1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
P. hamill Panicummaximum hamil
B. mulato 2 Brachiaria mulato 2
BNN Bộ nông nghiệp và PTNT
Ca Can xi
CS Cộng sự
CT Công thức
CTN Công thức nền
CV Cao vây
DTC Dài thân chéo
ĐVT Đơn vị tính
ĐC Đối chứng
K Ka li
Kg P Kg khối lượng
KL Khối lượng
KP Khẩu phần
KPCS Khẩu phần cơ sở
N Ni tơ
NSX Năng xuất xanh
P Lân
QĐ Quyết Định
SL Sản lượng
TB Trung bình
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TN Thí nghiệm
VCK Vật chất khô
VN Vòng ngực
1
1
2
Trung du và Miền núi (Bộ nông nghiệp và PTNT, 2003) [7]. Những giống
mới này đã được trồng, khảo nghiệm cho chăn nuôi gia súc bước đầu đánh giá
là phù hợp, tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng cho ngựa Bạch còn hạn chế. Do
vậy việc chọn lọc và đưa vào sản xuất những giống cỏ mới năng suất cao, chất
4
4
5
lượng tốt, phù hợp với đối tượng sử dụng là ngựa Bạch cần được đặt vấn đề
nghiên cứu nhằm tăng năng suất, đồng thời xác định được thành phần hoá học
cũng như giá trị dinh dưỡng của chúng là hết sức cần thiết. Nhờ đó, đáp ứng nhu
cầu thức ăn xanh cho chăn nuôi gia súc nói chung và chăn nuôi ngựa Bạch nói
riêng cả về số lượng cũng như chất lượng.
Theo Viện Chăn nuôi Quốc Gia (2012) [70] chăn nuôi ngựa ở nước ta
đã gắn bó lâu đời với đồng bào miền núi, trong chiến tranh ngựa vận chuyển
hàng hoá, trong thời bình ngựa phục vụ đời sống dân sinh, văn hoá lễ hội
truyền thống. Chăn nuôi ngựa có nhóm ngựa Bạch được coi là tài sản quý của
mỗi gia đình, nó có khả năng chịu đựng kham khổ, và phát triển tốt ở miền
núi. Để chăn nuôi tốt ngựa Bạch cần phải chú trọng nguồn thức ăn, chọn và
sản xuất giống cỏ phù hợp cho chăn nuôi ngựa Bạch là cần thiết. Xuất phát từ
những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của các mức phân
đạm đến năng suất chất lượng cỏ P. hamill, B. mulato 2 và sử dụng chúng
trong chăn nuôi ngựa Bạch giai đoạn 7 – 12 tháng tuổi tại Thái Nguyên’’.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của các mức phân đạm khác nhau đến năng
xuất chất lượng của 2 giống cỏ P. hamill, B. mulato 2.
- Đánh giá ảnh hưởng của 2 giống cỏ thí nghiệm dến sinh trưởng của
ngựa Bạch giai đoạn 7 – 12 tháng tuổi.
- Từ kết quả đó, khuyến cáo giống cỏ phù hợp với chăn nuôi ngựa Bạch
phát triển trong sản xuất.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
nguồn gốc từ các nước nhiệt đới thuộc Châu Phi, được đưa vào trồng ở Nam bộ
từ năm 1875 và đưa vảo trồng ở Bắc bộ (Hải Kiến) năm 1900. Cỏ đã được
trồng lâu tại Việt nam, nhưng thực tế những năm thăng trầm của kinh tế
và việc phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp không được chú ý,
giống cỏ này đã bị mai một không được phát triển trong sản xuất. Cỏ thí
nghiệm được nhập giống bằng hạt từ Thái Lan (Búi Quan Tuấn, 2005)[66].
Cỏ
có thể gieo trồng bằng hạt hay búi. Nếu trồng bằng búi thì cần
chuẩn bị búi nhỏ khoảng 4 - 5 tép, trồng theo hàng cách nhau 50 - 60 cm hố
cách nhau 30 - 50 cm, lấp sâu khoảng 12 - 15 cm. Trồng xong nên tưới cho
nẩy mầm. Giống cần chọn ở đồng cỏ lâu năm, cắt rễ ngắn còn 2 cm, thân dài
20 cm. Lượng giống cần khoảng 2 - 2,5 tấn/ha. Nếu trồng bằng hạt thì gieo 15
- 20 kg hạt theo hàng hay vãi vung. Tuy nhiên nếu hạt giống tốt thì 1 ha chỉ
cần 5 kg hạt là đủ. 1 kg giống P. hamill có khoảng 1.750.000 - 2.200.000 hạt
(ở Mỹ). Theo Panga (1978) [101] cho biết hạt giống cỏ P. hamill thu được ở
Cu Ba là 395 kg/ha và 100 kg/ha ở Srilanka sử dụng trồng để chăn nuôi ngựa.
Thời vụ trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa. Đất trồng chuẩn bị kỹ, bón lót
phân chuồng 10 - 15 tấn, 10 kg lân và 50 kg kali. Phân đạm được bón khi
thiết lập đồng cỏ và sau mỗi lứa thu hoạch. Cỏ có thể dùng để chăn thả, làm
cỏ xanh, sau đó 30 - 40 ngày thu hoạch một lần. Cỏ mọc thành khóm có chiều
cao từ 30 - 50 cm. Cỏ thích nghi tốt với thời tiết khô lạnh, thời gian cắt trung
bình từ 45 - 50 ngày/lứa (Thái Đình Dũng và cs, 1979) [22].
7
7
8
Cỏ có thân cao tới 2 - 3m, không có thân bò, chỉ phân nhánh và tạo
thành bụi. Bẹ lá mọc quanh gốc có màu tím, cả bẹ và lá có lông nhỏ và trắng
nhất là ở bẹ lá. Những lá phía trên ngắn và có bẹ lá dài nên không che nắng cho
những lá dưới, lá có khả năng xoay theo chiều nắng. Tỷ lệ lá/thân là 5/7, cụm
hoa hình chùy đặc trưng của Panicum, hạt hoa dẹt, cũng có lông nhỏ và mịn.
Theo Lê Hòa Bình và cs (1992)[6], năng xuất chất xanh của cỏ P. hamill
tại Long Mỹ là 56,91 tấn/ ha/ năm, tại Sơn Thành đạt 92,9 tấn/ ha/ năm, tại Ba Vì
đạt 86,3 tấn/ ha/ năm và tại Thụy Phương đạt 90,5 tấn/ ha/ năm.
Theo Từ Quang hiển và cs (2002)[33], thành phần dinh dưỡng của cỏ
Ghine như sau: Nước 80%, protein 2,32%, mỡ 1,43%, xenlulose 5,56%,
khoáng 1,38%, và cứ 5 kg cỏ này tương ứng với 1 đơn vị thức ăn.
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ và cs (1993)[36] cho
biết cỏ Ghine giai đoạn 4 tuần tuổi có tỷ lệ protein thô đạt từ 10,5 – 17,0%,
tỷ lệ xở thô từ 29,0 – 39,0%, tỷ lệ Ca từ 1,06 – 1,37% và tỷ lệ P từ 0,21 –
0,27%. Cỏ ở 6 tuần tuổi tỷ lệ protein thô, xơ thô, Ca, P lần lượt đạt từ: 8,0
– 9,0%, 32,0 – 39,0%, 0,75 – 1,02%, 0,21 – 0,23% và 8 tuần tuổi là: 6,5
-7,0%, 35,0 - 42,0%, 0,70 - 0,99%, 0,19 - 0,21%.
1.1.2. Cỏ Brachiaria mulato 2
* Nguồn gốc
Cỏ Brachiaria mulato 2 (B. mulato 2) là giống cỏ lai (B. brizantha x B.
decumbens), được nhập nội từ Thái Lan, thuộc loại cây lâu năm. B.mulato 2 là
cỏ thân bụi thấp, đẻ nhánh trên mặt đất, rễ chùm nên có khả năng chịu hạn rất
tốt, cây cao từ 80 – 100 cm. Đây là giống cỏ không kén đất, chịu hạn tốt, thích
hợp với hầu hết các vùng sinh thái của nước ta. Thân có lông, lá có bẹ ôm lấy
thân, bẹ lá và lá có lông nhỏ mịn. Thân và lá nhỏ, mềm vì vậy gia súc thích ăn.
B. mulato 2 là kết quả lai tạo từ dự án đồng cỏ CIAD nhằm tạo ra giống
có đặc tính nông học bền vững thích nghi rộng rãi, năng suất và chất lượng thức
ăn cao hơn, chống chịu với rệp, nấm. Mulato 2 là cỏ lai giữa B.ruziziensis sinh
sản hữu tính với B. decumbens, từ quá trình lựa chọn thế hệ sau và tiếp hợp vô tính với
các dòng B.brizantha. Kết quả đã tạo ra giống cỏ Mulato 2. Mulato 2 đã được đưa về
nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu và Đồng cỏ Ba Vì để đánh giá thông qua đề tài
“Nghiên cứu xác định bộ giống cỏ phù hợp làm cây thức ăn gia súc ở Đồng bằng Bắc
Bộ” (Dương Quốc Dũng,1999) [23].
9
9
10
11
1.2.1. Phân bón
- Cơ sở lý luận xây dựng chế độ phân bón và sử dụng phân bón cho cây
trồng. Lượng phân bón nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh
hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Từ đó sẽ dẫn đến
sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần các chất dinh dưỡng của
cây trồng. Những bãi chăn thuộc loại trung bình (sản lượng cỏ khô 2,5
tấn/ha/năm) thì một năm tiêu tốn khoảng 70 kg N; 7,5 kg P; 37 kg Ca và 60
kg K/ha. Vì vậy, hàng năm phải bón một lượng lớn hơn thế để bù đắp cho cây
(Từ Quang Hiển và cs, 2002)[32]. Cần có lượng phân bón đủ, phù hợp cho
mỗi loại cỏ, mỗi mùa trong năm, mùa mưa cỏ có khả năng sử dụng phân nhiều
vì sinh trưởng tốt cho năng suất cao. Nhưng mùa đông, sinh trưởng của cỏ kém,
nhu cầu sử dụng phân hạn chế hơn, đồng thời phải xác định lượng các chất có
trong đất để xác định lượng phân cần phù hợp.
Theo (Rhykerd C. L., and Noller C. H. 1973)[103] muốn nâng cao
năng suất cây trồng, một trong những biện pháp của Rumani đã khẳng định là
“Không có cách nào hiệu lực hơn để nâng cao năng suất cây trồng bằng cách
dùng phân bón” (Singh R. N, 1967) [107]. Theo Nguyễn Đức Quý 2006 [57]
năng suất chất khô / 1 ha của cây thức ăn là sự phản ánh của đất và lượng mưa.
Nếu ta đưa một lượng cây thức ăn cho gia súc không được bón phân vào một hệ
thống canh tác theo kỹ thuật quảng canh trên đất xấu không thể đem lại năng
suất cao trên đất ấy. Trong tất cả các nhân tố có ảnh hưởng đến sự phát triển của
cây thức ăn gia súc, nhân tố phân bón chắc chắn là quan trọng nhất và là nhân tố
sau này cần bố trí thí nghiệm.
Để xác định chế độ phân bón cần khảo sát các đặc điểm: Đặc điểm sinh
lý của từng loại cây trồng và đặc điểm dinh dưỡng của từng loại cây trồng đó.
Tính chất của đất trồng. Điều kiện khí hậu và thời tiết khu vực trồng. Tính
chất của phân bón muốn sử dụng.
11
CO là chất rắn màu trắng, tan tốt trong nước, chứa khoảng 46% N. Khi
12
12
13
gặp nước, urê sẽ bị thủy phân tạo thành đạm amôn (NH
4
), đây là loại đạm cây
có thể hấp thu được. Tuy nhiên, khi cây trồng không hấp thụ kịp, amôn nhanh
chóng bị enzim thủy phân, phân giải thành amôniac (NH
3
). Theo Nguyễn Văn
Viết (2006)[71] ẩm độ trong không khí ở mỗi mùa khác nhau trong sinh
quyển ở Việt Nam có ảnh hưởng lớn đề khả năng sinh trưởng của cây trồng,
khi ẩm độ quá thấp bón phân đạm có thể thất thoát do bốc hơi và cây khó hấp
thu, nhất là mùa đông ở Bắc bộ.
Bên cạnh đó, đạm urê còn bị phản nitrat hóa, tạo thành oxit nitơ. Đấy là
2 con đường bay hơi của đạm, gây thất thoát chủ yếu khi sử dụng. Ngoài ra,
còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thất thoát như nhiệt độ, pH của đất, pH
của nước, mực nước trong ruộng,… Vào lúc thời tiết nắng nóng, lượng đạm
bị mất trong một ngày có thể lên đến 50%.
Hàm lượng nitơ tổng số trong đất khoảng 0,05 - 0,25 %, phần lớn
chứa trong các hợp chất hữu cơ (chiếm 5 % trong mùn), do đó, nhìn
chung đất càng giàu mùn thì nitơ tổng số càng nhiều (Hamphray L,R
1980) [26].
Theo Nguyễn Vy và cs , (2006) [75] đạm có trong thành phần protein,
các axit amin và các hợp chất khác tạo nên tế bào. Đạm có trong thành phần
chất diệp lục, nguyên sinh chất. Đạm còn có trong các men của cây, trong
ADN, ARN, nơi khu trú các thông tin di truyền của nhân bào (Ngô Thế Đặng
và cs, 1999) [18].
Cây được bón đủ đạm, lá có mầu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh
(Pumphrey, 1978) [102] nghiên cứu cỏ E.curvulla trong 4 năm cho thấy:
Năng suất VCK trung bình trong mùa hè từ tháng 7 đến tháng 11 là 3.178
kg/ha, khi không bón phân và 8,502 kg/ha, khi được bón 224 kg N và 45 kg
P
2
O
5
/ha.
14
14
15
Khi lượng đạm bón cho đồng cỏ hòa thảo tăng, mức nitrat sẽ tăng theo.
Vì vậy, chúng ta nên cảnh giác với khả năng ngộ độc nitrat, nếu bón quá liều
lượng nitrogen (Rhykerd và Noller, 1973) [104]; Bón đạm có ảnh hưởng đến
độ ngon miệng và lượng cỏ ăn vào của gia súc. Khi không bón đạm và bón ở
các mức vừa phải cho đồng cỏ hòa thảo, khi bón tăng lượng đạm sẽ tăng khả
năng thu nhận cỏ của gia súc. Tuy nhiên, không có sự khác nhau về khả năng
ăn của gia súc đối với cỏ được bón đạm vừa phải và mức cao (Belesky và cs,
1983) [79].
Như vậy, liều lượng đạm bón cho cỏ họ đậu và hòa thảo có sự khác
nhau, với cỏ họ đậu thì thấp hơn, còn với cỏ hòa thảo thì cao hơn. Liều lượng
bón hữu hiệu cho cỏ họ đậu khoảng từ 100 - 200 kg N/ha/năm, còn cho cỏ
hòa thảo khoảng từ 300 - 400 kg N/ha/năm. Bón liều lượng thấp quá, sản
lượng cỏ tăng không rõ rệt, bón cao quá lại làm giảm sản lượng cỏ. Bón đạm
đã nâng cao chất lượng và tính ngon miệng của cỏ. Tuy nhiên, cũng cần đề
phòng bón đạm với liều lượng cao sẽ dẫn đến tích tụ nitrat trong cỏ và dẫn
đến gây ngộ độc cho gia súc, với vùng á nhiệt đới trong mùa mưa có ảnh
hưởng làm lượng tích tụ độc tố ít hơn (Xi Nen Si Cop V.V, 1963) [76]
1.2.1.2. Phân lân
* Vai trò của phân lân
Như vậy, cần phải bón liều lượng phân lân lớn cho đồng cỏ mới gieo
hoặc trồng lần đầu tiên, liều lượng này vào khoảng 300 - 500 kg super
photphat tương đương với 60 - 100 kg P
2
O
5
/ha.
1.2.1.3. Phân kaly
* Vai trò của phân kali
Kali làm tăng vai trò quang hợp của lá, tăng cường sự hình thành bó
mạch, giúp cây cứng cáp, góp phần vào việc chống đổ lốp cho cây. Kali còn
kích thích sự hoạt động của các men, do đó, cây tăng cường trao đổi chất,
tăng hình thành axit hữu cơ, tăng trao đổi đạm, tổng hợp protit, do vậy mà hạn
chế tích lũy nitrat trong lá, tăng khả năng chống rét và tăng khả năng đẻ
nhánh. Kali giúp cho cây trồng không hút đạm ồ ạt, nói một cách khác là
chống bội thực đạm của cây, tránh hiện tượng lá thì nhiều, mà hạt và quả thì
16
16
17
ít. Kali được cây tiêu thụ rất lãng phí, đặc biệt là cỏ hòa thảo. Cây có chiều
hướng hấp thu số lượng kali nhiều hơn giới hạn chúng đòi hỏi cho sinh trưởng
và phát triển thích hợp (Lutz, 1973)[95].
1.2.1.4. Phân chuồng
* Vai trò của phân chuồng
Bón phân hữu cơ có thể cung cấp trực tiếp chất dinh dưỡng cho cây,
làm tăng năng suất và phẩm chất cây trồng, cần được bón lót (Sallette. J. E,
1974)[58]. Đặc biệt, bón phân hữu cơ làm tăng số lượng và cường độ hoạt
động của vi sinh vật trong đất, góp phần làm tăng thêm hàm lượng các chất
dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng (Nguyễn Đăng Nghĩa, 1997)[50]. Theo Đỗ
Ánh (2005)[3] đầu tư bón phân hữu cơ cao 40 tấn/ha, năng suất cỏ voi thu cắt
theo lứa phù hợp cho từng loại cỏ và mùa vụ để cỏ đạt cao về sinh khối và giá trị
dinh dưỡng là cần thiết (Phan Đình Thắm, 2004) [60]. Có thể thu hoạch 2 - 10
lần/năm, phụ thuộc vào điều kiện sinh thái tứng vùng, thường đạt đến sản lượng
cao nhất và chất lượng tốt nhất tại thời điểm liên quan tới giai đoạn thành thục
(Marten.G.V, 1970) [98].
Cắt quá ít lần trong năm, cỏ già, chất lượng kém, ảnh hưởng đến lứa tái
sinh sau và ảnh hưởng đến sản lượng cả năm. Còn cắt nhiều lần trên năm, cỏ
non, mềm, tỷ lệ tiêu hóa cao, tỷ lệ protein cao. Tuy nhiên, nếu cắt quá nhiều
lần trong năm cũng không tốt, sẽ làm giảm khả năng tái sinh và năng suất cỏ;
Theo Hare và cs, (2001)[96] cho biết thu cắt cỏ P. atratum ở khoảng cách cắt
30 ngày chất lượng cỏ cao hơn so với thu cắt ở khoảng cách cắt 60 ngày và
sản lượng vật chất khô giảm với sự sai khác không có ý nghĩa, cỏ B.multica
cắt ở 30 ngày có tỷ lệ vật chất khô ít hơn 40% so với cắt ở 60 ngày.
1.2.4. Ảnh hưởng của giống cỏ
Theo tài liệu của Viện Chăn nuôi Quốc gia (2001)[68], đối với cây cỏ
hòa thảo ngoài tự nhiên thì hàm lượng các chất dinh dưỡng rất khác nhau có
tỷ lệ VCK thấp như cỏ bấc với 13,10% vật chất khô, 2,10% protein thô,
0,20% lipit thô, 3,90% xơ thô, 5,50% dẫn xuất không đạm và 1,40% khoáng
18
18
19
tổng số. Một số cỏ có mức trung bình về vật chất khô như: cỏ Mộc Châu mọc
tự nhiên có 23,88 % vật chất khô, 2,54% protein thô, 0,51% lipit thô, 8,67%
xơ thô, 10,13% dẫn xuất không đạm; 2,03% khoáng tổng số; cỏ Ghine có
21,00% vật chất khô, 2,70 % protein thô, 0,40% lipit thô, 7,50 % xơ thô,
8,70% dẫn xuất không đạm và 1,70% khoáng tổng số.
Giá trị dinh dưỡng của cây thức ăn rất khác nhau giữa các giống cỏ,
chúng ta cần có những lựa chọn phù hợp giống cỏ để sử dụng trồng và cho gia
súc sử dụng phù hợp, hiệu quả.
1.2.5. Ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất trên lứa
các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lai Châu… Ngựa Bạch
cũng có khả năng làm việc và chịu đựng kham khổ tốt, có thể phát triển tốt ở các
địa phương trên. Trong nhiều năm qua ngựa Bạch còn được thảo luận là một
giống hay một nhóm giống. Năm 1999 ngựa Bạch được đánh giá đây là một
giống ngựa quý (có lông màu trắng, các lỗ tự nhiên trắng hồng, mắt hồng, nên
ngựa Bạch trong nhân dân còn được gọi là ngựa Bạch nhạn) đang có số lượng
giảm dần do người dân săn lùng, giết thịt, lấy xương nấu cao nấu cao cần được
bảo tồn (Viện Chăn nuôi, 1999) [69].
* Khả năng sinh trưởng của ngựa Bạch
Ngựa Bạch có ngoại hình trưởng thành nhỏ, chiều cao vây con đực 115,20
cm và con cái 111,34 cm, khối lượng con đực 172,60kg, con cái 161,82 kg
(Nguyễn Hữu Trà, 2007) [64]. Theo Viện Chăn nuôi (1999)[69] ngựa Bạch ở 6
tháng tuổi có khối lượng đạt 73 - 85 kg, ở 12 tháng tuổi đạt 90-110 kg, ngựa
Bạch trưởng thành có khối lượng 110-170 kg
* Nuôi dưỡng ngựa Bạch
Theo Đặng Đình Hanh và cs (2001) [27] nhu cầu dinh dưỡng ngay sau
sinh với ngựa con rất quan trọng, cần được bú sữa đầu (sữa đầu có kháng thể).
Từ sơ sinh đến 1 tháng tuổi ngựa con hoàn toàn được nuôi bằng nguồn sữa
mẹ, phụ thuộc chế độ chăm sóc cho ngựa mẹ mà lượng sữa được tăng dần từ
khi mới đẻ đến 30 ngày. Thời điểm sau 1 tháng cần thiết mỗi ngựa con bổ sung
cho ăn thêm từ 0,5 kg thức ăn là cỏ non / ngày, cho ăn tự do và nâng lên đến 4 kg/
ngày khi ngựa đạt 3 tháng tuổi. Từ tháng thứ 2 cho thêm thức ăn tinh là nguồn
cám hỗn hợp hoặc cám gạo doa, thức ăn tinh bột được hòa ẩm cho ăn để tránh
ngựa bị sặc thức ăn, thức ăn tinh cho ăn 0,1 - 0,3 kg/ con/ ngày.
Sau 3 tháng nuôi con sữa mẹ bắt đầu cạn dần và chất lượng sữa cũng
giảm dần, ngựa con đã lớn nhu cầu thức ăn nhiều lên, sữa từ ngựa mẹ chỉ có
khả năng cung cấp cho con được 60% và giảm đến 15% từ sau 3 tháng đến 6
20
20
21
Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum
dilatatum là 15 000 kg VCK, Tại Fiji năng suất trung bình
là 5.313 kg
VCK/ha với mức protein thô là 9,9% (Dr,Sochadji, 1994)[83].
21
21
22
Theo Humphrey (1991)[91] thông báo
năng suất cỏ Setaria sphacelata
đạt từ 23.500 – 28.000 kg/ha qua mùa sinh
trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ
được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm
ure/ha/năm trên nền đất baza mầu mỡ.
Tại Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái
Lan) cỏ Ghine tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x
50cm và được bón phân hỗn hợp (15-15-15) trước khi trồng ở mức 300 kg/ha
tương đương 18 tấn phân bón / 1ha (Hare. M. D, 2001) [86]. Lượng cỏ thu
hoạch khoảng 8,9 tấn/ha ở
lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1
tấn/ha cắt sau 30 ngày (M.D. Hare, P.Booncharern, P. Tatsapong, 2004)[88]
Theo Hoàng Chung (2006)[14] giống B.
decumbens có thể đạt năng
suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí
Queensland, thông báo năng
suất đạt từ 23.500 - 28.000 kg/ha qua mùa sinh
trưởng 6 tháng trong điều kiện
cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg
đạm/ha/năm trên nền đất đỏ Bazan
mầu mỡ.
22
22
23
1.4.1.2. Nghiên cứu về năng suất
Theo Division of Animal Nutrition, Anon (2000) [77] sản lượng VCK
của cỏ B. mutica đạt từ 9-15 tấn/ ha và sản lượng protein đạt từ
6 - 10%, cỏ
Digitaria decumbens có sản lượng VCK từ 15 – 20 tấn/ ha, sản lượng protein
là 7 – 11%, sản lượng VCK của cỏ Paspaluatratum là 18 – 25 tấn/ ha và sản
lượng protein là 6 -7, cỏ Paspalum plicatulum có sản lượng VCK từ 6 – 10
tấn/ ha và sản lượng protein từ 5 – 6%.
Với hai giống cỏ là cỏ Paspalum atratum và Paspalum plicatulum
là
những loài cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên 600kg/ha (Nguyễn Thị
Thu Hồng, 2006) [35]. Do vậy,
hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái
Lan. Theo Hare M.D. và cs (1997) [87] cho biết các cỏ B. multica và
Paspalum atratum khi không
phải
có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia súc và giảm diện tích gieo trồng.
Trên thế giới ở những nước có nền chăn nuôi ngựa phát triển vấn đề
cây thức ăn rất được quan tâm đầu tư nghiên cứu như ở Úc, Mỹ, Liên Xô cũ,
23
23
24
Mông Cổ… Theo Horne PM, và Stur WW (1999 )[90] ở Trung Quốc cây
thức ăn được chú trọng phát triển và đã xác định được những giống cỏ Stylo,
Brachiria, Penicetum, Panicum sử dụng có hiệu quả cho gia súc đặc biệt là
ngựa, khả năng sử dụng của ngựa là từ 85 - 95%. Theo Dr.Sochadji (1994)
[83] tại Indonexia 90% ngựa được nuôi tại vườn nhà, hoặc các trang trại nhỏ,
được trồng các giống cỏ Panicum, Macxicum, Paspalum atratum, Stylo… các
giống cỏ này đều phát triển tốt và cung cấp nguồn thức ăn cho ngựa tại nhà.
Đặc biệt những giống cỏ này còn được nghiên cứu trồng trên đất giốc theo
đường đồng mức chính vì vậy nó đã cung cấp đủ thức ăn cho ngựa tại nhà ở
những vùng cao .
Tại Mỹ nghiên cứu trên các giống cỏ Brachiria Decumben cho năng
suất đạt từ 12300 - 13000 kg/ha. Tại Samford Queeslend có chương trình
chuyên nghiên cứu về thức ăn cho gia súc thử nghiệm các giống cỏ Paspalum
Dilatum đạt năng suất 15000kg VCK/ lứa. Từ các giống cỏ này được nhân
rộng và một trong những giống chủ lực trong chăn nuôi gia súc nói chung và
ngựa nói riêng (Holt EC và Houston HC, 1954)[89]
1.4.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.4.2.1. Nghiên cứu trồng cỏ
Hiện nay ta đang nghiên cứu một số giống cỏ nhập nôi, nghiên cứu chọn
lọc giống có khả năng sản suất cho số lượng lớn và nâng cao chất lượng, qua
nghiên cứu một số giống cỏ được lựa chọn cho chăn nuôi gia súc, những
nghiên cứu cho đối tượng chăn nuôi ngựa còn hạn chế.
nước như Mộc Châu, Ba Vì, Đồng Giao, Tân Sơn Nhất, Hưng Lộc, Thủ Đức,
Khánh Dương, Nha Bố, ….
1.4.2.2. Nghiên cứu mức phân bón
Cây được bón đủ đạm, lá có mầu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh,
Đào Văn Bảy và cs (2007)[4]. Đủ đạm, chồi búp cây phát triển nhanh, cành
lá, nhánh phát triển mạnh. Đó là cơ sở để cây trồng cho năng suất cao (Ngô
Thị Đào và cs , 2007) [19 ].
Theo Phan Thị Phần và cs (1999) [54 ] khi nghiên cứu cỏ Ghine TD58
ở
khu vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:
+ Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình
Dương với 20 tấn phân chuồng, 80 kg P
2
O
5
, 80 kg K
2
O và 500 kg
25
25