Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC MỨC PHÂN ĐẠM ĐẾN
NĂNG SUẤT CHẤT LƢỢNG CỦA CỎ PANICUMMAXIMUM CV
HAMIL, BRACHIRIA MULATO 2 VÀ SỬ DỤNG CHÚNG TRONG
CHĂN NUÔI NGỰA BẠCH GIAI ĐOẠN 7 – 12 THÁNG TUỔI
TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
2. TS. Nguyễn Thị Liên
Thái Nguyên, năm 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa
từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các thông tin, tài
liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Xác nhận
của ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy Hằng
kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo điều
kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày tháng 02 năm 2014
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu và các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các biểu đồ, đồ thị và sơ đồ ix
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
3.3. Ý nghĩa hiệu quả về xã hội 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Đặc tính sinh học của cỏ thí nghiệm 4
2.3. Nội dung nghiên cứu 33
2.3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất, chất
lượng của cỏ P. hamill , B.mulato 2 33
2.3.2. Khảo sát khả năng thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử dụng 2 giống
cỏ P.hamill, B. mulato 2 33
2.3.3. Sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng cỏ P. hamill , cỏ B .mulato 2 33
2.4. Phương pháp nghiên cứu 34
2.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất, chất
lượng của cỏ P. hamill, B.mulato 2. 34
2.4.1.1. Phân tích thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm và đặc
điểm khí hậu vùng thí nghiệm 34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
2.4.1.2. Khả năng sinh trưởng, tái sinh của cỏ P.hamill, B.mulato 2 ở mức
phân đạm khác nhau. 34
2.4.2. Khảo sát khả năng thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử dụng cỏ
P.hamill, B. mulato 2. 38
2.4.3. Sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P. hamill , B.mulato 2 39
2.4.3.1. Bố trí thí nghiệm 39
2.4.3.2.Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 39
2.5. Xử lý số liệu 41
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất, chất
lượng của cỏ P. hamill, B.mulato 2 42
3.1.1. Thành phần dinh dưỡng của đất thí nghiệm 42
3.1.2. Đặc điểm khí hậu của địa điểm nghiên cứu 43
3.1.3. Khả năng sinh trưởng của cỏ thí nghiệm ở các mức phân đạm
khác nhau 45
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Panicummaximum hamil
Brachiaria mulato 2
BNN
Bộ nông nghiệp và PTNT
Ca
Can xi
CS
Cộng sự
CT
Công thức
CTN
Công thức nền
CV
Cao vây
DTC
Dài thân chéo
ĐVT
Đơn vị tính
ĐC
Đối chứng
K
Ka li
Kg P
Kg khối lượng
KL
Khối lượng
KP
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử
dụng 2 giống cỏ P. hamill và B. mulato 2. 38
Bảng 2.3. Bố trí thí nghiệm theo dõi sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng 2
giống cỏ P.hamill , B. mulato 2 39
Bảng 3.1. Thành phần dinh dưỡng của đất thí nghiệm 42
Bảng 3.2. Đặc điểm khí hậu vùng nghiên cứu trong thời gian thí nghiệm 43
Bảng 3.3. Chiều cao sinh trưởng của cỏ P.hamill, B.mulato 2 46
Bảng 3.4. Chiều cao cây tái sinh 48
Bảng 3.5. Tốc độ sinh trưởng và tái sinh của 2 giống cỏ thí nghiệm 51
Bảng 3.6. Năng suất chất xanh của 2 giống cỏ thí nghiệm 54
56
3.8. Sản lượng chất xanh, VCK và protein của 2 giống cỏ thí
nghiệm qua 3 lứa cắt. 59
63
3.10. Sinh trưởng tích lũy của ngựa Bạch thí nghiệm 65
3.11. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của ngựa Bạch thí nghiệm 67
Bảng 3.12. Kích thước một số chiều đo của ngựa Bạch TN 69
Bảng 3.13. Tiêu tồn thức ăn thô cho ngựa thí nghiệm 71
Bảng 3.14. Sơ bộ hạnh toán kinh tế 72 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Năng suất chất xanh của cỏ thí nghiệm 56
Biểu đồ 3.2. Sản lượng chất xanh của cỏ thí nghiệm 61
Biểu đồ 3.3. Sản lượng VCK của cỏ thí nghiệm 61
Biểu đồ 3.4. Sản lượng protein của cỏ thí nghiệm 62
khu vực cần được khảo nghiệm giúp phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ ở
Trung du và Miền núi (Bộ nông nghiệp và PTNT, 2003)[7]. Những giống mới
này đã được trồng, khảo nghiệm cho chăn nuôi gia súc bước đầu đánh giá là
phù hợp, tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng cho ngựa Bạch còn hạn chế. Do
vậy việc chọn lọc và đưa vào sản xuất những giống cỏ mới năng suất cao, chất
lượng tốt, phù hợp với đối tượng sử dụng là ngựa Bạch cần được đặt vấn đề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
nghiên cứu nhằm tăng năng suất, đồng thời xác định được thành phần hoá học
cũng như giá trị dinh dưỡng của chúng là hết sức cần thiết. Nhờ đó, đáp ứng nhu
cầu thức ăn xanh cho chăn nuôi gia súc nói chung và chăn nuôi ngựa Bạch nói
riêng cả về số lượng cũng như chất lượng.
Theo Viện Chăn nuôi Quốc Gia (2012) [70] chăn nuôi ngựa ở nước ta
đã gắn bó lâu đời với đồng bào miền núi, trong chiến tranh ngựa vận chuyển
hàng hoá, trong thời bình ngựa phục vụ đời sống dân sinh, văn hoá lễ hội
truyền thống. Nước ta có 121.000 con ngựa (Tổng cục thống kê, 2012)[63],
được phân bố chủ yếu ở các Tỉnh vùng núi phía bắc. Chăn nuôi ngựa có nhóm
ngựa Bạch được coi là tài sản quý của mỗi gia đình, nó có khả năng chịu đựng
kham khổ, và phát triển tốt ở miền núi. Để chăn nuôi tốt ngựa Bạch cần phải
chú trọng nguồn thức ăn, chọn và sản xuất giống cỏ phù hợp cho chăn nuôi ngựa
Bạch là cần thiết. Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất chất lượng cỏ P. hamill , B.
mulato 2 và sử dụng chúng trong chăn nuôi ngựa Bạch giai đoạn 7 – 12 tháng
tuổi tại Thái Nguyên’’.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của các mức phân đạm khác nhau đến năng
xuất chất lượng của 2 giống P. hamill, B. mulato 2.
- Đánh giá ảnh hưởng của 2 giống cỏ thí nghiệm đến sinh trưởng của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc tính sinh học của cỏ thí nghiệm
1.1.1. Cỏ Panicum maximum cv hamill
* Nguồn gốc:
Cỏ Panicum maximum cv hamill (P. hamill) thuộc nhóm cỏ Ghine có
nguồn gốc từ các nước nhiệt đới thuộc Châu Phi, được đưa vào trồng ở Nam bộ
từ năm 1875 và đưa vảo trồng ở Bắc bộ (Hải Kiến) năm 1900. Cỏ đã được
trồng lâu tại Việt Nam, nhưng thực tế những năm thăng trầm của kinh tế
và việc phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp không được chú ý,
giống cỏ này đã bị mai một không được phát triển trong sản xuất. Cỏ thí
nghiệm được nhập giống bằng hạt từ Thái Lan (Búi Quan Tuấn, 2005)[66].
Cỏ có thể gieo trồng bằng hạt hay búi. Nếu trồng bằng búi thì cần
chuẩn bị búi nhỏ khoảng 4 - 5 dảnh, trồng theo hàng cách nhau 50 - 60 cm hố
cách nhau 30 - 50 cm, lấp sâu khoảng 12 - 15 cm. Trồng xong nên tưới cho
đất ẩm đến khi cỏ nẩy mầm. Giống cần chọn ở đồng cỏ lâu năm, cắt rễ ngắn
còn 2 cm, thân dài 20 cm. Lượng giống cần khoảng 2 - 2,5 tấn/ha. Nếu trồng
bằng hạt thì gieo 15 - 20 kg hạt theo hàng hay vãi vung. Tuy nhiên nếu hạt
giống tốt thì 1 ha chỉ cần 5 kg hạt là đủ. 1 kg giống cỏ có khoảng 1.750.000 -
2.200.000 hạt (ở Mỹ). Theo Panga (1978) [101] cho biết hạt giống cỏ thu
được ở Cu Ba là 395 kg/ha và 100 kg/ha ở Srilanka sử dụng trồng để chăn
nuôi ngựa. Thời vụ trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa. Đất trồng chuẩn bị kỹ,
Ở vùng South Johnstone, Queensland cho năng suất 60.000kg VCK/ha
khi được bón 300 kg Nitơ (Middleton & MeCosker,1975)[99]. Khi cỏ được
bón 440 kg Nitơ/ha thì thu được 26,846 kg VCK/ha khi cắt cỏ ở giai đoạn 40
ngày. Ở Việt Nam, năng suất đạt 50 - 100 tấn cỏ tươi/ha và có thể lên tới 130
- 180 tấn/ha (Nguyễn Đăng Khôi và Dương Hữu Thời, 1981)[43]. Mỗi năm
cỏ Ghine cho khoảng 9 lứa cắt. Năng suất cỏ biến đổi theo mùa. Cỏ có năng
suất 8,13 tấn/ ha vào mùa khô và đạt 10,5 tấn/ha vào mùa mưa.
* Thành phần hoá học
Ở Coasta Rica người ta đã phân tích được thành phần hóa học như sau:
protein thô 7,81% VCK, xơ thô 30,62% VCK, mỡ thô 2,33% VCK, khoáng
8,36 % VCK, vào giai đoạn cây chuẩn bị ra hoa. Phân tích của (Davies , J , G
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6
1970) [82] ở Tanzania và Thái Lan cho thấy lượng protein biến động trong
khoảng 5,3 - 6,0% VCK.
Theo Lê Hòa Bình và cs (1992)[6], năng xuất chất xanh của cỏ tại Long
Mỹ là 56,91 tấn/ ha/ năm, tại Sơn Thành đạt 92,9 tấn/ ha/ năm, tại Ba Vì đạt 86,3
tấn/ ha/ năm và tại Thụy Phương đạt 90,5 tấn/ ha/ năm.
Theo Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (2002)[33], thành phần
dinh dưỡng của cỏ Ghine như sau: Nước 80%, protein 2,32%, mỡ 1,43%,
xenlulose 5,56%, khoáng 1,38%, và cứ 5 kg cỏ này tương ứng với 1 đơn vị
thức ăn.
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ và cs (1993)[36] cho
biết cỏ Ghine giai đoạn 4 tuần tuổi có tỷ lệ protein thô đạt từ 10,5 – 17,0%,
tỷ lệ xơ thô từ 29,0 – 39,0%, tỷ lệ Ca từ 1,06 – 1,37% và tỷ lệ P từ 0,21 –
0,27%. Cỏ ở 6 tuần tuổi tỷ lệ protein thô, xơ thô, Ca, P lần lượt đạt từ: 8,0
– 9,0%, 32,0 – 39,0%, 0,75 – 1,02%, 0,21 – 0,23% và 8 tuần tuổi là: 6,5 -
7,0%, 35,0 - 42,0%, 0,70 - 0,99%, 0,19 - 0,21%.
Sản lượng chất xanh hàng năm của cỏ đạt từ 80 - 150 tấn/ ha. Cỏ có
thể sử dụng làm thức ăn xanh, phơi khô và cũng có thể trồng làm bãi chăn
thả gia súc.
- Thu hoạch và sử dụng: Cỏ sau khi trồng từ 50 - 60 ngày có thể tiến
hành cắt lứa đầu tiên, khoảng cách giữa các lứa cắt sau khoảng từ 30 - 40
ngày. Khi cắt phải chừa lại khoảng cách không quá 3 cm. Yêu cầu cỏ phải
được cắt đúng lứa.
* Thành phần hoá học
Theo Trịnh Văn Thịnh (1974)[61] cho biết thành phần hóa học của
cỏ Mulato 2 là: VCK đạt 26,40%, protein là 11,34%, lipit là 3,69% và tỷ
lệ xơ là 9,78%.
1.2. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến năng suất, chất lƣợng cỏ
Như chúng ta được biết cơ thể thực vật và điều kiện ngoại cảnh có mối
quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau. Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi sẽ kéo
theo sự thay đổi quá trình trao đổi chất và khả năng tích luỹ chất khô của thực
vật và có thể làm thay đổi thành phần hoá học của thực vật, nhất là vùng á
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
8
nhiệt đới (Cooper. J.P và cs, 1968) [15]. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất
chất lượng cỏ đó là:
1.2.1. Phân bón
- Cơ sở lý luận xây dựng chế độ phân bón và sử dụng phân bón cho cây
trồng. Lượng phân bón nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh
hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Từ đó sẽ dẫn đến
sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần các chất dinh dưỡng của
cây trồng. Những bãi chăn thuộc loại trung bình (sản lượng cỏ khô 2,5
tấn/ha/năm) thì một năm tiêu tốn khoảng 70 kg N; 7,5 kg P; 37 kg Ca và 60
kg K/ha. Vì vậy, hàng năm phải bón một lượng lớn hơn Thế để bù đắp cho
tránh lãng phí và khi đạm vào trong cây sẽ được tổng hợp để giúp tạo thành
các loại protein từ đơn giản đến phức tạp, hay còn gọi là chất thịt, thành phần
cơ bản của cơ thể sống. Nó tham gia vào cấu tạo của axit nucleic và có vai trò
quan trọng trong việc trao đổi chất của cơ thể cây trồng. Ngoài ra, đạm còn là
thành phần của diệp lục tố tạo nên màu xanh cho lá cây, đây chính là yếu tố thiết
yếu giúp thực vật quang hợp, biến đổi năng lượng của ánh sáng để chuyển đổi
nước và cacbonic thành đường bột, nuôi sống toàn thể giới động vật.
Phân đạm là thức ăn chính của cây, giúp cho chồi, cành lá phát triển; lá
có kích thước to sẽ tăng khả năng quang hợp từ đó làm tăng năng suất cây
trồng. Thiếu đạm, cây sẽ sinh trưởng còi cọc, lá già, toàn thân biến vàng, toàn
bộ quá trình sinh trưởng của cây sẽ bị trì trệ do thiếu chất hình thành tế bào,
các quá trình sinh hóa cũng bị ngưng trệ.
Khi bón thừa phân đạm, cây trồng sẽ lớn nhanh, đẻ nhánh nhiều, dễ bị
đổ ngã, cây chậm ra hoa và khó đậu quả. Mặt khác, thừa đạm làm tăng mức
độ lây nhiễm sâu bệnh do lá mềm, màu sắc xanh đậm của lá thu hút các loại
côn trùng và nấm bệnh gây hại, các bất lợi đem lại khi bón thừa phân đều do
cây “quá bổ”. Đơn cử như đạm có tác dụng làm cây lúa phát triển cao lên, khi
thừa thì làm cho nó dài ra, dẫn đến việc cây dễ đổ ngã.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
Thất thoát đạm và phương pháp hạn chế: Đạm urê dùng để bón cho cây
(NH2)
2
CO là chất rắn màu trắng, tan tốt trong nước, chứa khoảng 46% N. Khi
gặp nước, urê sẽ bị thủy phân tạo thành đạm amôn (NH
4
), đây là loại đạm cây
có thể hấp thu được. Tuy nhiên, khi cây trồng không hấp thụ kịp, amôn nhanh
dài, mềm mại, che bóng lẫn nhau và gây ảnh hưởng tới quang hợp. Bón nhiều
đạm, tỷ lệ diệp lục trong lá cao, lá có mầu xanh tối, quá trình sinh trưởng
(phát triển của thân, lá) bị kéo dài, cây thành thục muộn, phát triển um tùm,
dễ đổ lốp, dễ mắc sâu bệnh, rễ cây kém phát triển. Nếu thiếu đạm, cây cỏ sẽ
cằn cỗi, lá kém xanh, ra hoa kém và thưa thớt, ít quả, lúc này lá già sẽ chuyển
đạm nuôi các lá non nên lá già rụng sớm. Cây thiếu đạm buộc phải hoàn thành
chu kỳ sống nhanh, thời gian tích lũy ngắn, năng suất thấp. Nhiều tác giả đã
nghiên cứu và chỉ ra ảnh hưởng của nitơ đến sản lượng đồng cỏ hòa thảo và
tìm ra sự tương quan giữa liều lượng N được bón với năng suất chất xanh và
hiệu quả bón phân (Kalmbcher RS, Brown WF,1977)[93].
* Liều lƣợng.
Về liều lượng bón đạm, các kết quả nghiên cứu chỉ ra như sau: Đối với
cỏ họ đậu, mức bón tối ưu cho đồng cỏ Alfalfa là 90 - 120 kg N/ha/năm, đối
với cỏ Orchard là 140 kg N/ha/năm (Jung và Baker,1973) [92] và cỏ Orchard
hỗn hợp với cỏ Tall fescure là 180 kg N/ha/năm (Lutz J. A., Jr. (1973) [95].
Đối với cỏ hòa thảo: Liều lượng bón tối ưu cho cỏ Bermuda là 55 kg N/ha/lứa
cắt, hay 448 kg N/ha/năm, năng suất vật chất khô bắt đầu giảm khi vượt quá
450 kg N/ha/năm (Burton và Jacson, 1962) [80]. Thí nghiệm của Schryver,
(1971) [105] chỉ ra rằng, khi bón đạm tăng từ 0 - 940 kg N/ha/năm, thì sản
lượng vật chất khô đạt được tối đa ở mức bón 313 kg N/ha/năm và sản lượng
vật chất khô bắt đầu giảm khi bón vượt quá 450 kg N/ha/năm, sản lượng có
thể tăng cho tới tận liều lượng bón 336 - 404 kg N/ha/năm, khi bón liều lượng
trên 500 kg N/ha/năm sản lượng cỏ sẽ giảm. Tại Stillwater, Oklahoma, Mỹ
(Pumphrey, 1978) [102] nghiên cứu cỏ E.curvulla trong 4 năm cho thấy:
Năng suất VCK trung bình trong mùa hè từ tháng 7 đến tháng 11 là 3.178
kg/ha, khi không bón phân và 8,502 kg/ha, khi được bón 224 kg N và 45 kg
P
2
O
5
O
5
cho
cây dễ dàng trong môi trường kiềm, ngược lại lân dễ dàng tan trong môi
trường axit (Nguyễn Thị Thu Hồng và cs, 2006)[35]. Sự biến hóa lân hữu cơ
trong đất chủ yếu do vi sinh vật phân giải rồi thủy phân thành lân vô cơ. Hiện
nay một trong những biện pháp nâng cao hiệu lực phân lân bón vào đất là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
thông qua cây bộ đậu, biến thành dạng hữu cơ, sau đó vi sinh vật phân giải để
cung cấp dần cho cây (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976) [74].
Photpho là một nguyên tố đa lượng cần thiết cho cây trồng, nó đóng
vai trò rất quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và động vật. Tác dụng
của phân lân thể hiện ở vai trò của nguyên tố photpho đối với thực vật.
Photpho tham gia tạo nên các vật chất di truyền (ADN, ARN, axit nucleic),
các hợp chất cao năng (ADP, ATP, ). Photpho còn có tác dụng làm tăng cường
phát triển bộ rễ cây (đặc biệt là thời kỳ đầu sinh trưởng). Cây đủ photpho, bộ rễ
phát triển sớm, lông hút xum xuê, là cơ sở tạo bộ rễ vững chắc để cây hút chất
dinh dưỡng và phát triển tốt. Thiếu photpho ảnh hưởng xấu đến quá trình hình
thành và chắc hạt, nên năng suất hạt giảm rõ rệt, Nguyễn Công Vinh (2002)[72].
Đối với cỏ Pennisetum polystachyon, bón ban đầu là 448 kg super photphat/ha,
bón hàng năm là 228 kg/ha (Điền Văn Hưng, 1974) [37].
* Liều lƣợng
Như vậy, cần phải bón liều lượng phân lân lớn cho đồng cỏ mới gieo
hoặc trồng lần đầu tiên, liều lượng này vào khoảng 300 - 500 kg super
photphat tương đương với 60 - 100 kg P
2
O
trong đó gồm 3 giống cỏ là B. decumbens, Setaria splendida, Panicum
maximum TD58, phân vô cơ N.P.K bón với tỷ lệ 160 : 80 : 80 kg/ha. Kết quả
cho thấy 3 giống cỏ trên đạt sản lượng cỏ tươi 15 - 19,7 tấn/ha/năm khi bón
10 tấn phân chuồng, nhưng khi bón 20 tấn phân chuồng/ha thì sản lượng đạt
là 75,2 - 94,7 tấn/ha/năm.
1.2.2. Mật độ trồng
Trong sản xuất để đạt được năng suất và chất lượng cao thì phải tìm
biện pháp để đạt được quần thể có kết cấu hợp lý mà tại đó, tích của các yếu
tố là cao nhất. Một trong những biện pháp quan trọng là bố trí quần thể hợp
lý, nó ảnh hưởng đến số nhánh tối đa, số nhánh hữu hiệu. Nếu mật độ thưa, số
nhánh / m
2
thấp gây lãng phí đất, năng suất cũng thấp. Nếu mật độ quá dầy,
ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng, ánh sáng, quần thể rậm rạp, dễ đổ sẽ dẫn
đến năng suất thấp. Theo Nguyễn Văn Quang (2002)[56] nghiên cứu mật độ
trồng cỏ giống TD 58 mật độ khóm cách khóm 50 x 50 cm sẽ đủ điều kiện ánh