ngọc Tường, có người cho rằng đây là cảnh đẹp sông Hương, người
khác lại khẳng định đây là lòng yêu mến đến mê say dòng sông, đất nước.
Em hãy nêu ý kiến của riêng mình về vấn đề này.
Dự kiến trả lời: Qua việc khắc họa vẻ đẹp đa dạng độc đáo của sông
Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bộc lộ tình yêu, niềm tự hào đối với
dòng sông quê hương, với xứ Huế và trên hết là với Đất nước Việt Nam tươi
lượng học sinh xung phong phát biểu xây dựng bài cũng như số học sinh trả
lời được câu hỏi do giáo viên nêu ra ngày càng nhiều hơn. Một số em thì
thực sự thích học môn Ngữ Văn.
Qua hoạt động trả lời CHNVĐ do giáo viên đặt ra trong các giờ đọc-
hiểu VBVH, kiến thức về tác phẩm của nhiều học sinh được mở rộng, khắc
sâu. Nhờ thế, các em có vốn liếng văn học nhất định để làm tốt các bài nghị
luận văn học. Điểm số của các bài Làm văn cũng như điểm số môn Ngữ Văn
của các em được cải thiện đáng kể. Ở các lớp tôi phụ trách, tỷ lệ học sinh có
điểm kiểm tra học kỳ cũng như điểm tổng kết môn Văn trên trung bình đạt
từ 85% trở lên. Trong đó, điểm khá giỏi của bài kiểm tra học kỳ tăng từ
32,3% lên 46.7%, tỷ lệ khá giỏi trong điểm TB cả năm môn Văn tăng từ
21.6% lên 32.5%. Kết quả cụ thể như sau:
1. Năm học 2010- 2011 (Lớp: 12A1 và 12B6) Số lượng và tỷ lệ
điểm trên trung
bình trở lên
Trong đó, tỷ lệ
điểm khá, giỏi
Ghi chú
Bài KT học kỳ I 62/87 71.26% 20/62 (32.3%)
Tổng số học
sinh: 87
Bài KT học kỳ II 70/87 80.45% 26/70 (37.1%)
Điểm TBm HKI 72/87 82.75% 15/72 (20.8%)
Điểm TBm HKII 75/87 86.20% 17/75 (22.7%)
Đi
ểm TBm CN
học đang là một trong những mục tiêu quan trọng của đổi mới phương pháp
dạy - học hiện nay. Việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề để tích cực hóa hoạt
động nhận thức của học sinh trong giờ đọc- hiểu VBVH, chương trình Ngữ
Văn THPT nói chung, chương trình Ngữ Văn 12 nói riêng không nằm ngoài
mục tiêu chung đó.
Phát vấn là thao tác được sử dụng trong mọi phương pháp dạy học, từ
những phương pháp dạy học truyền thống đến các phương pháp dạy học
hiện đại. Hiệu quả của một giờ học phụ thuộc không nhỏ vào chất lượng hệ
thống câu hỏi hướng dẫn học bài của giáo viên. Vì thế, đề tài này tuy không
đặt ra vấn đề có tầm vĩ mô trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ
Văn nhưng hiệu quả, tính thiết thực, tính khả thi và phạm vi ứng dụng rộng
lớn của đề tài là điều không thể phủ nhận. Chính vì thế, đề tài có ý nghĩa tích
cực đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy - học phân môn Đọc Văn
nói riêng, môn Ngữ Văn nói chung. Tất nhiên, để sử dụng câu hỏi nêu vấn
đề trong giờ đọc- hiểu VBVH một cách hiệu quả, giáo viên cần phải chú ý
một số điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, phải đảm bảo mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa việc
tổ chức cho học sinh nắm vững nội dung, nghệ thuật của VBVH và hoạt
động trả lời câu hỏi trên lớp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của các
em.
Thứ hai, phải lựa chọn những CHNVĐ phù hợp với mục tiêu, nhiệm
vụ, nội dung bài học, tiết học, đối tượng học sinh và thời gian, điều kiện thực
tế cụ thể.
Thứ ba, sử dụng CHNVĐ gắn liền với việc đổi mới phương pháp và
hình thức tổ chức giờ đọc hiểu VBVH.
Thứ tư, sử dụng CHNVĐ gắn với đổi mới phương pháp kiểm tra,
đánh giá mức độ tiếp nhận văn bản của học sinh.
Tri thức khoa học và đời sống là vô tận, hiểu biết của học trò cũng
như của chính bản thân các giáo viên là hữu hạn. Không phải mọi điều