Xây dựng WebSite giới thiệu sản phẩm & bán hàng qua mạng cho Công ty Công nghệ Thương mại Dịch vụ MD - Pdf 14

LỜI NÓI ĐẦU
______
0
0
0
______
Ngày nay, công nghệ thông tin đã có những bước phát triển mạnh mẽ theo cả
chiều rộng và chiều sâu. Máy tính điện tử không còn là một thứ phương tiện quý
hiếm mà đang ngày càng trở thành một công cụ làm việc và giải trí thông dụng của
con người, không chỉ ở công sở mà còn ngay cả trong gia đình.
Đứng trước những hoạt động cạnh tranh thông tin gay gắt, các tổ chức và các
doanh nghiệp đều tìm mọi biện pháp để xây dựng hoàn thiện hệ thống thông tin của
mình nhằm tin học hóa các hoạt động tác nghiệp của đơn vị.
Hiện nay các Công ty tin học hàng đầu thế giới không ngừng đầu tư và cải
thiện các giải pháp cũng như các sản phẩm nhằm cho phép tiến hành thương mại hóa
trên Internet. Thông qua các sản phẩm và công nghệ này, chúng ta dễ dàng nhận ra
tầm quan trọng và tính tất yếu của thương mại điện tử. Với những thao tác đơn giản
trên máy có nối mạng Internet chúng ta sẽ có tận tay những gì mình cần mà không
phải mất nhiều thời gian. Chúng ta chỉ cần vào các trang dịch vụ thương mại điện tử,
làm theo hướng dẫn và click vào những gì cần. Các nhà dịch vụ sẽ mang đến tận nhà
chúng ta.
Ở Việt Nam cũng có rất nhiều doanh nghiệp đang tiến hành thương mại hóa trên
Internet nhưng do những khó khăn về cơ sở hạ tầng như viễn thông chưa phát triển
mạnh, các dịch vụ thanh toán điện tử qua ngân hàng chưa phổ biến nên chỉ dừng lại ở
mức độ giới thiệu sản phẩm và tiếp nhận đơn đặt hàng thông qua Web.
Là một sinh viên ngành tin học kinh tế ,sau một thời gian thực tập tại Công ty
TNHH Công Nghệ Thương Mại Dịch Vụ MD, được sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ
hướng dẫn tại Công ty cũng như sự hướng dẫn tận tình của thầy Đoàn Quốc Tuấn
em đã nắm được khái quát tình hình tin học hoá tại Công ty.Sau đây em xin báo cáo
kết quả đã thu thập được trong thời gian vừa qua.
1

Công ty TNHH Công Nghệ Thương Mại Dịch Vụ MD là một Công ty kinh
doanh các thiết bị tin học, viễn thông, thiết bị văn phòng. Nó cung cấp các dịch vụ:
* Dịch vụ cung cấp và lắp đặt thiết bị tin học
- Máy tính cá nhân và các phụ kiện của các hãng IBM, COMPAQ...
-Máy in: LX300,HP …
- Thiết bị mạng: 3COM, CISCO SYSTEM,...
*Dịch vụ bảo trì bảo dưỡng thiết bị văn phòng phẩm.
- Dịch vụ bảo trì cho các hãng máy tính IBM, COMPAQ....
- Sửa chữa nâng cấp các thiết bị tin học
- Nhận bảo hành tại công trình
- Nhận bảo hành định kỳ
* Dịch vụ tư vấn
- Tư vấn sử dụng các thiết bị văn phòng phẩm
- Xây dựng các đề án tin học
II. Phân tích và đánh giá hoạt động kinh doanh của Công ty
TNHH công nghệ thương mại dịch vụ MD
1. Các mặt hoạt động kinh doanh chủ yếu của Công ty
1.1. Mặt hàng máy tính và các thiết bị tin học của Công ty (từ 2003 đến nay)
Cũng như các Công ty tin học khác, Công ty TNHH Công Nghệ Thương Mại
Dịch Vụ MD là một Công ty kinh doanh thương mại và dịch vụ tin học. Công ty
chuyên lắp ráp máy tính thương hiệu Việt Nam và làm nhiệm vụ phân phối lại các sản
phẩm tin học của các Công ty nước ngoài . Các máy vi tính trên thị trường Việt nam
3
Phòng Kế Toán
Phòng Kinh
Doanh
Phòng Kỹ
Thuật
chủ yếu sản xuất từ các nước Đông Nam Á như Singapo, Đài Loan, Hàn Quốc,
Malaixia...và một số được sản xuất từ Mỹ và châu Âu.

trình đơn giản FoxPro sang sử dụng hệ quản trị CSDL Oracle.
-Điều hành và quản lý đồng bộ các hoạt động của Công ty thông qua mạng máy
tính.
-Trong năm 2005 nâng cấp mạng cục bộ 100% máy PC chạy hệ điều hành
Windows 2003, máy chủ Windows 2003 Server
-Các công tác kế toán có sử dụng phần mềm chuyên dụng (Fast Accounting)
3. Bài toán bán hàng và giải pháp
Trước xu hướng cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường và những thách
thức trong tiến trình hội nhập, cung cấp các dịch vụ và thiết bị có chất lượng cao và ổn,
định giá thành hạ là mục tiêu phấn đấu hàng đầu của Công ty. Muốn đạt mục tiêu trên
cần đẩy mạnh công tác marketing đưa Công ty gia nhập vào thương mại điện tử, và thiết
kế Website là một công cụ đắc lực. Chính vì tầm quan trọng của nó nên em đã chọn đề
tài : “Xây dựng WebSite giới thiệu sản phẩm và bán hàng qua mạng cho Công ty
TNHH Công Nghệ Thương Mại Dịch Vụ MD”
III. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHUYÊN MÔN THU ĐƯỢC
TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP TẠI CÔNG TY TNHH CÔNG
NGHỆ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ MD
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng về kỹ thuật máy tính và mạng điện tử, công
nghệ thông tin cũng phát triển mạnh và lần lượt chinh phục hết đỉnh cao này đến đỉnh
cao khác. Mạng Internet là một trong những sản phẩm có giá trị hết sức lớn lao và ngày
càng trở thành một công cụ không thể thiếu, là nền tảng chính cho sự truyền tải, trao đổi
thông tin trên toàn cầu.
Bằng Internet, chúng ta đã thực hiện được nhiều công việc với tốc độ nhanh hơn và
chi phí thấp hơn nhiều so với cách thức truyền thống. Chính điều này, đã thúc đẩy sự
khai sinh và phát triển của thương mại điện tử và chính phủ điện tử trên khắp thế giới,
làm biến đổi đáng kể bộ mặt văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống con người.
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, giờ đây, thương mại điện tử đã khẳng định
được vai trò xúc tiến và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. Đối với Công ty
5

nhiều từ phía khách hàng, tạo cảm giác thoải mái, riêng tư cho khách hàng.
6
- Xử lý mặt hàng đã chọn: Xóa , cập nhật số lượng, tính số tiền mà khách hàng
cần thanh toán
Thành tiền của một mặt hàng = Số lượng * Đơn giá bán
Tổng số tiền mà khách hàng phải thanh toán =

Thành tiền
- Kiểm tra đặt hàng và lập đơn đặt hàng
+ Phần thứ hai dành cho nhà quản lý: Là người làm chủ ứng dụng, có quyền kiểm soát
mọi hoạt động của hệ thống. Người này được cấp một username và password để đăng
nhập vào hệ thống thực hiện những chức năng của mình. Phần này chủ yếu hỗ trợ cho
việc quản lý, cập nhật, thống kê các thông tin cần thiết như: mặt hàng, nhóm mặt hàng,
khách hàng, nhà cung cấp, đơn đặt hàng,…gồm có các xử lý sau:
- Chức năng quản lý cập nhật (thêm, xóa, sửa) các mặt hàng trên trang Web.
- Cập nhật loại mặt hàng( thêm, xóa, sửa).
- Tiếp nhận và kiểm tra đơn đặt hàng của khách hàng. Hiển thị đơn đặt hàng hay
xóa bỏ đơn đặt hàng.
- Thống kê các mặt hàng, khách hàng, nhà cung cấp, thống kê doanh thu.
- Cập nhật nhà cung cấp: thêm, xóa, sửa
- Cập nhật khách hàng: thêm, xóa, sửa.
- Xử lý đơn hàng
Trang Web phải được trình bày sao cho dễ hiểu, giao diện mang tính dễ dùng, đẹp
mắt và làm sao cho khách hàng thấy được những thông tin cần tìm, cung cấp những
thông tin quảng cáo thật hấp dẫn, nhằm thu hút sự quan tâm về Công ty mình và có cơ
hội sẽ có nhiều người tham khảo nhiều hơn.
Điều quan trọng trong trang Web mua bán trên mạng là phải đảm bảo an toàn tuyệt
đối những thông tin liên quan đến người dùng trong quá trình đặt mua hay thanh toán.
Đồng thời trang Web còn phải có tính dễ nâng cấp, bảo trì, sửa chữa khi cần bổ
sung, cập nhật những tính năng mới.

2. Những dịch vụ chính trên Internet .
2.1. Thư điện tử E-mail
Đây là dịch vụ cơ bản, được dử dụng rất rộng rãi và phổ biến. Dịch vụ thư điện tử
còn gọi là điện thư, điện thư giúp ta gửi thông tin tới mọi người nếu ta có địa chỉ điện
thư của họ. Điện thư có thể giúp chúng ta gửi đi những lời nhắn trên phạm vi toàn thế
giới, tới bất kì đâu có Internet. Trên Internet điện thư không chỉ đến với những người
nối trực tiếp vào Internet mà có thể đến cả với những người không nối trực tiếp vào
Internet. Những người không nối trực tiếp vào Internet thường là thành viên của một
số mạng thương mại như CompuServe, American Online...Số lượng người sử dụng
thư điện tử lên tới hàng triệu người, do vậy dịch vụ điện thư đóng một vai trò hết sức
quan trọng.
2.2. World Wide Web – WWW:
World Wide Web là dịch vụ đa truyền thông của Internet, chứa một kho tàng tài
liệu văn bản đa năng khổng lồ được viết bằng ngôn ngữ HTML ( Hypertext Markup
Languege). Hypertext (văn bản đa năng) là phương pháp trình bày văn bản, hình ảnh,
âm thanh và dùng liên kết với nhau trong một trang Web kết hợp không theo một
trình tự. Dạng thức Hypertext cho phép người dùng duyệt qua các chủ đề theo thứ tự
bất kì. Có nhiều công cụ và giao thức giúp bạn khám phá Internet. Những công cụ
này xác định vị trí và chuyển tải tài nguyên giữa các máy tính.
World Wide Web thực chất là một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện
giúp người sử dụng có thể tạo ra các siêu văn bản và cung cấp cho người dùng trên
Internet. Trong các dịch vụ trên Internet thì dịch vụ World Wide Web ( gọi tắt là Web)
là dịch vụ hấp dẫn nhất. Mọi thông tin đều có thể hiển thị trong các trang Web bao
gồm văn bản, hình ảnh, video và cả âm thanh rất sống động và lôi cuốn người dùng.
Tập hợp các trang Web cùng một nội dung hay nội dung khác nhau, cùng một mục
đích hay không cùng mục đích nhưng đều thuộc về một cá nhân hay một tổ chức thì
được gọi là Website. Mọi Website đều có một trang chính gọi là Homepage ( trang
chủ) là điểm xuất phát đến các Web page khác trong Website đó. Homepage hầu như
không chứa thông tin chi tiết mà chỉ chứa các liên kết đến các trang khác ( hoặc địa
chỉ có liên quan) để người sử dụng có quan tâm thì chọn vào xem chi tiết.

sẽ lấy những thông tin đó để trả lại cho khách hang.
10
Các thành phần chủ chốt của Web server la phần mềm. Mỗi phần mềm Web server
chạy trên một nền tảng phần cứng và một hệ điều hành cụ thể. Chẳng hạn, Web
server của Silicon Graphics là giải pháp cả phần cứng và phần mềm. Web server do
hang Oracle cung cấp thì ngược lại, có thể chạy trên hầu hết khác nhau giúp cho
người dung không phải phụ thuộc vào các cấu hình phần cứng.
2.4. Một số khái niệm cơ bản về Web
a) khái niệm về công nghệ Web
Web là tập hợp khổng lồ các tệp siêu văn bản liên kết với nhau trên mạng Internet.
Tệp siêu văn bản là tệp có chứa liên kết nóng (host link) đến các tài liệu khác. WWW
dựa trên hai chuẩn, chuẩn về file và chuẩn phục vụ.
Chuẩn về file gọi là chuẩn HTML ( Hypertext Markup Languege) trên thực tế là tập
con được đơn giản hoá của một chuẩn khác gọi là SGML (Standard General Markup
Language). Chuẩn thứ hai là chuẩn phục vụ (Server) được gọi la HTTP (Hypertext
Transfer Protocol). Dựa trên chuẩn này Server sẽ gửi các file HTML qua Ỉnternet đến
các Client yêu cầu chúng. Việc tạo các file đa phương tiện theo cách chuẩn hoá như
vậy cho phép xây dựng các phần mềm Client không những có thể tải chúng từ Server
theo chuẩn HTTP về, mà còn có thể mở ra và hiển thị được…
Công nghệ Web được thiết lập dựa trên kiến trúc khách/chủ phân tán. Phần mềm
Client gọi là trình duyệt Web chạy trên máy của người sử dụng và được dùng để hiển
thị và yêu cầu các tài liệu, hình ảnh, âm thanh, video từ trên Internet. Phần mềm Web
server là chương trình chạy ở một máy nào đó trên Internet và cung cấp những thông
tin có từ trên máy đó mỗi khi nhận được yêu cầu từ các trình duyệt Web. Ngôn ngữ
giao tiếp giữa trình duyệt Web và Web server để nhận tài liệu siêu văn bản là HTTP.
Do đó Web server còn thường được gọi là HTTP Server. Các chương trình xuất bản
thông tin, các trình duyệt Web và Web server có thể chạy trên các nền phần mềm
hoàn toàn độc lập với nhau miễn là thông tin được tạo ra theo chuẩn HTML và được
phục vụ bởi HTTP Server.
* Web server là phần mềm phục vụ các yêu cầu trang Web trên máy chủ.

Active Control. Có thể hiểu các ActiveX như là sự phát triển của các OCX trên mạng.
Tuy nhiên các ActiveX chỉ có thể thực hiện trong môi trường hệ điều hành Windows.
ActiveX không những sử dụng trên nền Web mà còn hỗ trợ các ngôn ngữ lập trình
khác trên Window như : Visual Basic, Delphi …
12
- Server : Web Server để tính toán quản lý các trang Web, các tài liệu
HTML,DHTML, XTML. Cụ thể bảo quản các thông tin qua chuỗi các truy cập cua
Client và trả về cho Browse xem kết quả. Một số Web Server điển hình : Netscape
Commeceserver, Microsoft Internet information Server, Apache.
- Mở rộng của Server :
+ CGI ( common Gateway Interface): được viết bằng các ngôn ngữ :
Delphi, C++, Perl. Nó được đặt ở thư mục đặc biệt ở trên Server. Các chương trình
này có các tham số đầu vào là các Request của Client và trả kết quả bằng các trang
HTML động.
+Server API : gồm Netscape Server API và Microsoft Internet API, có
vai trò như CGI nhưng xử lý hiệu quả hơn. Việc truyền thông giữa Client và Server
trong các ứng dụng Web so với ứng dụng Client/Server truyền thống có một số điểm
khác nhau: kết nối giữa Client và Server trong các ứng dụng Client/Server được cất
giữ lâu dài, còn trong ứng dụng Web kết nối thông qua HTTP với phương thức
TCP/IP. Client gửi yêu cầu thông tin tới Server , Server trả lời lại Client và việc liên
lạc thông tin giữa chúng hoàn toàn có nghĩa là nó thuộc chuyển mạch gói. Nếu như
có một phiên truyền thông khác thì một số mới được thiết lập. Như vậy thông tin của
phiên trước sẽ bị giải phóng không còn ý nghĩa lưu trữ( kết nối giữa Client và Server
không có kênh truyền thông lâu dài). Mỗi phiên truyền thông giữa Clien và Server
được xem như la một giao tác “Transaction” gồm 4 công việc :
* Tạo kết nối giữa Client và Server sử dụng phương thức TCP/IP .
* Gửi yêu cầu từ Client đến Server.
* Trả lời kết quả từ Server về Client.
* Kết thúc kết nối.
Các thông tin yêu cầu từ Client tới Server có thể đơn giản là trang HTML tĩnh hoặc là

này có thể diễn ra mọi nơi, mọi lúc trên toàn cầu. Thương mại điện tử giúp cho các
doanh nghiệp giảm được khâu tiếp thị quảng cáo, giao dịch thuận tiện nhanh chóng
giảm chi phí giao dịch, thanh toán lại rất nhanh chính vì vậy nó giúp cho các doanh
nghiệp có khả năng cạnh tranh và hội nhập nền kinh tế mới.
14
2. Tầm quan trọng của thương mại điện tử
Thương mại điện tử là công cụ hỗ trợ thương mại truyền thống trong bối cảnh
Viẹtt Nam hiện nay. Thật vậy, ở Việt Nam hiện nay chua có đơn vị kinh doanh nào
hoàn toàn “ảo”, có nghĩa là các hoạt động kinh doanh hoàn toàn dựa trên Internet.
Thương mại điện tử giúp quảng bá thông tin và tiếp thị cho một thị trường toàn
cầu với chi phí cực thấp. Chỉ với vài chụ USD mỗi tháng chúng ta có thể đưa thông
tin quảng cáo đến hàng trăm triệu người xem từ các nơi trên thế giới. Đây la điều mà
chỉ có EC làm được cho doanh nghiệp. Chi phí cho EC thấp hơn nhiều so với những
hình thức quản cáo thông thường.
Thương mại điện tử đặc biệt là khi sử dụng Internet, Web trước hết giúp cho các
doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về kinh tế thương mại, nhờ đó có thể
xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị
trường trong nước, khu vực cũng như thị trường quốc tế điều này có ý nghĩa đối với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang được các nước quan tâm, coi đó là một động
lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế
Thương mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng,
các văn phòng không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi
phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn gần như được
bỏ qua). Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi
công việc sự vụ có thể tập trung vào việc nghiên cứu phát triển đưa đến những lợi ích
lâu dài.
Thương mại điện tử giúp tạo lợi thế cạnh tranh. Việc kinh doanh trên mạng là một
sân chơi cho sự sáng tạo. Nơi đây, doanh nghiệp tha hồ áp dụng những ý tưởng hay
nhất, mới nhất về dịch vụ hỗ trợ, chiến lược tiếp thị…Và khi tất cả các đối thủ cạnh
tranh đều áp dụng EC thi phần thắng sẽ thuộc về ai sáng tạo hay nhất để tạo ra nét

1987. Lần phát hành thứ hai vào ngày 24/4/1998 với những thay đổi liên quan đến sự
sửa những lỗi biên soạn. Nhưng bản này đã được bỏ đi và thay thế bằng phiên bản
HTML 4.01
Mức 4.01: Bản này có một số thay đổi và sửa một số lỗi của phiên bản HTML
4.0. Một số thay đổi bao gồm một số tờ kiểu mẫu mới (new style sheets) áp dụng cho
tài liệu dựa trên những biểu báo cáo kỹ thuật của W3C; thêm một bảng ngắn các nội
dung; cập nhật bản quyền; lỗi gây ra các trình duyệt (browse) do việc các script thế
chỗ cho việc đánh dấu (markup) đã sửa; thêm một số ví dụ mới và tài liệu tham khảo.
16
Một số lỗi được sửa và lỗi về sử lý ảnh, mất một thuộc tính của thẻ <style>, các giá
trị của thuộc tính “marginwidth” và “maginheigh” phải bắt đầu từ 0 pixel trở lên chứ
không phải từ 1 pixel trở lên, thẻ <frame> và thẻ <iframe> không có thuộc tính
“taget” và một số lỗi khác. Một số lỗi nhỏ về in ấn cũng được sửa.

2. Các phần tử cơ bản của HTML:
Các thẻ gồm các phần tử đặt trong cặp dấu <và>, có hai loại : thẻ chứa và thẻ
rỗng.
Một thẻ chứa gồm có một phần tử thẻ mở (opening tag) và một thẻ đóng
(clossing tag), thẻ mở bắt đầu bằng dấu <và tiếp ngay sau là tên của thẻ, các thuộc
tính của thẻ được cách nhau bởi khoảng trắng và cuối cùng là dấu >. Thẻ đóng tương
tự như thẻ mở chỉ khác là có dấu / ở trước tên thẻ.
<Tên thẻ> dữ liệu </Tên thẻ>
Thẻ rỗng chỉ có thể mở mà không thể đóng. Thẻ đóng để biểu thị các lệnh một lần
chẳng hạn lệnh xuống hàng hoặc lệnh có dòng kẻ ngang. Ví dụ thẻ <BR> có tác dụng
xuống hàng. Dữ liệu nằm sau thẻ <BR> sẽ được hiển thị bắt đầu từ lề trái của một
dòng mới.
Một số thẻ có nhiều thuộc tính, các thuộc tính này biểu thị các tuỳ chọn của
thẻ.
Cả thẻ chứa và thẻ rỗng đều có thể có các thuộc tính. Nếu một thẻ chứa có
một thuộc tính thì thuộc tính này được liệt kê trong thẻ mở còn thẻ đóng thì không.

<B> </B> Nội dung nằm giữa các thẻ được in đậm
<STRONG> </STRONG> Nội dung nằm giữa các thẻ được định dạng in
đậm ở hầu hết màn hình trình duyệt
<i> </i> Nội dung nằm giữa các thẻ được in nghiêng
<STRIKE> </STRIKE> Nội dung nằm giữa các thẻ được định dạng
theo kiểu có dòng gạch ở giữa
<U> </U> Nội dung được nằm giữa các thẻ được gạch
dưới
<BLINK> </BLINK> Nội dung nằm giữa các thẻ được nhấp nháy
<FONT> </FONT> Định dạng văn bản nằm giữa các thẻ theo màu
đã chọn. Tên màu: Red (đỏ), Green (xanh lá
cây), Black (đen).....
<TABLE> </TABLE> Khai báo bảng
<TR> </TR> Khai báo một hàng của bảng
<TD> </TD> Khai báo một ô dữ liệu của bảng
<TH> </TH> Khai báo các tiêu đề hàng và tiêu đề cột của
bảng. Đa số các trình duyệt định dạng các tiêu
đề của bảng ở dạng chử đậm và cạnh giữa
<TABLE
BODER>
</TABLE> Đặt thuộc tính BODER vào thẻ <TABLE> để
kẻ đường viền cho bảng
<CAPTION
ALIGN=
Alignment>
</CAPTION> Khai báo tiêu đề bảng. Thuộc tính ALIGN xác
định vị trí của tiêu đề bảng: nếu không khai
báo ALIGN, tiêu đề bảng sẽ được đặt ở phía
trên của bảng.
<TD </TD> Tạo một ô có độ cao bằng # số hàng khai báo

Alignment
</TR> Canh về chiều ngang nội dung của tất cả các ô
trong một hàng, các lựa chọn gồm LEFT,
RIGHT, CENTER
<A HREF=
“ftp:/ftp
address”>
</A> Tạo một liên kết nối đến thư mục gốc của ftp
server
<A HREF=
“ftp:/ftp
address/path
/filename”>
<A> Tạo một liên kết đến một tập tin cụ thể nằm
trong thư mục và server đã xác định
<A HREF=
“mailto:ema
_il address>
<A> Tạo một liên kết email mà khi click vào liên
kết này sẽ mở cửa sổ email của trình duyệt
hoặc trình ứng dụng email của bạn (với địa chỉ
to đã được điền đầy đủ).
IV. TÌM HIỂU CÔNG NGHỆ ASP (Active Server Pages)
19
1. ASP và cấu trúc một trang ASP
1.1. ASP là gì
ASP (Active Server Page) là môi trường kịch bản trên máy chủ (Server-side
Scripting Environment) dùng để tạo và chạy các ứng dụng Web động, tương tác và có
hiệu quả cao. Nhờ tập các đối tượng có sẵn (Built-in Object) với nhiều tính năng
phong phú và khả năng hỗ trợ các ngôn ngữ Script như VBScript, Java script cùng

HTML có sự gắn bó chặt chẽ với nhau. Với ASP, ta có thể chèn các kịch bản thực thi
được vào trực tiếp vác tập tin HTML. Khi đó việc tạo trang HTML và xử lý kịch bản
trở nên đồng thời, điều này cho phép tạo ra các tương tác của Website một cách linh
hoạt, uyển chuyển. Ngoài ra còn có thể xem các thành phần HTML động vào trang
Web tuỳ từng trường hợp cụ thể.
Những lệnh nằm giữa <%...> phải sử dụng ngôn ngữ viết kịch bản chính thức
quy định cho trang đó. VBScript là ngôn ngữ mặc định của ASP. Nếu muốn sử dụng
một ngôn ngữ khác thì chúng ta phải định nghĩa ngôn ngữ tại đầu mỗi trang ASP như
sau: %@LANGUAGE= tên ngôn ngữ %.
Các mã lệnh được chèn vào trong khắp trang Web và được xủ lý tuần tự. Mã
lệnh là các kịch bản. Hiện tại ASP cho phép dùng hai mã kịch bản là VBScript và
Javascipt. Lựa chọn kịch bản được đặt ngay tại dòng đầu tập tin:
<%@ LANGUAGE=“VBSCRIPT”%>
<%@ LANGUAGE=“JAVASCRIPT”%>
Những đoạn mã không phân biệt dài ngắn được đặt trong dấu hiệu <%...%>.
Khi một trang ASP được trình duyệt Web yêu cầu, đầu tiên Web Server sẽ
duyệt tuần tự trang ASP này và chỉ thực hiện dịch những câu kịch bản ASP, kết quả là
một trang thuần HTML sẽ được đưa ra trình duyệt (Browser). Tuỳ theo người xây
dựng trang Web quy định, mà kết quả do Web Server dịch sẽ trả về lần lượt cho trình
duyệt của người dùng hoặc chỉ trả về sau khi đã dịch xong tất cả các kịch bản. Người
duyệt sẽ không thấy những lệnh kịch bản ASP, bởi vì nó đã được thay thế bằng các
giá trị kết quả của quá trình thực thi trên Server.
1.4. Các đối tượng trong ASP
ASP đưa ra một số đối tượng xây dựng sẵn với những tính năng phong phú giúp
cho nhà quản lý mọi thứ từ các biến cho tới mẫu đệ trình. ASP có sẵn năm đối tượng
mà ta có thể dùng được mà không cần phải tạo các instance. Chúng được gọi là các
Built-in Object.
Đối tượng Session
Đối tượng Session dùng để lưu trữ những thông tin cần thiết trong phiên làm việc của
user. Những thông tin lưu trữ trong Session không bị mất đi khi user di chuyển qua

Form Các tham số của form
QueryString Các tham số được ghi trong lời gọi đến trang ASP
ServerVariables Một tập các biến môi trường của server
Đối tượng Response
Khác với đối tượng Request, Response là chìa khóa để gửi thông tin tới user, là
đại diện cho phần thông tin do Server trả về cho Web browser.
Đối tượng Response được dùng để gửi thông tin ra người sử dụng, gồm có các
thông tin ghi trực tiếp ra Browse, chỉ dẫn Browse của máy Client đến một URL khác
và/hoặc thiết lập các cookie trên máy client.
23
Các thuộc tính của đối tượng Reponse:
Thuộc tính Mô tả
Buffer Xác định nếu trang xuất ra có cùng đệm
ContentType Chỉ rã nội dung của HTTP cho
Expires Đặt lượng thời gian trước khi trang đệm hết hiệu lực
ExpriesAbsolute Đặt ngày và giờ kgi có mổttang đệm hết hiệu lực
Stanus Đặt dòng trnạg thái trả về bởi máy chủ. Có thể dùng để đặt
Thông báo
Các phương thức của đối tượng Response:
Phương thức Mô tả
AddHeader Cho phép thêm đầu đề tự tạo cho trang Web
AppendTolog Cho phép thêm thông tin vào đề mục log của Web server cho
yêu cầu này
BinaryWrite Viết dữ liệu nhị phân vào để sử dụng bởi các đối tượng máy
khách
Clear Xoá vùng đệm xuất của trang ASP
End Dừng sử lý ASP và gửi kết quả sang máy khách
Flush Làm rỗng vùng đệm và gửi kết quả sang máy khách
Redirect Chỉ dẫn máy khách liên kết đến một URL khác
Write Viết vào trang HTML


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status