Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học việt nam - Pdf 14

Về khuôn mặt mới của Giáo dục Đại học
Việt Nam
Biên tập bởi:
Phạm Phụ
Về khuôn mặt mới của Giáo dục Đại học
Việt Nam
Biên tập bởi:
Phạm Phụ
Các tác giả:
GS. Phạm Phụ
Phiên bản trực tuyến:
http://voer.edu.vn/c/4c212f92
MỤC LỤC
1. Lời nói đầu
2. Lời giới thiệu
3. Các chữ viết tắt
4. Giáo dục đại học
4.1. 9 Đề nghị về giáo dục đại học, 1996
4.2. Các vấn đề tồn tại trong việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH - HĐH,
1997
4.3. Giáo dục đại học “đại trà” và sự “phân tầng”, 1998
4.4. Tấm áo mới cho mô hình ĐH quốc gia, 1998
4.5. Về quy mô và chất lượng các trường ĐH của Mỹ, 1998
4.6. Về thiết kế và tổ chức mạng lưới các trường đại học, 1999
4.7. Vài ý kiến tản mạn về giảng dạy ở đại học, 1999
4.8. Khuôn mặt mới của giáo dục đại học, 2000
4.9. Một vài ý kiến về “Các giải pháp tổ chức lại ĐH quốc gia”, 2000
4.10. Trắc nghiệm khách quan và đổi mới tuyển sinh ĐH, 2001
4.11. Về chất lượng nền giáo dục đại học, 2001
4.12. Dịch vụ GDĐH là một loại hàng hoá đặc biệt, 2001
4.13. Về quy mô và chất lượng GDĐH Việt Nam, 2002

4.39. Khoa học, công nghệ và hoạt động nghiên cứu trong đại học, 2005
4.40. 7 chính sách tài chính cho giáo dục đại học, 2005
5. Liên quan và Hỗ trợ
5.1. Quản lý và thủ tục “ra-quyết-định đa tiêu chí”, 1991
5.2. Về việc đào tạo “thạc sĩ quản trị kinh doanh”, 1992
5.3. Một vài ý kiến về tổ chức Tổng công ty, 1998
5.4. Các quan chức ở Nhật được tuyển chọn như thế nào?, 2000
5.5. Giá trị thặng dư và vấn đề bóc lột ở Việt Nam, 2001
5.6. Kiến thức đơn thuần không cứu vãn được chúng ta, 2003
5.7. "Ai là người làm chủ thực sự các doanh nghiệp Nhà nước?", 2003
5.8. Dự luật doanh nghiệp Nhà nước dưới góc nhìn của "tài chính doanh nghiệp",
2003
5.9. Nhà giáo nhân dân Phạm Phụ: Người thích đứng ở biên giới, 2004
5.10. 5 Đề nghị về việc lựa chọn các dự án quan trọng quốc gia, 2005
5.11. 5 Câu hỏi cho chuyện “tăng học phí”, 2005
5.12. Tăng học phí: Nhìn từ đại học mà chưa nhìn từ xã hội, 2005
Tham gia đóng góp
2/259
Lời nói đầu
Giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam sau giai đoạn trì trệ trong thập kỷ 80, bước sang
những năm 90 của thế kỷ trước đã có được một số phát triển khá ấn tượng. Về quy mô,
số lượng sinh viên (SV) đã tăng lên với tốc độ bình quân 18% năm trong giai đoạn từ
1991-2000 và hiện nay đã có con số khoảng 1,1 triệu. Về cơ cấu hệ thống, bên cạnh
hệ thống gồm 214 trường ĐH và cao đẳng (CĐ) công lập (2004), hiện nay đã có trên
30 trường ĐH và CĐ ngoài công lập, trên 10 ĐH và CĐ của nước ngoài và hàng trăm
chương trình liên kết đào tạo. Về nguồn lực tài chính, bên cạnh hệ thống ĐH ngoài công
lập, Nhà nước cũng đã có chính sách thu học phí ngay ở các trường ĐH công lập. Ngoài
ra, hiện nay cũng đã có khoảng 40.000 SV đang du học tự túc (kinh phí gia đình) ở nước
ngoài, ước tính chi phí gần 300 triệu Đôla hàng năm.
Tuy nhiên, những phát triển vừa qua đã diễn ra trong bối cảnh của nền kinh tế đang

Hiện nay, Nhà nước đang chuẩn bị “Đề án đổi mới GDĐH Việt Nam giai đoạn
2006-2020”. Chắc rằng, trong một vài năm đến sẽ có rất nhiều cuộc hội nghị, hội thảo,
tọa đàm… để những “nhóm có lợi ích liên quan” (lãnh đạo ở địa phương, các trường
ĐH, thầy cô giáo, phụ huynh, SV, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các nhà
tài trợ, các nhà đầu tư…) tham gia vào quá trình lựa chọn chính sách và thực hiện chiến
lược dài hạn này. Và do vậy, hy vọng rằng tập sách nhỏ này cũng có thể có ích chẳng
những cho những người trực tiếp liên quan đến GDĐH mà còn cho rộng rãi công chúng
có quan tâm đến GDĐH.
Các bài viết luôn gắn với những vấn đề đang có nhiều ý kiến khác nhau của GDĐH Việt
Nam trong khoảng 10 năm qua. Vì vậy, để thuận lợi cho độc giả trong việc theo dõi các
diễn biến, các bài viết được bố trí theo tuần tự thời gian. Tuy vậy, ở phần mục lục cũng
có hệ thống các bài viết theo từng nhóm chủ đề để thuận tiện cho các độc giả muốn tham
khảo theo vấn đề.
Các bài viết thể hiện nhận thức và cách nhìn riêng của tác giả. Tác giả vốn lại là một kỹ
sư, một nhà giáo có ít nhiều tự nghiên cứu về GDĐH chứ không là một người chuyên
nghiên cứu theo các dự án về GD. Do vậy, có thể có một số sai sót nào đó trong thông
tin, trong dữ liệu thống kê cũng như trong cách nhìn còn có phần hạn chế của mình.
Kính mong quý độc giả chỉ bảo và góp ý cho. (Địa chỉ liên lạc: Chương trình MSM,
trường Đại học Bách khoa, 268 Lý Thường Kiệt, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam;
E-mail: [email protected] ).
Tp. HCM 20/11/2005
4/259
Lời giới thiệu
Tôi rất mừng được đọc cuốn Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt Nam gồm 52
bài báo, trả lời phỏng vấn hoặc kiến nghị do GS. Phạm Phụ viết từ 1996 tới 2005, trong
đó có 40 bài trực tiếp nghiên cứu về giáo dục đại học và 12 bài bàn về những vấn đề
kinh tế chính trị xã hội rộng hơn nhưng cũng giúp soi sáng cho việc tìm hiểu giáo dục
đại học.
Các bài nói trên đề cập đến hầu hết các vấn đề thời sự vừa nóng bỏng vừa cơ bản của
giáo dục đại học Việt Nam. Qua mỗi bài, người đọc đều thấy rõ sự nghiên cứu công phu

khác với mình.
Tôi mong, cũng như GS. Phạm Phụ mong là các độc giả của cuốn sách này – kể cả
những cơ quan có trách nhiệm về giáo dục ở nước ta – sẽ tham gia tích cực hơn vào cuộc
tranh luận đang diễn ra về “quốc sách hàng đầu” ở nước ta. Trên tinh thần đó, tôi xin
được trân trọng giới thiệu với tất cả những ai quan tâm tới nền GDĐH Việt Nam cuốn
sách phong phú và nghiêm túc của GS. Phạm Phụ.
Hà Nội, Tháng 10 năm 2005
Lê Văn Giạng, Nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
“Về khuôn mặt mới của Giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam” là tập hợp các bài viết của
GS. Phạm Phụ trong gần 10 năm qua. 10 năm qua là giai đoạn đầu của công cuộc đổi
mới cơ bản GDĐH ở Việt Nam và cũng là thời kỳ có nhiều thay đổi trong triết lý GDĐH
trên thế giới. Trong bối cảnh đó, phải có tư duy mới và đương nhiên cũng phải có những
dòng ý kiến khác nhau. Do vậy, phát biểu ý kiến riêng trong giai đoạn này luôn có “rủi
ro”. Trước hết, rất mừng là GS Phạm Phụ đã không tránh né các “rủi ro” đó.
Trước khi nhận được bản thảo cuốn sách nầy, thực ra tôi đã đọc phần lớn các bài viết và
trả lời phỏng vấn báo chí của GS., đã được đăng tải trên các phương tiện truyền thông
- thông tin hoặc qua mail trực tiếp của GS. cho tôi. Và, trong các cuộc hội thảo về giáo
dục, tôi cũng đã nhiều lần nói vui với những người tham dự: “Tôi và GS Phạm Phụ ít
khi gặp nhau, nhưng qua các bài viết của GS., tôi cảm thấy chúng tôi như đã biết nhau
và hiểu nhau từ thời tiền kiếp vậy”.
Sau nữa, phải nói rằng, mặc dù là một người vốn chuyên về khoa học - kỹ thuật, nhưng
GS Phạm Phụ đã nắm khá chắc về các xu thế, các kinh nghiệm của GDĐH trên thế giới
cũng như thực tiễn của Việt Nam. Từ đó, GS. đã có nhiều đề xuất khá xác đáng và hợp
lý. Tôi đặc biệt cổ vũ GS Phạm Phụ trong việc đi sâu vào các mặt về quản lý và kinh tế
– tài chính của GDĐH. Có thể nói, đây là những mảng đang còn khá trống vắng trong
thiết kế chính sách GDĐH ở Việt Nam và cũng là mảng mà tôi có ước vọng nghiên cứu
nhưng chưa có điều kiện thực hiện do có những khó khăn cả về mặt khách quan lẫn chủ
quan.
Hy vọng rằng, cuốn sách này sẽ rất có ích chẳng những cho các nhà lãnh đạo, nhà quản
lý, các thầy cô giáo mà còn cho đông đảo công chúng có liên quan và có quan tâm đến

ĐĐTM Đường đẳng sự thỏa mãn
ĐGCL Đánh giá chất lượng
ĐH Đại học
ĐH & CĐ Đại học & Cao đẳng
ĐHCĐ Đại học cộng đồng
ĐHĐC Đại học đại cương
ĐHQG Đại học quốc gia
ĐTNN Đào tạo nghề nghiệp
FDI Đầu tư trực tiếp của nước ngoài
GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
GCI Năng lực cạnh tranh tăng trưởng
GD Giáo dục
GDĐC Giáo dục đại cương
GDĐH Giáo dục đại học
GD-ĐT Giáo dục-Đào tạo
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GDTQ Giáo dục tổng quát
GS. Giáo sư
HĐBT Hội đồng bộ trưởng
HĐQGGD Hội đồng Quốc gia Giáo dục
HĐQT Hội đồng quản trị
HĐT Hội đồng trường
HH Hàng hóa
HRD Phát triển "tài nguyên con người"
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
KH&CN Khoa học và công nghệ
KT& KĐCL Khảo thí và kiểm định chất lượng
LN Lợi nhuận
8/259
LNGL Lợi nhuận giữ lại

SAT Kỳ thi đánh giá trình độ học vấn của Mỹ
SAV Chương trình Thụy sĩ - Viện cơng nghệ Chu - Việt nam
SDC Chương trình hợp tc pht triển của Thụy sĩ
SLĐ Sức lao động
SV Sinh viên
TCDN Tài chính doanh nghiệp
TCH Toàn cầu hóa
TCT Tổng công ty
TG Thầy giáo
THCN Trung học chuyên nghiệp
THPT Trung học phổ thông
TLSX Tư liệu sản xuất
TMH Thương mại hóa
TNKQ Trắc nghiệm khách quan
TNPT Tốt nghiệp phổ thông
TNTL Trắc nghiệm tự luận
TOR Đề cương tham chiếu
TSĐH Tuyển sinh đại học
TSLN Tỷ suất lợi nhuận
TTH Thị trường hóa
UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc
UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc
WB Ngân hàng thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
XHCN Xã hội chủ nghĩa
10/259
Giáo dục đại học
9 Đề nghị về giáo dục đại học, 1996
Các đề nghị sau đây chủ yếu liên quan đến GDĐH và chỉ giới hạn trong một số vấn đề
về khoa học – công nghệ có thể đang còn có nhiều ý kiến khác nhau, nhằm cung cấp

quân của 20% dân cư giàu nhất và 20% dân cư nghèo nhất). Sự phân tầng về số học sinh
tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở của hai lớp dân cư nói trên ước tính khoảng 3-5
lần. Nhưng sự phân tầng về số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và ĐH có lẽ đã
trên 20 lần.
Từ các phân tích trên:
Đề nghị 1: Trước mắt tập trung ưu tiên nguồn lực cho việc đào tạo lực lượng lao động
từ công nhân, trung học nghề cho đến ĐH, sau ĐH…. để nâng tỷ lệ này từ mức 10-12%
hiện có lên đến 24-25% vào năm 2000
Là con số đã nêu trong Báo cáo của Chính phủ và Bộ GD-ĐT
và giữ các chỉ số khác như ở mức hiện nay.
Đề nghị 2: “Xã hội hóa” GD ở mức: Sự phân tầng trong GD-ĐT phải ít hơn sự phân
tầng trong phát triển kinh tế, cả trong khu vực trung học phổ thông, trung học chuyên
nghiệp và ĐH, sau ĐH.
VỀ “TINH HOA VÀ ĐẠI CHÚNG”
Một nền GD-ĐT phục vụ phát triển như luôn phải bao gồm cả hai mặt có một mức độ
“đối lập” nhất định là: “tinh hoa” và “đại chúng” (hay “đại trà”). Ở Mỹ có gần 4.000
trường ĐH, cao đẳng thì có trên 1.400 trường ĐH, cao đẳng cộng đồng 2 năm. Chất
lượng, trình độ bằng cấp ĐH ở đấy chênh lệch nhau rất lớn (cả so với Châu Âu). Ở Nhật
có trên một nửa trong số trên 1.200 trường ĐH của họ là ĐH ngắn hạn từ 2-3 năm. Ở
Thái Lan, số SV dạng “ghi danh” ở ĐH mở có tỷ lệ khá cao. Ở Đức có hệ đào tạo “song
hành” (Duales System), Nhà nước “công nhận” bằng cấp do các xí nghiệp đào tạo và
cấp phát
Ở Đức khoảng một nửa thanh niên tuổi 15-18 học ở hệ này và do đó tỷ lệ thất nghiệp
của tuổi trẻ chỉ khoảng 7%, trong khi đó tỷ lệ này ở Pháp là 25%.
.
Ở nước ta, những “người có ảnh hưởng” thường có “tư chất tinh hoa” và điều kiện học
tập, trưởng thành thuận lợi hơn trung bình nhiều. Có lẽ vì vậy, những người này cũng
thường có xu thế thiên về “tinh hoa”. Ngược lại, đào tạo “đại trà” là hết sức cần thiết.
Nhưng cách nói: Chất lượng: “nằm trong hệ bằng cấp quốc gia” dễ gây ra sự hiểu lầm
về sự đồng nhất chất lượng của các cơ sở đào tạo. Trong khi đó, để phục vụ phát triển

Nhiều cố gắng vừa qua về vấn đề “tương đương bằng cấp” gần như không thành công.
.
Đề nghị 5: Trong các ĐH công lập cần ưu tiên đặc biệt cho 3 nhóm: a) Đào tạo tinh hoa
cán bộ lãnh đạo / quản lý cấp cao; b) Đào tạo tinh hoa một số ngành khoa học / công
nghệ lựa chọn; và c) Đào tạo một số ngành thuộc các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp,
thủy lợi, địa chất, v.v…
13/259
VẤN ĐỀ QUẢN LÝ GDĐH
Nhà nước cần thống nhất quản lý GD nói chung và GD-ĐH nói riêng. Tuy nhiên, đặc
điểm của GD-ĐH là chương trình rất đa dạng và nội dung, chất lượng chủ yếu phụ thuộc
vào những thầy cô giáo ở cơ sở nhà trường. Trong nền GD phục vụ phát triển, số lượng
SV, số lượng trường ĐH sẽ tăng lên nhiều, loại hình đào tạo lại cũng rất đa dạng và thực
tiễn cũng có nhiều cấp độ chất lượng như đã nói ở trên.
Ngoài ra, trong quản lý còn có vấn đề gọi là “phạm vi quản lý / kiểm soát có hiệu quả”
(span of control). Với những tổ chức quá lớn thì khó khăn là nếu chia ra nhiều cấp sẽ
làm “nát” cấu trúc của hệ thống, thông tin quản lý chậm chạp và quan liêu, nếu chia ra
ít cấp thì mỗi cấp có số đầu mối trực thuộc quá lớn không thể quản lý có hiệu quả.
Hiện nay bộ GD-ĐT đã có đến hàng trăm đầu mối quản lý (số trường ĐH, sở GD-ĐT và
các đơn vị trực thuộc). Vì vậy, sắp đến khó có thể tiếp tục quản lý như vừa qua và cần
phân cấp, ủy quyền, cần nâng cao hơn tính tự chủ của các cơ sở.
Từ các phân tích trên:
Đề nghị 6: Quản lý của Nhà nước / Bộ chỉ nên tập trung vào chiến lược và chính sách,
quy chế và tiêu chuẩn
Ví dụ: Tỷ lệ số thầy giáo cần có trên số SV.
, kiểm tra, thanh tra và giám định phân loại chất lượng đào tạo; từng bước để cho các
trường ĐH có tính tự chủ nhiều hơn và chịu trách nhiệm về những bằng cấp do họ cấp.
Đề nghị 7: Nên sắp xếp các trường ĐH có quy mô vừa phải, xét theo “quy mô kinh tế”
(economies of scale), khả năng quản lý và các mặt xã hội khác
Trong “GD ĐH về công nghệ cho các nước Châu Á ở thế kỷ 21”, các Nhà GD lớn
khuyên: Có lẽ trường ĐH không nên vượt quá quy mô 10,000 SV.

(Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức / quản lý (Orgaware).
2, là “áp dụng công nghệ để tạo nên sự giàu có", kể cả “quản lý công nghệ”, chứ chưa
phải là lúc để tập trung nguồn lực tinh hoa vào những vấn đề nghiên cứu cơ bản (tất
nhiên vẫn cần có một tỷ lệ nào đó cho một số vấn đề lựa chọn)
3 Nhưng vừa qua, một tỷ lê lớn số “tinh hoa” đã tập trung vào khu vực này.
3.
Đề nghị 9: Nhà nước cần thành lập một “hội đồng tư vấn về phát triển nhân lực và giáo
dục quốc gia” để giúp chính phủ không chỉ về mặt GDĐT mà còn là chính sách nhân
lực, thất nghiệp và việc làm v.v…
LỜI KẾT
Các đề nghị trên đây đã được trao đổi với một số nhà giáo, nhà quản lý nhưng có lẽ còn
khác với nhiều ý kiến hiện nay. Một số đề nghị chỉ mang tính định hướng để từng bước
chuyển đổi cơ chế đào tạo nhằm tương thích với thực tiễn trong 10-15 năm đến có thể
hình dung được
15/259
Các vấn đề tồn tại trong việc phát triển nguồn nhân lực
phục vụ CNH - HĐH, 1997
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC
Ngày nay vấn đề “phát triển tài nguyên con người” (Human Resources Development)
được thế giới cho là vấn đề quan trọng nhất trong phát triển. Nó vừa có tính chất “mục
đích” vừa có tính chất “phương tiện”. Phát triển để phục vụ cho chính con người và
nguồn nhân lực cũng là một yếu tố sản xuất có tính chất quyết định nhất để phát triển
kinh tế xã hội nói chung.
Giáo sư Lester C. T.
1) Trưởng khoa quản lý của MIT và là thành viên của Ủy ban Quốc gia về chính sách
nhân lực và Hội đồng các cố vấn kinh tế của Tổng thống Mỹ.
1)
có nói: Trong quá khứ để một cá nhân, một công ty, một quốc gia phát triển có kết
quả, để có thể cạnh tranh với “người hàng xóm” của mình, người ta dựa vào cả 4 yếu
tố: tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, kỹ thuật và nhân lực. Nhưng tình hình vừa qua

sau chiến tranh thế giới thứ 2 là nhờ Nhật Bản đã có một đội ngũ lao động đông đảo
(kể cả kỹ sư) có chất lượng cao và chi phí thấp.
Việt Nam hãy còn là một nước kém phát triển. Để phát triển, có lẽ Việt Nam cũng phải
dựa vào cả 4 yếu tố nói trên. Tuy nhiên, có thể cho rằng, khả năng xây dựng được một
đội ngũ lao động cân đối và có chất lượng là một lợi thế so sánh tương đối duy nhất của
Việt Nam. Con người Việt Nam có truyền thống hiếu học, thông minh và cần cù. Việt
Nam cũng đã hình thành được một hệ thống GD tương đối toàn diện và có tỷ lệ dân số
biết chữ cũng như mặt bằng dân trí tương đối khá 88% và 4,5 năm. Theo số liệu điều
tra năm 1989, ở nhóm lao động chính từ 15-34 tuổi, số năm trung bình được đào tạo là
9,5 năm. Có thể cho rằng, một số vấn đề còn bất cập trong hệ thống GDĐT và đội ngũ
lao động là những hệ lụy của thực trạng kinh tế chưa phát triển cũng như những thiếu
sót trong chính sách và tổ chức hơn là tiềm năng của chính nền GD của Việt Nam cũng
như con người Việt Nam. Việt Nam còn có một lực lượng người Việt ở nước ngoài khá
đông đảo mà mặt mạnh của họ là tiềm năng chất xám và cầu nối (không phải là nguồn
vốn).
Chính vì vậy, cấu tố con người (humanware)
3)Công nghệ được hiểu là gồm có 4 cấu tố: Technoware (máy móc), humanware (con
người), infoware (thông tin) và orgaware (tổ chức).
3)
Việt Nam phải chăng nên được xem là một cấu tố có thể tạo được một bước nhảy vọt
trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Một tờ báo Mỹ: ‘‘Tài nguyên con người
như là tất cả những gì Việt Nam đang có…’’ Gần đây Ngân hàng thế giới lại có nhận
xét: Tài nguyên của Việt Nam hạn chế, Việt Nam sẽ phát triển trên cơ sở nguồn nhân
lực hơn là những nguồn tài nguyên thiên nhiên… Do đó, các biện pháp về nguồn nhân
lực phải được xem là một vấn đề then chốt nhất trong chiến lược công nghiệp hoá và
hiện đại hóa ở nước ta.
THỰC TRẠNG, NHU CẦU VÀ CÁC VẤN ĐỀ TỒN TẠI
Hiện nay, nước ta có khoảng 35 triệu lao động. Về mặt cơ cấu, theo ước tính năm 1992
có khoảng 75,0% dân số từ 13 tuổi trở lên có tham gia vào các hoạt động kinh tế, 78%
dân số sống ở nông thôn, phụ nữ chiếm 51,5%, nhóm người có thu nhập thấp chiếm

giảm từ 155.760 ở năm 1980, và học sinh học nghề là 100.150 giảm từ 244.100 ở năm
1980.
Trong mấy năm gần đây, số SV ĐH đã tăng lên một cách đột ngột, đặc biệt là số SV ở
các trường ĐH mở (ước tính có trên dưới 50.000 SV trong năm học 1993-1994) và SV
đào tạo tại chức (tăng gấp 3 lần so với năm học 1987-1988 và có đến trên 89.000 người).
Thực trạng nói trên rõ ràng không đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngay cả trong giai đoạn khởi đầu hiện nay. Khi thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đương nhiên nhu cầu đòi hỏi còn cao hơn và phải có những dự
báo về nguồn nhân lực theo cả về số lượng, cơ cấu và trình độ. Đáng tiếc vấn đề này cho
18/259
đến nay vẫn còn chưa được thực hiện. Tuy nhiên, đối chiếu với những định hướng và dự
báo phát triển, theo phương thức nghiên cứu chẩn đoán (diagnosis) chúng ta có thể rút
ra những vấn đề tồn tại sau đây:
• Vấn đề mặt bằng dân trí: Như đã nói trên, mặt bằng dân trí (MBDT) hiện nay ở
nước ta chỉ khoảng 4,5 năm. Trong khi đó, MBDT của Malaysia năm 1967 là
5,0 năm và của Hàn Quốc năm 1980 là 8,0 năm. Hơn nữa, cần lưu ý là từ năm
1979 đến năm 1989, MBDT ở nước ta chỉ nâng lên được 0,1 năm. Tuy nhiên,
như ở trên đã nói, tỷ lệ số học sinh trên dân số ở nước ta cũng đã xấp xỉ với
nhiều nước trong vùng và ở nhóm tuổi lao động chính từ 15-34 tuổi, số năm
trung bình được đào tạo là 9,5 năm, trong khi đó tỷ lệ công nhân lành nghề,
trung học chuyênnghiệp và SV trên dân số hãy còn rất thấp. Vậy phải chăng,
vấn đề MBDT đang khu trú chủ yếu ở khu vực này?
• Tỷ lệ mất cân đối: Trước hết ta thấy, lực lượng lao động kỹ thuật ở nước ta chỉ
có 12% dân số là một tỷ lệ khá thấp. Do đó cần phải tăng quy mô đào tạo. Mặt
khác, tỷ lệ giữa 20,3% có trình độ ĐH, 35,5% có trình độ trung cấp và 44,4% là
công nhân lành nghề cũng là một tỷ lệ không hợp lý. Lẽ ra chúng ta nên có, ví
dụ, khoảng 4 cán bộ trung cấp kỹ thuật có kỹ năng cao trên một kỹ sư. Nhưng
học sinh không muốn vào học các trường trung cấp. Đó là hệ quả, một phần của
tâm lý Á Đông (và đặc biệt là của Việt Nam) và một phần là do thiết kế hệ
thống đào tạo thiếu liên thông-“ngõ cụt” và do cả việc “bao cấp” trong đào tạo.

cũng đã xuất hiện trong 3-4 năm gần đây.
TÓM LẠI
Phát triển nguồn nhân lực được xem là một yếu tố có tính chiến lược then chốt nhất cho
phát triển kinh tế-xã hội nói chung và công nghiệp hóa - hiện đại hóa nói riêng. Đây
cũng là một lợi thế so sánh tương đối của Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn nhân lực của Việt
Nam hiện nay lại đang còn rất nhiều bất cập nếu nhìn cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu,
lĩnh vực, trình độ và sự tương thích với mục tiêu chiến lược của công nghiệp hóa - hiện
đại hóa của đất nước ?
20/259
Giáo dục đại học “đại trà” và sự “phân tầng”, 1998
Trong năm ba năm gần đây và đặc biệt là từ sau ‘‘Hội nghị đào tạo ĐH toàn quốc’’ tại
Hà Nội (9-11/4/1998) các cấp lãnh đạo đã thực sự băn khoăn, dư luận xã hội đã thực sự
bối rối trước những vấn đề của GDĐH. Băn khoăn, bối rối đến nỗi báo chí đã phải dùng
đến những từ ngữ như: “ĐH Việt Nam – cuộc thử nghiệm bất thành”, “Hai ĐH quốc
gia(ĐHQG)… vẫn còn như một bức tranh dang dở”. Vậy thì vấn đề đang nằm ở đâu ?.
Áp lực của nhu cầu đào tạo ĐH đại trà.
Theo một khảo sát mới nhất về GDĐH trên thế giới thì ngày nay người ta đang có xu
thế xem văn bằng ĐH là tấm giấy thông hành không thể thiếu để tuổi trẻ có thể lọt qua
được bộ máy sàng lọc của người thuê việc và là một hình thức đầu tư có hiệu quả cao
cho tương lai. Hơn nữa, con người đương thời luôn có nhu cầu đuợc học và được hiểu
biết. Hai nhu cầu chính đáng và cần thiết này trùng hợp nhau, đưa đến một áp lực rất lớn
trong việc mở rộng nhanh quy mô GDĐH. Do đó, nền GDĐH không còn chỉ dành riêng
cho một bộ phận “tinh hoa” mà đã trở thành một nền “GDĐH đại trà” (mass).
Trên thế giới số lượng SV đã tăng lên rất nhanh trong nhiều thập niên qua. Theo thống
kê năm 1993 của Liên Hiệp Quốc, quy mô GDĐH tính theo tỷ lệ SV trong độ tuổi 18 -
22 ở các nước phát triển cao, trung bình đã là 23,4%, phát triển vừa – 14% và phát triển
chậm – 5,7%. Tỷ lệ đó hiện nay ở Pháp là trên 35%, Tây Ban Nha trên 25%, Nauy gần
20%, Thái Lan trên 10%. Về tốc độ tăng, Canada sau 10 năm (1985 – 1995) đã tăng tới
26%, đưa tỷ lệ nói trên lên 40%. Ở Mỹ, sau 130 năm (1840 – 1970) số SV vào ĐH tăng
417 lần trong khi dân số chỉ tăng 12 lần.

nước ”. Nhưng ở đó cũng có nhiều SV bỏ học từ năm nhất, thứ hai, có đến 40% SV
không đỗ tốt nghiệp được và đã gây ra nhiều vấn đề xã hội mà đặc trưng là sự kiện tháng
5/1968. Cũng theo xu hướng này, ở Morocco, SV trung bình thường phải có 6 năm học
để hoàn thành chương trình 4 năm, tỷ lệ tốt nghiệp cũng khá thấp; ở Đức SV cũng phải
ngồi chật ở các hội trường lớn và rất hiếm khi gặp được thầy cô giáo.
Trong khi đó, xu hướng thứ hai khẳng định rằng: “Nhiều hơn chắc chắn là tồi hơn nếu ta
cứ cố tình biện bạch là tất cả các trường ĐH đều như nhau”. Từ đó, từng bước họ thiết
lập một hệ thống GDĐH đại trà phân tầng: Một số ít ĐH kiểu truyền thống đào tạo tinh
hoa, chất lượng cao và chú trọng NCKH, đa số các ĐH còn lại có chức năng chủ yếu
là đào tạo nghề nghiệp (vocational education). Trên thực tế, một hệ thống “nhị nguyên”
(binary) như vậy rẻ hơn, hiệu quả hơn và thích ứng tốt hơn với tài năng và nhu cầu
rất khác nhau của SV. Phần Lan, Thụy Sĩ, Úc, Mỹ, một số bang ở Đức…đang đi theo
xu hướng này. Ở Úc có hệ thống trường đào tạo nghề sau trung học phổ thông TAFE
(Technical and Further Education). Ở Đức có hệ thống ĐH gọi là “Fachhochsehulen”
chú trọng những môn học kỹ thuật và dạy nghề. Ở Mỹ có hệ thống CĐ cộng đồng (đã
từng bị thế giới chế nhạo).
Thuộc xu hướng này, trường hợp của bang California thường được trích dẫn như một
ví dụ thành công. Họ đã tạo nên một cơ cấu 3 tầng các trường ĐH để đảm bảo tính đa
dạng: Ở đỉnh là 9 trường ĐH chọn lọc khoảng 12% số SV và bên dưới là hệ thống ĐH
“multi-campus” thu nhận khoảng 26% SV và dưới cùng là khoảng 100 trường ĐH cộng
đồng đào tạo trên 1 triệu SV của bang. Nhờ cơ cấu này mà họ, một mặt mở rộng được
cửa của các trường ĐH, mặt khác lại xây dựng được nhiều trường ĐH có chất lượng
22/259
cao nhất trên thế giới như Berkeley, California Institute of Technology (chưa đến 2.000
SV), Standford (tiền thân và là trung tâm của khu công nghệ cao Silicon Valey ngày
nay), v.v…
Những băn khoăn bối rối trong chất lượng đào tạo.
Trong những thành tựu của 10 năm đổi mới, có lẽ chủ trương “mở rộng quy mô
(GDĐH), đa dạng hóa các loại hình đào tạo, huy động các nguồn lực ngoài ngân sách
để phát triển, v.v…” đã được thực tiễn sinh động khẳng định là con đường đúng. Tuy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status